SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
TUỔI TRẺ CỜ VÀNG
 
 


 


VẾT HẰN KHÓ PHAI

Cuối cùng rồi chuyến xe đò ì ạch bám đầy bụi đường và khói than cũng về đến ngoại ô của thị xã Rạch Giá. Mặt trời dần khuất, bóng đêm về trên vùng quê miền Nam yên tĩnh. Cơn gió từ bụi bờ sông lạch thổi qua hầu xóa đi nỗi lo âu phiền muộn suốt gần một ngày đường trên chuyến xe chen chúc người và vật. Mùi mồ hôi, mùi tanh của cá, mùi phân gà vịt. Nhưng tất cả những thứ mùi ấy gần như quá quen thuộc với người dân sau năm 1975. Cái mùi đáng sợ mà mọi cặp mắt thao láo chỉ chỏ tìm xem đâu là cái mùi và cái bóng áo vàng của bọn công an. Tôi theo chân người đàn bà dẫn đường mò mẫm trong bóng đêm, băng qua một cánh đồng khô trơ gốc rạ. Vầng trăng nhô lên qua rặng dừa xanh. Bây giờ tôi thực sự nhìn được dải đất miền Nam, quê hương của trái ngọt cây lành. Hơn mười năm về trước, mỗi lần xuôi Nam, tôi chỉ ghé qua các thành phố hay thị trấn. Đã nhiều lần lòng hẹn lòng là có dịp ngồi lại nơi nào đó của miền Nam bên hè chiếc quán ven đường để ăn trái cốc, uống ly nước dừa, nhìn người miền Nam với: “giản dị như ngô khoai, hiền lành như ruộng lúa”. Ao ước một chiều được ngắm cô gái miền Nam nặng trĩu rổ trái cây, đầu vấn chiếc khăn rằn ri, màu da bánh mật như mời gọi.
Mải vẩn vơ suy nghĩ, tôi quên cả lời hối thúc của người dẫn đường, quên cả sự rình rập của toán du kích, công an. Nơi đây, tôi cần trú ngụ tạm mấy tiếng đồng hồ chờ đến khuya ra khơi. Bốn người chúng tôi được lùa vào một cái chái rạ sau hè, tuyệt đối im lặng nằm chờ lệnh. Mọi sự cần thiết đã được chỉ dẫn. Lần từng bước, tôi tìm được lu nước. Thì ra, nơi nầy nước mưa được chứa trong lu để (dành) làm nước uống cho suốt mùa nắng. Qua cơn khát, về chỗ nằm. Chiếc sạp gỗ đã sẵn một người đàn ông lực lưỡng, nồng khét mùi mồ hôi, mùi cá với tiếng ngáy say vùi trong cơn ngủ. Chợt trở giấc, anh ta gác một chân to tướng và quàng cả tay qua người tôi. Tôi nín thinh, chìm trong sự chịu đựng, không dám trở mình. Rồi chập chờn trong cơn ngủ sau một ngày đường mệt nhọc. Tôi muốn trở về, ôm chặt vào lòng mảnh đất quê hương, nơi đó có mồ hôi của Cha, nước mắt của Mẹ, lời chị lời anh, cả vùng trời kỷ niệm ấu thời rồi ra sao thì ra. Quê hương tôi đó…nhưng tôi phải rời bỏ trong vòng mấy tiếng đồng hồ nữa. Giọt nước mắt nào mằn mặn bờ môi. Tiếng côn trùng rỉ rả, nhịp nhàng như khúc nhạc ru người vào cõi mộng.
Giấc ngủ như con tàu lắc lư trôi vào ngày tháng hoang dại xa xưa. Hàng thùy dương rợp bóng đổ dài trên biển cát. Đám dân chài hớn hở với thuyền về cá đầy khoang.
Họ vô tư, hồn nhiên sắp cá vào rổ cho những người đàn bà kịp buổi chợ chiều dù trên phần kín của cơ thể không mảnh vải che. Đình làng rợp bóng cờ mỗi lần mở hội. Tiếng trống bập bùng vẳng từ làng bên của đoàn “sắc bùa” chúc phúc dịp đầu Xuân. Bầy trẻ con ra tận đầu làng nghênh đón rập ràng:
Sắc bùa là sắc bùa hòe
Trông mau tới Tết ăn chè với xôi
