SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
TUỔI TRẺ CỜ VÀNG
 
 


 


VŨNG LẦY

THI VĂN CỘI NGUỒN

Chương 13

Song Nhị "Ăn Cướp" Tim Óc
của Trần Khải Thanh Thủy


Chuyện Dài Chưa Chấm Dứt: Ông Song Nhị
"Ăn Cướp" Tim Óc của Trần Khải Thanh Thủy

Chuyện cơ sở Cội Nguồn "Ăn Cướp Cơm Tù" của nhà văn Trần Khải tưởng đã trôi vào dĩ vãng. Cái gì "kẻ đói khát" lỡ nuốt vô bụng coi như cho ăn mày. Cơ sở Cội Nguồn "bận đẩy tiếng nói dân chủ đi xa" nên không những quỵt tiền Trần Khải Thanh Thủy mà còn lường gạt tất cả mọi người ở hải ngoại.

Xin mời quý vị đọc thư mới nhất của ông Đỗ Bá Tân, chồng nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và bài viết của nhà thơ Như Hoa Lê QuangSinh.

Chào anh Như Hoa Lê Quang Sinh!

Vấn đề RMS tại Nam Cali, và dư luận xung quanh chuyện này, chắc anh cũng đã hiểu, thông qua một loạt bài đăng trên Take2 Tango hồi tháng 9/10/2007 chi đó! Bản thân tôi cũng bị "Lôi vào cuộc", không những thế; mẹ đẻ Thuỷ, dù già yếu (hơn 70 tuổi - tai ngễnh ngãng), cũng bị "quấy rầy"; phải trả lời điện thoại , rồi viết thư tay - scaned để xác minh đối chứng. (Thực sự khi ấy tôi vô cùng thất vọng trước sự việc). Và như anh đã thấy; Thuỷ đã viết bài 'Tôi là người giữa, Tôi chữa hai bên". Thì phần nào anh hiểu, Th là một người đàn bà yếu đuối, đang bệnh tật đầy người. mà đã kiềm chế mọi sự không hài lòng cho lắm về dư âm "Tiền bạc quanh vụ RMS", để nói lên những lời lẽ dịu dàng, ôn hoà không làm mếch lòng nhiều người, để tạo nên những ấn tượng, những hình ảnh đẹp đẽ, tự hào của "Dân cầm bút". Để cho yên
chuyện, để được nghỉ ngơi dưỡng bệnh, và sớm được hoà nhập với cuộc sống ồn ã, đang trở mình, báo hiệu một Niềm tin và hy vọng mới của thời đại, đang mở ra trước mắt..!

Nhưng nào đâu có được yên; lại bị lôi vào cuộc những chuyện không đâu. Bây giờ riêng cá nhân tôi chủ quan trả lời anh như sau:

1/ Thời gian RMS, như tôi đã nói ở trên, gia đình tôi, nhất là gia đình bà mẹ Thuỷ không nhận được bất cứ đồng tiền nào, gọi là tiền sách của Thuỷ, mà cụ đã phải viết thư tay để minh chứng sự thật mà CSCN nói với báo giới là đã gửi về cho mẹ Thuỷ (Tất cả những thư này, kẻ cả Email của tôi đã gưỉ cho chị BH - chắc chị còn giữ). Duy nhất tôi được chị BH gửi $800 tiền bán sách (đây là số sách của buổi RMS còn lại, BTC đã gửi lại chị BH),, và tôi nhớ có một lần nữa chị BH gửi cho tôi $200. (Chấm hết!)

2/ Việc trao dổi giữa ông SN và Thuỷ thì tôi không được biết, nhưng tôi có thừa nhận hôm vừa rồi, cách đây không lâu (03/03/2008), ông SN đã thực hiện lời hứa và đã gửi Thuỷ $2000. (Th đã trực tiếp đi lấy tại một địa chỉ ở HN, họ giới thiệu là người nhà của ông SN) Vậy thôi anh!

Trên đây tất cả là sự thật; như chị BH đã từng công khai minh chứng trên Dien dàn Take2 Tanggo.
Cám ơn sụ quan tâm của anh về vấn đề rất "Riêng tư"này!

