VŨNG LẦY

THI VĂN CỘI NGUỒN

Chương 14

CÁI CHẾT CỦA MỘT CÁI RỄ


Mùa hè năm ấy là một mùa hè có cái nóng khủng khiếp, ở San Antonio có sáu người chết về cơn nóng, cùng với cái nóng là nạn thất nghiệp gia tăng cao ngang ngửa với thời Tổng Thống Roosevelt năm 1929. Cùng với cái nóng là thời của Tổng Thống Barack Obama, ông là vị Tổng Thống da đen đầu tiên của nước Mỹ đang rút tỉa ra được những gì mà Tổng Thống Franklin D. Roosevelt vượt qua khỏi được nạn suy thoái kinh tế và chiến thắng được trận chiến thế giới thứ hai. Đối với tôi những điều kể trên nó không quan trọng bằng những điều mà ông Rose kể cho tôi, ông là khách đến giặt quần áo ở tiệm của tôi hằng tuần, ông có cái đầu hói, trán bóng và da ngăm đen của miền biển Caribean, là một ngừơi Cu Ba tỵ nạn như tôi, vượt biên sang Mỹ bằng thuyền và là chủ nhiệm tạp chí chống cộng Cu Ba lưu vong. Hôm ấy trời nóng vào khoảng 102 độ, tôi đứng trong tiệm có máy lạnh thế mà chiếc áo T shirt tôi đang mặc, sau lưng tôi lúc nào cũng ẩm ướt, còn ông Rose thì hai má ông đỏ rực vì mới ở ngoài nắng vào, ông mang hai túi xách quần áo, cùng với mền. Sau khi bỏ chúng vào trong máy giặt xong ông đến gần tôi nói.

-“Chào anh bạn trẻ, có gì mới mẻ không?”

-“Không, chả có gì mới mẻ cả, chỉ có nóng thôi.”

Nói chuyện xong vài câu với tôi, ông đi chậm rãi đến nơi có dẫy ghế và ngồi xuống, đầu ông tựa ra sau thành ghế và mắt ông nhắm lại. Tiệm tôi lúc ấy vắng khách, tôi chỉ nghe tiếng máy giặt cùng với máy điều hoà không khí ù ù bên tai. Bỗng tôi nghe tiếng ông gọi.

-“Hank lại đây tôi cho anh xem cái này.”

Tôi đi lại chỗ ông thì thấy trên tay ông có cầm một tấm hình và ông đưa cho tôi xem.
Tôi thấy đó là một tấm hình đen trắng, nó đã ố màu thành màu xám nhạt, trong hình có hai người đàn ông thật trẻ mặc đồ trận, tôi nhận ra một trong hai người đó là ông, tôi chỉ hình người trẻ, tôi hỏi.

-“Ai vậy?”

Ông chậm rãi trả lời; “Một người bạn.”

Tôi tò mò hỏi tiếp: “Ông cho tôi xem tấm hình này để làm gì?”

-“ Tôi cho anh xem tấm hình này để cho anh biết rằng tại sao tôi lại về đây, một thành phố nhỏ, chỉ có người Mễ không có người Cu Ba.

Tôi hỏi tiếp: “Thế còn bạn ông đang ở đâu?”

Ông nhìn tôi cặp mắt thật buồn và nói.

-“Anh ta ở Cu Ba. Nếu anh rảnh, ngồi xuống đây tôi sẽ kể cho anh nghe câu chuyện về chúng tôi.”

Tôi nhìn xung quanh tiệm, bên ngoài thì trời nóng, một buổi trưa thật là oi ả, trên đường không có xe chạy và tôi nhìn về phía bên kia đường không có một bóng người, tôi trả lời ông. “Nếu vậy thì ông kể cho tôi nghe đi, nhưng khoan đã, hãy để tôi lấy cho ông chai nước lạnh nhé.”

Tôi không thấy ông trả lời gì cả, nhưng vẫn đi vào phía phòng trong, nơi tôi để cái tủ lạnh nhỏ lấy cho ông ta chai nước. Ông ngồi đấy, ngắm nghía tấm hình. Khi tôi đến gần đưa cho ông chai nước ông cầm lấy và nói.

-“Anh có còn nhớ vụ vịnh con Heo không?”

Tôi trả lời ông ta –“Có phải nó xảy ra vào năm 1960 không?”