Thân kính! Đỗ Bá Tân


Hành Trình Một Cụm Hoa
Đến Mỹ năm 1991 và định cư tại Garden Grove, California. Năm 1992, chúng tôi di chuyển đến thành phố Sacramento, thủ phủ tiểu bang Cali và tình cờ làm quen với nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương -tức Thái Luân trước năm 1975- trong thời gian học tại Sacramento City College. Trong một bữa cơm thân mật gia đình, anh Nguyễn Phúc Sông Hương đề nghị thành lập một hội thơ để anh em cùng sinh hoạt cho vui nơi đất khách quê người. Chúng tôi lại rủ thêm nhà thơ - nhà văn Nguyễn Lý Tưởng, Gs, cựu Dân biểu cùng tham gia. Thế là duyên văn nghệ đã dun dủi ba chúng tôi cùng đứng ra thành lập hội thơ lấy tên “Hội Nhà Thơ Tài Tử Việt Nam” do anh Nguyễn Phúc Sông Hương đề xướng. Sau đó chúng tôi viết thư mời gọi một số anh chị em quen biết đã từng làm thơ đăng báo hay in sách thơ như: Vũ Hối, Hà Ly Mạc, Lâm Thùy Giang, Nguyên Phương, Đăng Nguyên, Hoàng Thanh, Cao Phước, Trương Vấn, Từ Phong, Triệu Phong, Trọng Khanh, Xuân Chính, Ánh Việt, và Tô Như. Tất cả gồm 17 người. Tập thơ đầu tiên được xuất bản vào mùa Thu năm 1995 mang tên Cụm Hoa Tình Yêu (CHTY) tên này do chúng tôi (Lê Quang Sinh) cùng anh em đề nghị. Họa sĩ Vũ Hối sẵn sàng gởi bức tranh thiếu nữ và thư họa cho hình bìa. Mỗi năm xuất bản một tập CHTY được liên tục đánh số thứ tự và năm ấn hành. Và cuộc hành trình của các thi tập CHTY bắt đầu từ đây… Vạn sự khởi đầu nan ! Cái khó khăn không phải là vấn đề tài chánh mà là chuyên viên vi tính phụ trách đánh máy và trình bày tập thơ. May mắn có một thi hữu tình nguyện giúp miễn phí và lo chuyện in ấn. Tập thơ in ra trông rất đẹp nhờ hình bìa do họa sĩ Vũ Hối vẽ một cụm hoa lan nói lên ý nghĩa của chủ đề tập thơ. Đó là hình thức, nhưng nội dung thì đúng là “vạn sự khởi đầu nan”: có đến 30 lỗi chính tả và lỗi đánh máy được phát hiện. Lỗi nặng nhất là tựa đề của bài thơ “Con Bướm” vỏn vẹn có bốn câu đã hóa thành “Con Tằm”! Tác giả bài thơ kêu trời không thấu! Tuy nhiên, tập thơ quy tụ được mười bảy tác giả thuộc nhiều thành phần xã hội như: nghệ sĩ, nhà giáo, quân đội, công chức, thương gia, sinh viên với 150 bài thơ viết về tình yêu lứa đôi, quê hương, nỗi đau chiến tranh và hệ lụy của nó sau ngày 30 Tháng Tư, cùng những cảnh đời đen tối trong ngục tù cộng sản. Tập thơ nhỏ bé dày 172 trang đã được độc giả nhiệt tình hưởng ứng. Một độc giả ở Oakland, Cali viết thư về BBT tỏ ý khích lệ: “Việc thành lập một hội thơ lấy tên Tài Tử là một sáng kiến hay, người làm thơ “chuyên nghiệp” đã cạn ý hết lời, người làm thơ “tài tử” lâu lâu ngẫu hứng làm một bài với ý tưởng mới lạ. Tôi rất hoan nghênh việc làm của quý vị”. Và người bạn dễ thương này đã tham gia CHTY2-96 năm sau đó. Một độc giả yêu thơ khác ở thành phố Hayward, Cali, cũng rất thích cái tên sách “Cum Hoa Tình Yêu” và nội dung những bài thơ trong đó, anh đã là người góp bài đầu tiên cho tập thơ thứ hai, và đã giúp đánh máy, trình bày tập thơ CHTY2-96, cũng như đã yểm trợ tài chánh và nhiều công sức để thực hiện những Bản Tin, Giai Phẩm Mùa Thu, và CD nhạc phổ thơ CHTY trong những năm đầu làm bàn đạp cho sự phát triển của hội. Nhà thơ Cao Mỵ  Nhân sau khi đọc thi tập CHT 2-06 cũng đã bắt đầu tham gia CHTY3-97. Có người hỏi vì sao chị là một nhà thơ đã thành danh trước 75 mà chơi chi với Hội Thơ Tài Tử, Cao Mỵ Nhân trả lời vì tôi thích câu phương châm của hội này: “Ở đâu có người Việt, Ở đó có Cụm Hoa Tình Yêu”. Cụm Hoa Tình Yêu số 2 ra đời năm 1996 cũng vấp phải những lỗi chính tả và đánh máy. Lỗi nặng nhất là có một bài thơ thiếu mất một nửa, và có bài in đến hai lần. Khi ra mắt tập thơ thứ hai, người diễn ngâm bài thơ phải ngỡ ngàng khi tác giả bài thơ đang có mặt cho biết bài thơ thiếu mất hai đoạn. Chúng tôi xem lại trong các tập thơ khác thì thấy bài thơ không thiếu đoạn nào. Như vậy nó chỉ rơi vào tập thơ đang dùng để diễn ngâm và rơi đúng vào bài của tác giả đang có mặt trong buổi ra mắt. Thật là một chuyện hi hữu! Lần lượt mỗi năm hội thơ cho ấn hành CHTY với số thi hữu hưởng ứng mỗi ngày mỗi đông, từ tập 1-95 với 17 tác giả, đến tập 11-06 đã lên tới 168 tác giả. Mỗi hai năm hội xuất bản một tập thơ tam ngữ Việt-Anh-Pháp với sự cộïng tác của nhiều nhà thơ ngoại quốc như, Mỹ, Pháp, Tunisia, Congo, Peru…Trong quá trình thực hiện những thi tập nói trên, chúng tôi vẫn gặp những trở ngại khó khăn phải đối phó từ vấn đề hành chánh, kỷ thuật, biên tập, và những sóng gió đến từ bên ngoài. Những lỗi đánh máy sai đôi khi làm tác giả bất bình, một sự bất bình không hoàn toàn hóa giải hết được mặc dù chúng tôi thành khẩn giải thích và xin lỗi. Lỗi đánh máy sai như, “hôn hoàng” đánh thành “hoàng hôn”, không do người đánh máy cố ý sửa thơ tác giả, mà có lẽ do đánh máy theo trực giác, theo hoài niệm những chữ thông dụng, làm hỏng câu thơ, hỏng luôn cả bài thơ. Đến thi tập CHTY7-02 có bài thơ dài đến 4 trang, trước khi đem in dò lại bản sơ ấn thì đúng, nhưng khi in xong thì trang thứ ba lại nằm vào vị trí trang thứ hai. Rút kinh nghiệm, sau này chúng tôi in ra trên giấy, đọc kỹ rồi mới đem giao cho nhà in. Nói vậy thôi chứ việc đọc bản sơ ấn cũng không nhất thiết giúp kiểm soát được hết các lỗi đánh máy hay chính tả mà hầu hết nhà xuất bản nào cũng gặp phải. Chẳng hạn như Cơ Sở Cội Nguồn của hai nhà thơ -nhà văn -nhà báo Lão Trượng Song Nhị và Tầm Dương Diên Nghị xuất bản tập “Lưu Dân Thi Thoại” được quảng cáo trên báo là “một công trình 3 năm” nhưng vẫn bị lỗi đánh máy như thường. Lỗi đánh máy và lỗi chính tả thì không thể đổ cho nhà in được. Cụm Hoa Tình Yêu 4-99 mắc phải một lỗi lớn là có một tác giả đã góp in hai bài thơ lấy của hai tác giả khác. Ban biên tập khó mà nhớ hết thơ của những tác giả khác. Sự việc xảy ra được biết là do sự lầm lẫn của người bạn trung gian chuyển hộ thơ của tác giả đến BBT. Nội vụ đã được dàn xếp khi người trung gian nhận lỗi lầm sơ sót của mình và trực tiếp xin lỗi các tác giả. CHTY 7-02 cũng mắc phải một lỗi lầm như trên. Một anh chàng tuổi trẻ “vốn dòng hào kiệt” đã ẵm trọn bài thơ Huế của một nữ lưu đất thần kinh viết đã trên 30 năm! BBT không làm gì hơn là xin lỗi tác giả và đính chính sau đó. Cuổm thơ hay văn của người khác là điều đáng chê trách, trong giới cầm bút người ta gọi là “đạo văn”. Nhưng đạo văn còn châm chước được vì đó là cái tật thông thường của những người có đầu óc bệnh hoạn. Còn như những người tỵ nạn chính trị, vốn dĩ phải có lập trường chống cộng nghiêm chỉnh mà lại đi đăng tải trên sách báo do mình xuất bản những bài của cán bộ đảng viên cộng sản thì không được dư luận bỏ qua cho. Đó là trường hợp của Tạp chí Nguồn, số 1 do Cơ Sở Cội Nguồn chủ trương (nhà thơ Trần Anh Lan làm Chủ nhiệm). Trường hợp này do nhà thơ Lê Nguyễn, một cộng tác viên của “Nguồn” tiết lộ trong Thư Ngõ gởi nhà văn Bích Huyền và nghệ sĩ Việt Dũng trên Diễn đàn Take2Tango. Và đây cũng là lý do để nhà thơ Lê Nguyễn phản đối quyết liệt nhà thơ Song Nhị và rút khỏi tạp chí Nguồn đã ba năm nay. Một vụ cầm nhầm thơ của người khác để đăng trên CHTY đã được nhà thơ -nhà văn -nhà báo Lão Trượng Song Nhị phanh phui và đưa lên báo Tinh Hoa của Mạc Ly Hương ở Minnesota (số 8, Thu 2001) qua bài “Thơ Sửa, Thơ Cuỗm” ký bút hiệu Lão Trượng (trang 186-189). Lão Trượng chỉ trích, chê bai những người mới tập làm thơ đi nhờ người sửa dùm (có người phải chi tiền) để được in sách mà trở thành “nữ sĩ”, ”thi sĩ”. Người chịu sửa thơ dùm không ai khác hơn là Cụ Trình Xuyên (theo Lão Trượng tiết lộ). Lão Trượng còn tố cáo thẳng thừng một anh chàng ở bên Tây lấy thơ của Sương Mai và Lưu Trần Nguyễn đăng trong CHTY. Nghĩ cũng lạ thật, chính người bị đánh cắp thơ đã thông cảm bỏ qua, nhưng Lão Trượng lại nóng mặt - kiểu “ăn cơm nhà vác ngà voi” dùm thiên hạ! Lão Trượng còn tố cáo luôn một người khác: “Mới đây “CHTY” in lần thứ sáu lại nghe có người gọi nhắn tin là có bài thơ của nhà thơ Trần Dạ Từ bị ai đó cuỗm đem in vào “cụm…”. Lão tôi chưa có tài liệu cụ thể trong tay nhưng người nhắn tin cam kết là bài thơ của nhà họ Trần bị “cầm nhầm” chứ không phải in nhầm hay đọc nhầm! Than ôi ! Cái danh nhà
thơ, thi sĩ coi vậy mà quý “quá trời”, quý đến độ người ta hy sinh cả cái nhân cách, liêm sĩ để “mượn đỡ” thơ người làm thơ mình, và cứ tưởng chỉ có mình biết mà không ai hay” (Ngưng trích).

Đọc kỹ đoạn nói về người cuỗm thơ của Trần Dạ Từ mới thấy Lão Trượng ăn nói quá hồ đồ. Tố cáo người khác một việc mà chính mình không nắm chắc được dữ kiện, không có bằng chứng cụ thể trong tay, mới nghe người ta nói lại và cam kết bằng mồm đã vội cho là chuyện có thật. Lão Trượng không biết rõ tên người cuỗm thơ là ai, tựa đề bài thơ là gì, ăn cắp một chữ, một câu, một đoạn hay toàn bài. Xin mời quý vị xem hai bài thơ tựa đề “Nụ Hôn Đầu” của Trần Dạ Từ và  Phạm Hồng Đậm: -“Lần đầu ta ghé môi hôn Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang Vườn xanh, cỏ biếc, trưa vàng Nghìn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông Trên môi ta, vạn đóa hồng Hôn em trời đất một lòng chứa chan Tiếng cười đâu đó ròn tan Nụ hôn ngày đó miên man một đời Hôm nay chợt nhớ thương người Tiếng ve mùa cũ rụng rời vai anh Trưa vàng, cỏ biếc, vườn xanh Môi ai chín đỏ đầu cành phượng xưa” Trần Dạ Từ. (Bút Việt News Dallas -Thứ Sáu 2-7-06 –Số 1300). “Lần đầu ta ghé môi hôn Con bươm bướm nhỏ hết hồn vội bay Bướm bay về phía trời Tây Bên Đông ta hóa kiếp thay bướm vàng Con bướm xa con bướm gần Nghe thiên thu đọng trong lần hôn… hoa” Phạm Hồng Đậm. (CHTY6-00, trang 391)”. PHĐ chỉ lấy câu đầu và ý thơ câu thứ hai để gây cảm hứng cho bài viết của mình chứ đâu cuỗm trọn cả bài như lời tố cáo của Lão Trượng. Ngày nay trong giới cầm bút thiếu chi người thường trích một hay hai câu thơ của người khác đểû khởi động cảm xúc của mình; câu thơ được đóng khung trong dấu ngoặc kép hoặc có khi không cần, vì lẽ câu thơ từng phổ biến rộng rãi trong nhân gian nên được coi như “ca dao”. Ngày xưa Cụ Nguyễn Du cũng đã làm như vậy trong Đoạn Trường Tân Thanh: “Trước sau nào thấy bóng người, hoa đào năm ngoái còn cười gió Đông”. Ai cũng biết là Cụ Nguyễn Du đã rút gọn bài Tứ Tuyệt của Thôi Hộ đời Đường bên Tàu: “Khứ niên kim nhật thử môn trung Nhân diện đào hoa tương ánh hồng Nhân diện bất tri hà xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu Đông phong”. Đã gần hai trăm năm nay chưa thấy ai trách móc phàn nàn chi Cụ Nguyễn Du mình về trường hợp “đạo văn” giữa ban ngày ban mặt này, ngược lại người ta còn khen Cụ dịch ra thơ Việt hay quá là hay! Ông Lão Trượng Song Nhị nghĩ sao về trường hợp này? Mặt khác, ông Lão Trượng đã cáo buộc người cuỗm thơ trong khi chưa nắm được tài liệu trong tay như ông đã nói. Giả sử có người bảo rằng: “Tôi nghe người ta nói hình như nhà thơ Song Nhị ăn cắp thơ của Nhà thơ Hà Nguyên Du đăng vào Lưu Dân…” thì ông Lão Trượng nghĩ sao? Sau khi được biết sự việc xảy ra, Nhà thơ Nguyễn Lý Tưởng (CHTY) đến hỏi ý kiến nhà thơ Trần Dạ Từ, ông Từ cười vui chẳng có điều gì phiền trách cả. Câu chuyện xảy ra đã 6 năm nay (2001), chúng tôi chưa bao giờ lên tiếng để trả lời ông Lão Trượng, chắc ông ấy nghĩ rằng ông đã làm một việc đúng với lương tâm và có ích lợi cho văn học hải ngoại do Cơ Sở Cội Nguồn mà ông làm Trưởng Sở! Sinh hoạt Hội Thơ Tài Tử VNHN ngày càng tiến triển nhờ sự tham gia đông đảo của anh chị em thi hữu trên 30 tiểu bang Hoa kỳ và nhiều nước khác trên thế giới như Pháp, Đức, Na Uy, Thụy Sĩ, Hòa Lan, Bỉ, Hung Gia Lợi, Ukraine, Canada, Úc, Việt Nam. Ngoài ra có một số nhà thơ người ngoại quốc như Mỹ, Mễ, Pháp, Tunisia, Congo, Peru cũng tham gia trong thi tập tam ngữ Việt-Anh-Pháp xuất bản hai năm một lần. Do nhu cầu phát triển đòi hỏi, hội thơ đã đổi lại danh xưng là Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại bao gồm nhiều nước ngoài Hoa Kỳ. Vì có một số nhà thơ nước ngoài tham gia nên hội phải lấy tên tiếng Anh là: Vietnamese International Poetry Society. Vì cái danh xưng “Quốc Tế-International” này mà ông Tầm Dương tức nhà thơ -nhà văn -nhà báo Diên Nghị chế giễu trên mục “Diễn Đàn Chữ Nghĩa” do Cơ Sở Cội Nguồn phụ trách dưới nhan đề: “Sĩ và Sư quý ngài là ai ?”. Nội dung bài báo châm biếm, chế giễu những nhà thơ tự xưng mình là Nữ sĩ (chỉ mấy bà làm thơ, viết văn), thi họa sĩ, bác sĩ thi ca nhạc sĩ v.v…Về chữ “Sư” bài viết cho rằng có người chưa có bằng Đại Học, nhưng khi viết báo hay in thiệp thì ghi thêm học vị giáo sư, kỹ sư để lòe thiên hạ. Bài báo kết luận bằng những lời bôi bác chế nhạo một số tổ chức và cá nhân. Chúng tôi đã gián tiếp trả lời ông Tầm Dương qua bài báo “Đôi Dòng Tâm Tình Kính Gởi Quý Văn Thi Hữu và Bạn Đọc” đăng trong Tiếng Vang của nhà văn Trần Văn Ngà Sacramento, số 86 ngày 16-30 June 2003, và bài “ Người Thơ và Hội Thơ” của Nhà thơ Nguyễn Huệ Nhật (Berlin) được đăng trên tờ Trống Đồng, Nam Cali. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ xin trích đoạn kết trong bài của ông Tầm Dương để độc giả “thưởng lãm”: “Những dương danh rỗng tuếch như “Thi sĩ Quốc tế”, như “Vietnamese International Poetry Society”, như “Hội văn nghệ sĩ toàn cầu”, như “Thi đàn vũ trụ”, như “nữ sĩ hành tinh”, như “Bác sĩ ca nhạc sĩ”, trên trang bìa báo xuân To và Day (chữ của Ký Còm), v.v… chỉ làm cho người đọc chóa mắt vì… hoang mang trước thực trạng chân giả loạn đả !! ” “Sử dụng danh từ dao to búa lớn, chủ yếu làm vừa lòng, vừa mặt nhau, thực tế không mảy may mang lại ý nghĩa nào giữa thị trường chữ nghĩa, mà còn coi thường sự quan tâm của quần chúng, có khi chỉ biểu lộ vai hề diễu dở, cường điệu vô duyên”. Tầm Dương . Hôm nay chúng tôi muốn góp ý thêm với ông Tầm Dương về danh từ “Thi sĩ Quốc tế” mà ông đem ra để châm biếm và chế diễu. Trước hết, chúng tôi dùng nhóm chữ “ Hội Thơ Quốc tế- International Poetry Society” chớ không phải “Hội Thi sĩ Quốc tế – International Poets Society” như