-“Không, nó vào năm 1961, ngày 17 tháng 4, sở dĩ tôi biết rõ như vậy là vì tôi có tham dự vào việc đổ bộ lên vịnh con Heo. Thôi để tôi bắt đầu câu chuyện cho anh nghe. Sau khi Fidel Castro lật đổ chính phủ độc tài Fulgencio Batista thì ông ta áp dụng chính sách Cộng sản trên đầu dân chúng CuBa chúng tôi, nó giống như Hô Chi Minh mang Mácxist và Leninist  lên đất nước các anh vậy, dân chúng anh khổ như thế nào thì dân chúng tôi cũng thế. Cái cảm giác sợ hãi của dân chúng bị bắt bớ giam cầm từ thành thị đến thôn quê, xen lẫn với nạn đói thường xuyên khi bị mất mùa, vì đất nước chúng tôi hay có bão quanh năm. Tôi nghĩ tôi không thể nào sống dưới một chế độ khủng khiếp như vậy được, một chế độ khủng bố về mặt tinh thần cứ đến đêm thì nghe có tiếng công an nhân dân đi ruồng bố khám xét nhà dân. Vì thế tôi cùng một số các bạn trẻ khác cùng chí hướng tìm cách đóng thuyền vượt biên sang Mỹ.”

Tôi buộc miệng xen vào.

-“Có phải trong đó người bạn trong hình mà ông vừa mới đưa cho tôi xem phải không?”

-“Không! Tôi quen anh Cervantes trong trại huấn luyện của CIA, thôi để tôi kể tiếp cho anh nghe. Chúng tôi đợi vào tháng Năm hay tháng Sáu có gió đều, bầu trời trong xanh và chúng tôi vượt biên bằng chiếc thuyền mua được của một ngư phủ. Nước Mỹ và nước Cu Ba không xa nhau lắm, nhưng chúng tôi cũng phải mất ba tuần lễ đến được Miami.