ông Tầm Dương lầm tưởng. Thứ nữa, có lần ông tự khoe mình là người “cầm cân nẩy mực”, thế mà ông lại hiểu lệch lạc từ “International - Quốc tế” là “ghê gớm” lắm nên ông cho rằng ai sử dụng nó đều là những người thích huyênh hoang, khoe khoang, phô trương để lòe thiên hạ. Thực tế nó chỉ là một danh từ rất thông dụng khi nói đến sự liên hệ giữa hai hoặc nhiều nước với nhau. Tự điển Oxford American Dictionary định nghĩa: “International adj. of or existing or agreed between two or more countries”. Tự điển Anh Việt, Viện Ngôn Ngữ Học: “về, được thực hiện bởi hoặc đang tồn tại giữa hai hoặc nhiều quốc gia; quốc tế: an international call: một cú gọi điện thoại quốc tế”. Vậy một hội thơ với nhiều nhà thơ ngoại quốc thuộc nhiều quốc gia khác nhau góp mặt như Pháp, Mỹ, Mễ, Tunisia, Congo, Peru cũng xứng đáng được gọi là một Hội Thơ Quốc Tế lắm chứ. Ông Tầm Dương là người phụ trách mục ”Diễn Đàn Chữ Nghĩa” trên một tờ báo lớn ở Bắc Cali, nhất định ông phải rành “chữ nghĩa” lắm, nếu chúng tôi có nói gì sai, xin ông miễn thứ cho. Trong bài “Chạm Nọc” đăng trên tờ Thời Báo số 3557 tháng 5-2003, ông Tầm Dương lại thi thố tài năng chữ nghĩa của mình trên mục “Diễn Đàn Chữ Nghĩa”. Ông nói: “Nếu một mai có quý thi sĩ Đan Mạch, Tàu, Congo, Nam Phi, El Salvador cung cấp thơ vào chung một tập thì sẽ phải là “siêu quốc tế”, đồng nghĩa với vũ trụ, hành tinh, có gì sai ?!”. Tháng 8 năm 2004, chúng tôi xuất bản tập thơ Tam Ngữ Việt-Anh-Pháp -Flowers of Love 4-04 và ra mắt trong Kỳ Đại Hội Thơ Quốc Tế ở Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 10-04. Trong tập thơ này có hai nhà thơ người xứ Congo, Bắc Phi Châu tham gia: Martial Sinda, trang 087-093; Thierry Sinda, trang 135-145. Chúng tôi có ký tặng ông Tầm Dương tập thơ này để cám ơn ông về lời “chúc” tốt đẹp của ông nhưng không thấy ông trả lời có nhận được hay không. Ngoài việc xuất bản tập thơ CHTY và tam ngữ Flowers of Love, hội thơ còn tổ chức những giải thi thơ trong dịp Tết Nguyên Đán dành cho thanh thiếu niên VN để bảo vệ ngôn ngữ Việt và phát huy tài năng thi ca trong giới trẻ vào những năm 1998, 2002, và 2003. Năm 2002, Giải nhất $500 đã về tay em Nguyên Thơ, 16 tuổi ở Georgia, với bài “Cuộc Đào Xới” đưọc Đài BBC phỏng vấn và giới thiệu bài thơ trên đài Việt ngữ. Nhân tiện nói đến thi thơ, chúng tôi xin phép nhắc lại “Giai Thoại Cát Đỏ”. Cát Đỏ là bài thơ của Vũ Đức Tô Châu ở Saigon, đoạt Giải Nhất thi thơ $300. do Cơ Sở Cội Nguồn tổ chức dịp Tết Mậu Dần, 1998. Bài thơ “Cát Đỏ”  viết từ năm 1990 được anh Vũ Đức Tô Châu gởi đến hội thơ năm 1996 với bản dịch Anh-Pháp ngữ của nhà thơ Đoàn Nam Nhân. Chúng tôi gác lại bài Cát Đỏ và không đăng vào thi tập CHTY bởi lẽ không hiểu ý tác giả muốn gởi gắm điều gì trong đó mặc dù tác giả đã sử dụng ngôn từ và cấu trúc khá hay qua thể thơ tự do. Hơn nữa từ “Đỏ” sẽ gợi cho độc giả cái ý nghĩa dễ hiểu lầm là “Cộng sản”. Sau khi tin bài thơ đoạt giải nhất được phổ biến trên báo chí, trái bom “Cát Đỏ” đã nổ bùng ở San Jose bắt đầu từ bài viết “CÁT ĐỎ …MƠ SÔNG HỒNG” của Lão Móc đăng trên Việt Nam Nhật Báo của Chủ nhiệm Quỳnh Thi, số 2976 Thứ tư 18-03-1998. trang 17, trong mục THIÊN HẠ PHONG TRẦN. Sự cố rắc rối đã xãy ra cũng bởi mấy chữ “Cát Đỏ”-“Sông Hồng” và tạo ra sự mất lòng giữa nhà thơ Hà Thượng Nhân và nhà thơ Diên Nghị đồng thời kéo theo sự “tham chiến” của Ông Võ Văn Sĩ (Cựu Thiếu tá Công binh) trên tờ Đại Nghĩa, số 04/98 Tháng 4 năm 1998, trang 2, trong “Lá Thư Không Niêm” kính gởi Anh Dương Diên Nghị, Trung Tá CTCT/QLVNCH. Theo Lão Móc thì bài thơ này được đăng trong một bài tường thuật trên tờ Thời Báo số 2211 ngày 15-02-98. Bài tường thuật của Diên Nghị có đoạn viết: “Trong một chừng mực nào đó, khi đọc bài thơ “Cát Đỏ” có thể xem tác giả là một nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thứ hai (sic!)”. Bài báo viết tiếp: “Trong buổi hội thảo ngày 21-02-98 do Ban Đại Diện Cộng Đồng tổ chức, ông Lê Văn Sắc đã lên tiếng tố cáo “tờ Thời Báo bênh vực Thúy Nga và mới đây lại đăng bài Cát Đỏ của tác giả Vũ Đức Tô Châu mà trong đó đã đề cao hạt cát đỏ…là một tác phẩm tuyên truyền cho cộng sản…”. Tờ Tin Việt số ra ngày Thứ Năm 05-03-98 ở trang 12 có in tựa lớn : “Người tố cáo bài thơ “Cát Đỏ” là bài thơ tuyên truyền cho Cộng sản là không có: “yếu tố, khả năng, trình độ” hay vì đầu óc bệnh hoạn”. Để xem bài thơ Cát Đỏ có mang nội dung chống cộng hay không, xin hãy nghe nhà văn nhà thơ -nhà báo Lão Trượng Song Nhị, Trưởng Cơ Sở Cội Nguồn (một trong năm vị giám khảo) trả lời khi được báo Tin Việt yêu cầu cho biết rõ về nội dung bài thơ Cát Đỏ. Câu hỏi được trả lời như sau: “Trường hợp bài Cát Đỏ, không phải riêng tôi mà các vị trong ban Tuyển Định đều đồng ý với nhau rằng đó là một bài thơ có nhiều ẩn dụ thâm trầm, có lẽ tại vì tác giả vừa viết, vừa canh chừng…”. Bài báo viết tiếp: “Đại khái là ông giám khảo Song Nhị bảo rằng đa số các vị giám khảo đều cho rằng bài thơ “chuyên chở một nội dung thâm sâu” và được bốn trong năm vị giám khảo cho số điểm cao nhất. Bốn vị đó là ba ông Hà Thượng Nhân, Diên Nghị, Song Nhị, và bà Vi Khuê”. Lão Móc đọc đi đọc lại hoài mà chẳng tìm ra được cái nội dung rất “thâm sâu” của bài thơ Cát Đỏ…mơ Sông Hồng”. Một bên (Lão Móc) dựa vào bốn chữ Cát Đỏ-Sông Hồng để nói rằng bài thơ nhuộm “đỏ” mang tính tuyên truyền cho Cộng sản. Một bên (ban giám khảo) thì cho là bài thơ rất hay mang tính chống cộng cao và đã ví Vũ Đức Tô Châu là Nguyễn Chí Thiện số 2. Nhà thơ -nhà văn -nhà báo Lão Trượng Song Nhị là người đứng ra tổ chức cuộc thi thơ dưới danh nghĩa Cơ Sơ Cội Nguồn và là giám khảo chấm thi, đã không trả lời đúng trọng tâm câu hỏi về nội dung bài thơ, ông chỉ nói đó là một bài thơ có “ẩn dụ thâm trầm sâu sắc”. Đáng lẽ ông phải giải thích cho độc giả hiểu giá trị của bài thơ về phương diện chống cộng như thế nào, nội dung có nhiều ẩn dụ thâm sâu ở chỗ nào, ý thơ, cấu trúc ngôn từ ra sao, đằng này ông chỉ nói một cách mơ hồ như vậy thì ai mà hiểu nổi. Câu chuyện “Cát Đỏ” chưa ngưng ở đây. Trong tờ Chánh Đạo số 281 Thứ bảy 21-03-98, nhà thơ Hà Thượng Nhân viết thư gởi Ông Trường Giang để cải chính rằng ông không phải là Chủ tịch ban giám khảo, cũng không hề làm giám khảo như Cơ Sở Cội Nguồn loan báo. Đại ý bức thư (đề ngày 5-3-98) nói rằng nhà thơ Diên Nghị có mời nhà thơ Hà Thượng Nhân đứng tên trong BGK -Hội Đồng chấm thi của Cơ Sở Cội Nguồn nhưng ông từ chối, lấy cớ già yếu, lại không có phương tiện di chuyển. Khi đọc kết quả chấm thi trên báo Tin Việt thấy có tên mình trong BGK, ông rất ngạc nhiên. Ông nói vì anh em thương tôi già, để tên tôi làm vì thế thôi. Sự việc này đã làm mất hòa khí giữa nhà thơ Hà Thượng Nhân và nhà thơ Diên Nghị. Nhà thơ Vũ Đức Tô Châu ở Saigon có biên thư gởi chúng tôi đề ngày 2-10-99 cho biết rằng thật sự anh không có gởi bài Cát Đỏ đi dự thi, đó chỉ là do mấy người bạn thơ quý mến anh nên đã lấy thơ anh gởi đi thôi. Anh VĐTC cũng tỏ ý rất buồn khi đọc đến chữ “Sông Hồng” (bản chính của tác giả viết là “Sông Hằng”), không biết vì vô tình hay cố ý báo đã sửa lại là “Sông Hồng” làm bài thơ mất đi ý nghĩa đích thực của nó). Anh nói: “Mặc dù được giải nhất nhưng “ngắn cổ kêu không thấu trời…”. Vì hai chữ “Đỏ” và “Hồng” ác nghiệt đã làm hao tổn giấy mực và tâm trí của nhiều người. Tờ Đại Nghĩa Bộ Mới, số 04/98 đăng lá Thư Không Niêm của Ông Võ Văn Sĩ , Cựu Thiếu Tá Công Binh QLVNCH kính gởi Anh Dương Diên Nghị, Trung Tá CTCT/QLVNCH. Sau khi nhắc lại những ngày tháng gian khổ cùng trong một trại tù cộng sản ở Yên Bái-Hoàng Liên Sơn, ông Võ Văn Sĩ trách Nhà thơ Diên Nghị đã có hành động dùng truyền thông báo chí, dùng chiêu bài làm văn hóa văn nghệ để tuyên truyền cho Cộng sản nên đã bị công luận lên án. Lẽ ra nhà thơ Diên Nghị nên nhìn nhận sự lầm lẫn của mình để sửa chữa, nhưng ngược lại ông Diên Nghị còn lớn tiếng thóa mạ những người cùng chung chiến tuyến bằng những thậm từ, nào là “lũ cuồng nộ, lũ cuồng tín, những thằng ngu, những bọn khùng điên, kẻ thất học, v.v…”, và tự ví mình với nhà triết học Bruno của thế kỷ 16, để gọi những người phê phán ông là những kẻ tôn thờ cuồng tín, “Thế kỷ 20 đếm bước cuối cùng Có những kẻ tôn thờ cuồng tín” (theo bài thơ “Chân Lý” của Diên Nghị). Ra mắt sách (RMS) là một trong những sinh hoạt “mặt nổi” của mọi hội đoàn thơ văn. CHTY 1-95 từ Sacramento, Cali đến ra mắt lần đầu tại New Jersey -New York chung với những họa phẩm và thư họa của thi họa sĩ Vũ Hối đến từ Maryland, vào đầu tháng 8-1995 tại nhà hàng Miss Saigon, với khoảng 250 quan khách tham dự. Tổ chức ra mắt sách có nhiều mục đích, trước là để bán sách gây quỹ cho hội nhà, hoặc gây quỹ từ thiện, kế đó là để nói lên hoạt động của hội mình và làm quen với giới văn nghệ sĩ để họ tham gia và phát triển hội. Mặc dù quan khách tham dự đông đủ nhưng buổi ra mắt sách không được như ý muốn. Số sách mang đi để
giới thiệu bị bỏ quên ở nhà tại Virginia khi sang xe khác. Thứ nữa quan khách nói chuyện quá ồn ào làm thuyết trình viên không thể truyền đạt được gì. Tuy nhiên nhờ chuyến đi xa này mà nhiều thi hữu địa phương có dịp làm quen và góp mặt trong CHTY 2-96. Ngoài việc tổ chức RMS của hội, chúng tôi cũng có nhiều lần tham dự RMS của các Hội Thơ Văn bạn, ở San Jose do Cơ Sở Cội Nguồn, hay Thi Đàn LạcViệt tổ chức, ở thành phố Houston thì do nhóm Bụi Vàng tổ chức. Đặc biệt buổi tổ chức tiệc mừng “Năm Năm Văn Học Cội Nguồn” đã gây ấn tượng mạnh đối với cử tọa tại Nhà hàng Flourishing Garden đường Monterey. Những nhân vật được mời lên máy vi âm phát biểu là các nhà thơ, nhà văn Ngô Đức Diễm, Song Nhị, Hà Thượng Nhân, Bác sĩ Lê Phương Thúy, Thanh Thương Hoàng, và Trần Kiêm Đoàn. Trong lúc diễn giả thuyết trình, cử tọa nói chuyện riêng ồn ào xen lẫn tiếng khua leng keng của ly, chén, muỗng, nĩa. Hiện tượng này rất thường xảy ra trong các buổi RMS của người Việt mình, và hội thơ chúng tôi cũng đã trải qua kinh nghiệm đó trong buổi RMS ở New Jersey năm 1995 được nói ở phần trên. Giữa không khí ồn ào nói trên, bất ngờ ông Sao Biển, một người thân cận với Cơ Sở Cội Nguồn nhưng không ở trong ban tổ chức, lên sân khấu phát biểu cảm tưởng. Nhưng ông lại không đề cập chi đến buổi tiệc mừng “Năm Năm Văn Học Cội Nguồn” thành công cả mà lại đem câu chuyện “Cát Đỏ” ra để phê phán Cơ Sở Cội Nguồn làm văn nghệ tuyên truyền cho Cộng sản. Thế là buổi sinh hoạt văn nghệ vốn đã ồn ào lại trở nên xáo trộn hơn. MC Nguyên Phương không tài nào ổn định được trật tự vì lúc này tình hình quá gây cấn. Ông Song Nhị vội vàng lên tiếng nhưng tiếng nói của ông bị khỏa lấp bởi những tiếng nói khác. Ông Ngô Đức Diễm đành xin lỗi mọi người và tuyên bố chấm dứt buổi sinh hoạt. Nữ sĩ Vi Khuê lên nói mấy lời trong khi bà con lục tục ra về. Sau này gặp lại Sao Biển trong dịp ông làm MC cho buổi ra mắt tập thơ “Tình Đầu” của Ca sĩ Thanh Lan tại Milpitas (có sự hiện diện của Nghệ sĩ Nam Lộc, nhà văn Nhật Thịnh, nhà thơ Lê Trọng Nghĩa, nhà thơ Tina Thanh Hương đến từ Sacramento, và anh Ngô Cẩm Đại, Trưởng Ban Tổ Chức), chúng tôi hỏi đùa ông Sao Biển: “ Nè, hôm văn nghệ Cội Nguồn, bạn ta “khùng điên mát dây điện” hay sao mà lên Micro nói chuyện “Cát Hồng Cát Đỏ” làm khán giả bỏ về nửa chừng vậy ?”