Tình hình chính trị nước Mỹ vào thời ấy đối với những người tỵ nạn CuBa như chúng tôi vào được đất Mỹ không khó khăn như bây giờ mà trái lại chúng tôi dược báo chí Mỹ ca ngợi  như những người can đảm vượt biển, chúng tôi được đón tiếp nồng hậu bởi những quan chức Mỹ. Họ đưa chúng tôi vào bệnh viện khám sức khoẻ, một nhóm thuộc bộ xã hội và sở di trú đến gặp chúng tôi để làm giấy tờ hầu chúng tôi được hợp pháp sống trong nước Mỹ. Tôi còn nhớ là thời của Tổng Thống Kennedy vì có một nhóm CIA đến gặp chúng tôi qua sự thông dịch của một thông dịch viên vì lúc ấy chúng tôi chưa có người nào biết nói tiếng Anh. Tổng Thống Kennedy muốn nhờ chúng tôi làm việc với CIA, lúc ấy chúng tôi không biết là việc gì, sau này ở trại huấn luyện của CIA tôi mới biết là chính phủ Kennedy muốn lật đổ chế độ độc tài Fidel Castro. Trong trại huấn luyện tôi quen được Cervantes là một sinh viên du học thời Tổng Thống Batista, anh cho tôi biết anh cùng Fidel Castro học cùng trường ở Harvard bên Mỹ, nhưng anh và Fidel khác nhau về chính kiến nên hai người đi theo con đường khác  nhau. Anh cho biết  sau khi xem kỹ bài viết của Marx về Das Kapital, anh cho rằng Marx chỉ điền khuyết thêm vào những bài viết của Adam Smith để phê phán chủ nghĩa tư bản, chứ ông ta chẳng có tạo ra được những điều gì mới cả, mớ lý thuyết của ông chỉ làm bần cùng hoá nhân dân bằng cách là dân không được có quyền tư hữu. Sau sáu tháng huấn luyện trong trại của CIA, tôi và Cervantes được đi chung với nhóm đặc biệt của Mỹ gồm có khoảng một ngàn tám trăm người. Tất cả chúng tôi được đưa lên chiếc tuần dương hạm EXUSS và trực chỉ về hướng Nam Đại Tây dương. Nhiệm vụ của tôi và của Cervantes là khi đến nơi chúng tôi sẽ trà trộn vào dân chúng với công tác dân vận tuyên truyền và quan trọng là cùng với dân chúng làm một cuộc tổng nổi dậy chống chính quyền Fidel Castro và đương nhiên là chúng tôi sẽ được chính quyền Kennedy ủng hộ. Nhưng chúng tôi bị thất bại, tôi không hiểu sao giờ phút chót chính quyền Kennedy lại không giúp chúng tôi, trên không trung không có phi cơ yểm trợ, dưới đất không có súng nổ từ chiếc tuần dương hạm EXUSS và khi vào đến đất liền đó là “vịnh con heo” chúng tôi bị tóm trọn. Chúng tôi bị nhốt được khoảng sáu tháng thì chính quyền Kennedy thương lượng với chính quyền Fidel Castro trao trả tù binh, đổi lại chính quyền CuBa sẽ được viện trợ thuốc men, bột mì và năm mươi triệu mỹ kim vào thời ấy. Tôi được chính quyền Kennedy xác nhận là  công dân Mỹ còn Cervantes thì không phải là công dân Mỹ nên anh phải ở lại trong trại tù của Cu Ba. Mãi cho đến sau này chính phủ Barack Obama cho phép người dân CuBa được về thăm quyê hương, tôi có về thăm lại CuBa và cũng được gặp lại anh Cervantes. Anh được thả ra và sống ở Havana. Gặp lại anh, trông anh có vẻ gầy, và già vì hơn bốn mươi năm rồi còn gì nữa, nhưng tôi nhận ra cặp mắt anh vẫn còn trong sáng. Anh cho tôi biết rằng sau bao nhiêu năm bọn chúng vẫn chưa tẩy não được anh và một điều quan trọng nữa là những điều anh phán đoán khi xưa khi tôi quay trở lại CuBa dân chúng vẫn còn nghèo hơn thời Tổng Thống Batista. Đến ngày tôi trở về Mỹ anh hỏi email của tôi và nói rằng chúng tôi sẽ liên lạc với nhau bằng mail, sau đó anh đưa cho tôi cuốn sách viết về cuộc sống tù đày của anh ở trong tù. Về đến Mỹ tôi bận rộn với tờ báo nào là sự cạnh tranh với các báo khác, nào là bị đánh phá bởi những phần tử thân Fidel Castro, chúng viết bài đả kích cá nhân tôi nhận bài của những người chống đối trong nước in thành sách bán ra mà không trả cho họ đồng nào, những điều đó thật ra là không đúng bởi vì sách của họ bán ra không có ai mua, vì không có sự lôi cuốn. Nhưng sách của anh Cervantes bán chạy vì sách của anh diễn tả được sự đói khổ bệnh tật của những tù nhân chính trị dưới chế độ tù dày của chính quyền Fidel Castro, sách anh viết về người thật việc thật, nó không thua gì quyển “One day in the life of Ivan Dennisovich” của Aleksandr Solzhennitsyn, ông viết  một ngày trong đời của Ivan.  Tôi dùng tiền bán sách được của Cervantes để trả những khoản nợ mà tờ báo tôi điều hành bị thiếu hụt. Điều này tôi có cho anh Cervantes biết, anh email cho tôi biết là không sao cả, điều quan trọng là những lời nói của anh được mọi người biết và cuối câu có chữ “don’t worry”. Tôi không ngờ anh Cervantes lại có tính quân tử như vậy, nhưng những kẻ chống phá lại tôi khi chúng biết được sự việc như vậy, chúng lên mạng kể tội tôi là kẻ lường gạt, càng ngày tôi càng bị nhiều người xa lánh, tờ báo tôi điều hành không có người cộng tác cho nên tôi phải khai phá sản. Anh biết không, tôi là một nhà văn cần có chỗ để viết mà giờ đây tôi không có nơi để viết thì anh thử nghĩ như thế nào. Mặc dù anh Cervantes tha thứ cho tôi, nhưng chữ nghĩa của tôi nó không tha thứ cho tôi, vì mỗi lần tôi ngồi  trước computer chuẩn bị viết thì lại sực nghĩ đấn anh Cervantes đang đói khổ ở quê nhà”

Ông lấy tay chỉ về hướng có đám mây xanh ở phía xa tận chân trời và nói:

-“Đó là quê hương của tôi nơi có người bạn Cervantes của tôi đang sống cùng cực.

Nói đến đấy thì quần áo ông cũng đã giặt xong. Tôi hỏi ông có ý muốn sấy không thì ông lắc đầu. Tôi nhìn thấy ông bốc từng cái quần, cái áo trong máy giặt ra bỏ cả vào túi xách tay. Nhìn thấy ông từ từ lái xe đi, tôi cảm nhận ra được rằng sự lừa dối và nhận thức bị cô lập từ nơi bạn bè và sự trốn chạy của ông thì không bao lâu nữa ông sẽ trở thành một con người không còn hữu ích, hay nói một cách khác là không tồn tại, bởi vì con người có khả năng, có cái khát vọng và tài năng để đạt được cái ước mơ, cái lý tưởng của mình. Nghĩ đến ông tôi lại nghĩ đến bạn ông là Cervantes chắc là anh ta hạnh phúc hơn ông vì anh đã tha thứ cho ông, còn ông như là một cái rễ bị bứng ra khỏi đất, khô héo từng ngày theo thời gian.

P.V.Hùng.

***