. Sao Biển chỉ cười thôi! Bà con bảo, đúng là “mưu sự tại nhân thành sự tại thiên!” Tiếp đến là buổi ra mắt tập thơ Lưu Dân Thi Thoại ngày 11 tháng 5 năm 2003 cũng gây nhiều chú ý của giới văn nghệ và báo chí, kể cả trong nước. Rất tiếc chúng tôi không nhận được giấy mời tham dự như lần “Kỷ Niệm Năm Năm Văn Học Cội Nguồn” (cháu Trang, con gái chúng tôi có nhận được). Nhưng do nghe nói lại và đọc những bài tường thuật trên báo chí cùng email từ Saigon, chúng tôi cũng biết qua phần nào về buổi sinh hoạt quan trọng này. Trong bài “Đời là một màu hồng” (Việt Mercury số 225, 16 tháng 5 năm 2003, trang 6B, đề mục ”Lưu Dân Thi Thoại”), nhà báo Lâm Văn Sang cho biết ngoài cái tựa Lưu Dân Thi Thoại lắm người phải đặt câu hỏi, hàng tiểu đề “Bút Luận 25 năm thơ hải ngoại” cũng gây nhiều thắc mắc. Nhà thơ -nhà văn -nhà báo Lão Trượng Song Nhị, Trưởng CSCN giải thích: “Lưu Dân” chỉ toàn thể người Việt sống lưu lạc mà không phải chỉ riêng nhà thơ hay thi sĩ” (khi nói nhà thơ hay thi sĩ, ông Song Nhị có ý muốn phân biệt nhà thơ với thi sĩ) và “Thi thoại đơn giản là quyển sách bình luận về thơ văn hoặc viết về những người làm thơ”. Nữ sĩ Vi Khuê thì giải thích khác đi: “ Lưu Dân Thi Thoại là câu chuyện về thơ của người lưu vong”. Nhà văn Tiến sĩ Trần Kiêm Đoàn là người giới thiệu tác phẩm LDTT. Ông đặt câu hỏi là họ lựa chọn thơ theo tiêu chuẩn nào, rồi ông đọc một đoạn viết trong bài tổng luận của LDTT: “Thơ phải sáng lạng, phải có khí lực, phải có tác dụng “thăng hoa”, hướng tới cứu cánh chân thiện mỹ, thơ phục vụ nhân sinh, hướng thiện…”. Nói về thơ “sáng lạng” tức là đối nghịch với thơ “tối nghĩa” bài tổng luận của LDTT đã đề cập tới như sau: “Một khuynh hướng khác có tính thời thượng, được một số tờ báo và tạp chí hỗ trợ bằng cách ưu tiên đăng tải, đó là loại thơ tối nghĩa. Ngôn ngữ của loại thơ này có tính cách “siêu phàm” xa lạ. Người đọc không thể hiểu được ý nghĩa của bài thơ. Có người cho rằng đây là một cách phô trương kiến thức (rỗng) và chữ nghĩa (mù mờ) mà có thể ngay cả tác giả cũng không biết mình đang nói gì”. Xin hỏi bài “Cát Đỏ” giải nhất thi thơ và bài “Tay Vịn” trong LDTT có phải là những bài thơ “sáng lạng” không ? Bài báo của Lâm Văn Sang có đoạn viết: “Ngay trong phần Tổng Luận, người ta có thể nhìn thấy sự chật chội của “hành lang” này (hành lang sinh hoạt văn hóa). Mọi thể loại “thơ tự do, thơ phá thể, thơ không vần, thơ xuôi” đều được (chủ quan) coi như “không được giới đọc (sic) giả yêu thơ mặn nồng đón nhận, thậm chí không được quan tâm” đã bị loại ra khỏi chiếu LDTT. Ai có thể nói được chỉ có LDTT mới mang lại “những tác phẩm khả dĩ tồn tại với thời gian ngoài hai ông Song Nhị và Diên Nghị”. Diễn giả Trần Kiêm Đoàn đã trích lời nhắn nhủ của Joseph Brodsky (Nobel 1987) cũng là một nhà văn lưu vong: “Hãy hạ thấp lòng kiêu hãnh của ta xuống, nên biết, ta chỉ là một hột cát trong sa mạc. Đừng mang cái ta ra chống lại những người cầm bút bạn mà nên chống lại tính bất tận nhân bản, và phi nhân bản”. Ở Dallas chúng tôi đọc được bài viết “Chuyện Trong Làng” của Thư Sinh trong tờ Bút Việt (số 963 Thứ Tư 21 tháng 5 năm 2003) có đề cập đến cuốn sách LDTT. Thư Sinh viết: “Qua những lời được gọi là Tổng Luận, thì công việc lựa thơ của hai ông Diên Nghị và Song Nhị cũng khá vất vả. Nhưng chính vì sự vất vả quá ư cẩn thận, hai ông hầu như đã tránh được cái lệ “so le” mà một số các nhà thơ đã từng phạm phải khi góp gạo thổi cơm chung, qua những tuyển tập dày không kém chi tự điển “La Rút”. Vì đúng như hai ông đã nhận xét: “Tình trạng xuất bản thơ, in thơ tại hải ngoại có lúc gần như là một phong trào. Nhiều tập thơ được sáng tác, in ra vội vã, chứa đựng một nội dung hoặc tẻ nhạt vô bổ, hoặc thù tạc tình cảm riêng tư, không nói lên được điều gì bổ ích (cho văn học hay làm đẹp (cho văn chương). (LDTT trang 11). Và tác giả Thư Sinh muốn biết trong LDTT có so le hay không, ông bèn bói Kiều một quẻ thì gặp bài thơ “Tay Vịn” của thi sĩ Phương Triều: “Chỗ ngồi thiếu giữa dư bên Chỗ đi tay vịn còn quên níu người! Nên chi bước hụt chân đời Kéo lê mỏi mệt đệm lời kêu rêu Ta lòng chẳng được bao nhiêu Thì thôi bất quá còn ngêu ngao buồn! Đâm ngang không chỉ một xuồng Nên chi đò dọc đi luôn không về Miếng trầu chi đã phu thê Thêm chi thuốc xỉa cho trề miệng nhau? Có dư cũng chẳng cắc nào Bỏ vô ống để sang giàu được nhiêu ? Thì ra đã nói hơi nhiều Hay như tiện dịp nhắc điều đã quên?” Và ông Thư Sinh kết thúc: “Thơ ông Phương Triều không “vịn” vào thơ ai đâu. Thơ ông ấy hay đấy -phải không bạn ! Trong buổi ra mắt LDTT (tạp chí Hồn Quê số 38 ngày 1-15/06/2003) ông Song Nhị có nói đây là một công trình 3 năm với 48 tác giả góp mặt; khâu trình bày và in ấn kéo dài nhất thậm chí cả một hai năm, nhưng rồi vẫn có người phàn nàn là đã in sai thơ của mình (xin miễn nói tên). Như vậy mới biết việc in ấn một tập thơ dù mỏng hay dày vẫn vấp phải nhiều hay ít sai sót này. Theo ông Song Nhị, LDTT đã đến tay văn thi hữu Saigon (cả thi hữu vào làng thơ trước 75 lẫn thi hữu vào đó sau 75), và được khen ngợi về nội dung lẫn hình thức. Có người còn khen làm sao trong vòng mấy năm mà CSCN đã xuất bản đến 18 tác phẩm dày cỡ sáu bảy trăm trang, mỗi tác phẩm phải bỏ ra từ 2 đến 3 năm mới hoàn tất, dễ nể thật! Nhà thơ Thế Phong sau khi đọc LDTT đã gởi email cho chúng tôi với ý kiến như sau: “Ý nghĩ đầu tiên tôi đọc là các bạn ấy cho rằng chỉ tác phẩm nhóm Cội Nguồn mới vĩnh cửu với thời gian, thì e phải xét lại xem sao? Bởi lẽ có vĩnh cửu được với thời gian chăng nữa, thì chính các bạn ấy không thể biết ở bây giờ được? Xưa, Tố Như còn phải: “Bất tri tam bách dư niên hậu/ thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” cơ mà ? Vậy thì hai câu này không dạy dỗ gì được cho sự hiểu biết về nghĩa lý văn chương sao? Ấy là tôi nói với Diên Nghị, chứ ông bạn kia thì mới vào nghề sau 75, có phải vậy không? Cho dầu là trên 20 năm đi nữa, không ai ai cũng mau trưởng thành, thấu đáo nghĩa lý của văn chương một cách nghiêm chỉnh cả đâu ? (Thế Phong, 1932, Yên Bái, viết phê bình văn học lúc 24 tuổi. Xuất bản trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình văn học, khảo luận, dịch thuật. Tác phẩm đầu tay, Tình Sơn Nữ, Saigon 1954. Hiện ở Saigon. Email: Mon, 23 June 2003 06:08:40 + 0000). Nữ sĩ Vi Khuê phát biểu trong buổi ra mắt LDTT đăng trong Thời Báo số 3562 ngày 1-06-2003, với hàng tít lớn đậm: “Lưu Dân Thi Thoại xứng đáng được lưu giữ trăm năm trong mọi tủ sách gia đình và thư viện”. Hàng tít lớn đậm nét này đã tóm tắt đầy đủ nội dung bài phát biểu khoảng năm phút của nữ sĩ. Tôi chợt nghĩ không biết vài ba chục năm sau con cháu chúng ta ở hải ngoại có còn đọc được tiếng Việt không. (mong rằng sẽ đọc được). Và nếu thế giới này không có chiến tranh, động đất, và sóng thần, thì LDTT vẫn sẽ còn được lưu trữ trong các gia đình và thư viện cho đến ngày…tận thế ! Xin cám ơn lời phát biểu dễ thương của nữ sĩ Vi Khuê. Năm 1997, chúng tôi tổ chức ra mắt CHTY 2-96 ở Orange County để lấy tiền giúp Làng Việt Nam ở Phi Luật Tân. Số tiền thu được rất khiêm nhượng, $700. đô được chuyển cho Làng Việt Nam, (sau khi trừ chi phí hành chánh), qua trung gian của nhà báo Lê Văn Hải và nhà báo Cao Sơn tại Tòa soạn Tuần báo MÕ ở San Jose. Lần lượt những năm sau chúng tôi ra mắt CHTY tại thành phố Dallas, Arlington, TX; Oakland, CA, và tại các thành phố Paris-Pháp, Berlin-Đức, Bruxelles-Bỉ, Amsterdam-Hòa Lan, Luzern-Thụy Sĩ vào những năm 1997, 1999, và 2002. Ngoài ra chúng tôi cũng đã tổ chức các Đại Hội Thơ Quốc Tế để củng cố tình thân hữu giữa các thành viên: Đại Hội 1 tại Sacramento, CA 1998; Đại Hội 2 tại Westminster, CA 2000; Đại Hội 3 tại Paris-France, 2002; Đại Hội 4 tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, 2004; Đại Hội 5 tại Sacramento, CA, 2006. Đại Hội 6 dự trù tổ chức tại Orlando, Florida vào trung tuần tháng 9 năm 2008.Tổ chức ra mắt sách là một công việc khó khăn đòi hỏi nhiều điều kiệân cần thiết như, địa điểm thuận lợi, tài chánh, tình cảm của đồng hương… Có những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nổi tiếng khắp nước mà vẫn không đạt được một số khán giả tương đối đến ủng hộ để đủ tiền vé máy bay; có trường hợp chỉ vài người đến dự nên đành phải hủy bỏ buổi sinh hoạt. Tuy vậy, cũng có những buổi ra mắt sách với một chương trình văn nghệ đặc biệt có nhiều ca sĩ chuyên nghiệp giúp vui thu hút cả ngàn người tham dự, nhưng lại mang tính văn nghệ hơn là văn học. Một buổi RMS có tính chính trị để yểm trợ một nhân vật đối kháng cộng sản trong nước thì được đồng hương hải ngoại nhiệt liệt ủng hộ. Buổi RMS “Viết Từ Hang Đá Nhỏ Lệ Cùng Dân” của nhà văn đối kháng Trần Khải Thanh Thủy (hiện bị cộng sản giam giữ) vào ngày Thứ Bảy 15 tháng 9 năm 2007 tại Nam Cali do Cơ Sở Cội Nguồn (đứng ra in ấn tập sách) đã thành công rực rỡ với số đông đồng hương tham dự và số tiền thu được qua việc bán sách và ủng hộ rất khả quan. Sự thành công này phần lớn do một số anh chị em văn nghệ sĩ uy tín ở Nam Cali hết mình yểm trợ về mặt tổ chức và quảng bá tin tức. Thực tế một cơ sở hay hội đoàn đến một thành phố xa lạ, dù muốn dù không cũng phải nhờ sự giúp đỡ của địa phương mới thành công được. Cụm Hoa Tình Yêu đã kinh nghiệm việc này khi “du hành” nhiều lần qua Âu Châu và các nơi khác ở Hoa Kỳ. Buổi ra mắt sách của TKTT mang lại niềm vui cho mọi nguời ở hải ngoại chưa được bao lâu thì đã xảy ra chuyện buồn nhiều hơn vui, đó là sự tranh cãi về số tiền $5,500. thu được trong buổi ra mắt. Lúc đầu chỉ có liên quan đến hai nhân vật: Song Nhị và Bích Huyền, sau đó vụ việc đã kéo theo nhiều nhân vật khác như, Việt Dũng, Hồ Công Tâm, Hà Thượng Nhân, Chu Tất Tiến, Nhất Huệ Anh, Việt Hải, Nguyên Phương, “Người Hùng Texas” (theo kiểu nói của Diên Nghị), và nhiều người khác nữa trên diễn đàn Take2Tango. Sự cố bắt đầu do việc nhà thơ Song Nhị đã không nhanh chóng gởi số tiền đã thu đuợc trong buổi ra mắt sách cho gia đình TKTT theo sự mong mỏi của nhà văn Bích Huyền và các anh chị em nghệ sĩ Nam Cali. Chúng tôi nghĩ nếu nhà thơ Song Nhị và Diên Nghị có thái độ mềm dẽo một chút thì nội vụ có thể giải quyết êm đẹp. Nhưng không biết vì lẽ nào nhà thơ Song Nhị đã nói với nhà văn Bích Huyền một cách xác quyết rằng ông chỉ gởi $300. cho TKTT, số tiền còn lại sẽ sung vào quỹ Cơ Sở Cội Nguồn để điều hành Tạp chí Nguồn, Nguồn sống thì tiếng nói dân chủ sẽ bay xa. Mặt khác, trong bản tường trình chi tiêu gởi cho nhà văn Bích Huyền, nhà thơ Song Nhị cho biết đã chi $4,300. cho tiền in ấn gồm đánh máy, layout, tiền khách sạn $365, in thiếp mời và tem thư $324., tiền đãi nhà hàng hai lần $564, tiền banner $50, tiền xăng $50.00, và nhà thơ Song Nhị kết luận: “như vậy số thu sau khi trừ số chi không còn lại bao nhiêu”. Bút sa gà chết, lời nói như mũi tên bắn đi không lấy lại được. Nhà thơ Song Nhị dù nại ra bất cứ lý do nào đi nữa cũng không thanh minh thanh nga được trước dư luận quần chúng. Dù ông có đưa đủ số tiền cho TKTT thì cá nhân Song Nhị và Cơ Sở Cội Nguồn cũng đã bị tai tiếng rồi. Dư luận nói chung, dù ở bên phía ủng hộ ông Song Nhị hay bên phía hậu thuẫn bà Bích Huyền thì tất cả đều nhìn nhận rằng ít nhất bà Bích Huyền không có gì sai trái khi nêu vấn đề này ra. Bởi lẽ khi làm như thế bà Bích Huyền đã giúp ngăn cản những chuyện tương tự trong giới văn nghệ không xảy ra trong tương lai. Câu chuyện đến đây chưa chấm dứt bởi khách bàng quan đã lấy làm khó chịu trước những lời nói và việc làm của nhà thơ Song Nhị và Cơ Sở Cội Nguồn nên nhà thơ Hồ Công Tâm đã làm bài thơ “Cơ Sở Cuộn Ngồi” phê phán Song Nhị và CSCN. Nhà thơ Hà Thượng Nhân liền sau đó viết bài thơ “Đau Quá” tỏ ý buồn và khuyên CSCN nên minh bạch vấn đề tiền bạc. Thế là Diên Nghị và Song Nhị đã “sôi máu” dùng văn phong “mất gà” phóng bút trên tờ Thời Báo, mục “Diễn Đàn Chữ Nghĩa” với bài Văn Hoá Đánh Hôi, núp dưới bút hiệu Tầm Dương, và bài “Thưa Chuyện Với Hà Chưởng Môn” núp dưới bút hiệu Lão Trượng. Chúng tôi không muốn nhắc lại nội dung hai bài viết rất “ngắn gọn mà súc tích” của hai nhà văn -nhà thơ nhà báo Tầm Dương Diên Nghị và Lão Trượng Song Nhị vì chắc quý độc giả đã đọc được bài viết của Chu Tất Tiến thưa chuyện với hai ông này trên diễn đàn Take2Tango rồi.Nói đến nhà thơ Hà Thượng Nhân tức nói đến Hà Chưởng Môn mà nhà văn Nhật Thịnh rất ngưỡng mộ, ông đã viết bài đăng trên Tạp chí Hồn Quê-Sacramento, số 37, May 15, 2003, với chủ đề “HÀ CHƯỞNG MÔN” trong mục “Câu Chuyện Văn Chương”. Xin trích dẫn một đoạn sau đây: “Hà Thượng Nhân thường được gọi bằng tước hiệu thân thương Hà Chưởng Môn mỗi khi nhắc tới, không mấy ai từ trong nước một ngày nào chưa thay tên đổi chủ, tới hải ngoại bây giờ không tránh khỏi khơi dậy nơi tiềm thức một mẫu người đã ít ra một lần gặp gỡ, có một ấn tượng để trân trọng, kiếm tìm. Một con người, nếu Đông phương hằng tôn trọng chữ sĩ lên hàng đầu, vời vợi những nét đẹp, điểm hay của con người, người ta đã tìm thấy chữ sĩ đó tiềm tàng nơi bản chất Hà Thượng Nhân. Một con nguời hễ đã tới khó mà đi, đã quen khó mà bỏ, Hà Thượng Nhân là vậy, nhưng cũng có những người, tuổi đời không mấy cao, chiều dày nghiệp vụ văn học không sâu, hào quang chưa sáng tỏ đã len lén tìm lối đi vào, lui tới bên người, rằng quen biết Hà Thượng Nhân, chẳng qua là muốn tự nâng cao mình lên, biết thế Hà Thượng Nhân vẫn thản nhiên tựa hồ một nhà nho vui bên hồ sen, giậu trúc, nhàn tản thơ phú. Không cảm thấy di lụy phiền toái. Hơn nữa nói theo họa sĩ Tạ Tỵ -tên thật là bút hiệu, 1922 Hà nội, (đã mất ở Việt Nam mấy năm trươc đây), tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội năm 1943, viết văn, làm thơ, thì Hà Thượng Nhân không muốn mất lòng ai bao giờ, và cho rằng như thế đã vô tình trở thành ba phải... Điều này xét ra không hoàn toàn thiết sát lắm, bởi có tiếp xúc với Hà Thượng Nhân mới thấy rằng trong nhiều vấn đề khi thảo luận, Hà Thượng Nhân đã có những lập trường được bảo vệ chắc chắn. Và nếu có ba phải âu là trong những khi mạn đàm mang tính cách thù tiếp, có những vấn đề đặt lên hàng quan điểm xem ra không đi tới đâu, tổn phí công sức, thời giờ mà Hà Thượng Nhân đã có thái độ muốn dẹp đi, khơi gợi lên không thiết ích chi. Tình cảm Hà Thượng Nhân tràn đầy, được lòng mọi người nhờ cậy vui vẻ, không biết thù hằn.” Nhật Thịnh. Chúng tôi trộm nghĩ Hà Chưởng Môn chắc không thù ghét giận hờn chi hai nhà thơ -nhà văn -nhà báo Lão Trượng Song Nhị và Tầm Dương Diên Nghị. Năm nay đã 90, chắc ông chỉ mong sự bình an cho tâm hồn và thể xác. Có một điều chúng tôi vẫn thắc mắc là tại sao Hà Chưởng Môn đã nói lời “công đạo” trước buổi họp của Cơ Sở Cội Nguồn rồi, và Hà Chưởng Môn cũng đã “can thiệp” để nhà thơ Hồ Công Tâm ngưng “đánh” CSCN, nhưng Lão Trượng và Tầm Dương vẫn còn đàn hặc Hà Chưởng Môn trên Thời Báo. Hay là bài báo đã được đăng tải rồi, CSCN mới yêu cầu Hà Chưởng Môn làm “kiểm điểm”. Hoặc là Hà Chưởng Môn đã không “thành khẩn khai báo” mà còn phê phán Song Nhị thiếu “khiêm nhượng” khi tuyên bố rằng “Nguồn sống thì tiếng nói dân chủ mới bay xa!”. Thật chỉ có Trời mới hiểu! Người có lỗi thì không xin lỗi, người không có lỗi chi hết thì bị người ta ép phải xin lỗi?! Ngoài việc xuất bản sách thơ CHTY và tam ngữ Flowers of Love, chúng tôi cũng ấn hành đặc san Việt Điểu trong các dịp Đại Hội. Tuy nhiên, con chim việt không có ước vọng bay xa như tạp chí Nguồn của CSCN. Và nếu có thì cũng chỉ mong bay xa hơn… con chim đa đa một chút mà thôi. Hội cũng đã sản xuất được vài CD nhạc phổ thơ CHTY do các Ns. Võ Tá Hân, 1997; Hoàng Gia Thành, 2001; Nguyễn Hữu Tân 2002; Nguyễn Hải-Hà Lan Phương, 2003; Nguyễn Tất Vịnh 2004; Nguyễn Tất Vịnh 2007. Cuộc hành trình của một Cụm Hoa Tình Yêu khá lâu dài từ mùa Thu năm 1994 cho đến nay đã được 13 năm -vui có, buồn có, êm đềm có, sóng gió có, nhưng nhờ học hỏi, rút kinh nghiệm bản thân và tha nhân nên sinh hoạt của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại vẫn diễn tiến đều đặn với phương châm: “Ở đâu có người Việt, Ở đó có Cụm Hoa Tình Yêu”. CHTY không có tham vọng chính trị (hội thơ là một tổ chức bất vụ lợi) hay làm nên lịch sử cho nền Văn Học Lưu Vong Hải Ngoại, chỉ mong kết hợp những khách yêu thơ ngồi lại với nhau để cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong cảnh đời ly hương và hướng về tương lai của con cháu trong hy vọng còn gìn giữ được ngôn ngữ và văn hóa Việt ở hải ngoại.
Lê Quang Sinh
***