Sắc bùa là sắc bùa ôi!
Cho mau tới tết ăn xôi với chè.
Ôi quê hương! Tôi ôm chặt vào lòng, nghe mát lạnh như vừa uống được giọt nước mưa qua chiếc mo cau trắng nõn chảy vào chum một chiều nào ngồi trong lòng mẹ.
Tiếng vỗ nhẹ vào chân làm tôi thức giấc. Bốn người trong toán chúng tôi ngồi dậy, ngơ ngác nhìn nhau. Người đàn ông lực lưỡng đêm qua nằm kề cận tôi nói nhỏ như truyền lệnh:
-Theo tôi. Không được chuyện trò.
Độ năm sáu bước đi đã thấy một chiếc thuyền núp dưới tàn dừa như chờ tự lúc nào. Lần lượt xuống xuồng, chiếc xuồng tròng trành như muốn lật úp. Người đàn ông lực lưỡng nọ tay cầm chèo, tay kia kềm chặt chiếc xuồng. Bốn người chúng tôi đã vào xuồng. anh ta buông xuồng rồi chèo. Chiếc xuồng như lạc vào rặng dừa nước, thoăn thoắt lướt đi, nhấp nhô trên con sóng bạc đầu nhè nhẹ. Vầng trăng dần khuất sau hàng dừa. Vài chòm mây vẩn vơ trên vòm trời. Tiếng côn trùng về đêm buồn và đều như lời cầu kinh của một bộ lạc xa xưa thời tiền sử. Xuồng bắt đầu xa dần những ánh đèn nhô cao trên chòm cây lá, ánh đèn nơi vọng gác của đồn công an. Giờ này chắc chúng say sưa sau cơn nhậu ban chiều hoặc đang quanh chiếu bạc đỏ đen khi vớ được món tiền khá hậu của toán vượt biên vừa trao.
Một chiếc thuyền lớn thả neo tận ngoài xa đang chờ đợi. Những chiếc xuồng lần ghé sát lại để đổ người vào thuyền lớn như những con chuồn chuồn đậu rồi bay vào một chiều trời sắp đổ mưa. Phút chốc thuyền bắt đầu đi. Tiếng máy nổ nhẹ và đều. Năm mươi mốt con người vừa lớn, nhỏ, một số chui rúc nằm sát tận đáy thuyền. Những viên thuốc ngủ được chuyền cho nhau, nhất là những đứa trẻ, sợ chúng trở giấc khi thuyền ra cửa. Những buồng tim nhói đau và thắt lại, nín thở, chờ đợi khi thuyền vượt trạm, nơi có đồn công an canh giữ. Dù đã được bí mật giao kết song làm sao tin được những điều của bọn công an, du kích hứa. Tiếng cầu kinh, tiếng niệm Phật thì thầm. Tiếng vỗ cánh của một loài chim ăn đêm chập chờn trên sóng. Mọi buồng tim như ngừng đập, cho đến khi cánh chim lần khuất. Tiếng thở phào nhẹ nhõm…lạy Phật, Trời.
Lạy Phật! Lạy Trời, thuyền đã ra khỏi cửa. Thuyền nhấp nhô trên con sóng lăn tăn. Rặng dừa và ánh đèn mờ dần. Tôi nghe mặn bờ môi, nước mắt thấm dần từ nỗi nhớ. Quê hương, tôi thực sự rời bỏ từ giờ này. Những í nghĩ mông lung chợt hiện về, mong thuyền quay về bến cũ.
Tôi cắn vành môi qua cơn nấc nghẹn ngào. Dải đất mờ mờ, chút hình ảnh quê hương dần dần khuất. Quê hương, đành rời bỏ thật sao? Cuốn phim dĩ vãng chầm chậm quay về, có phải để thêm một lần đánh thức? Nỡ nào đành cắt đoạn lìa xa! Mái trường trung học được chia thành từng lớp ẩn dưới hàng tre rợp bóng để tránh máy bay. Tiếng đàn guitare từng đêm vọng qua dòng sông Thủy Triều đã gõ xuống trái tim của người thôn nữ có đôi mắt buồn như mảng trời Thu dạo ấy. Những chiều trần truồng nhảy ùm xuống dòng sông tinh nghịch sau mỗi lần đá bóng nơi sân cỏ đình làng.
Tuổi 16, tôi đã là một cậu trai làng vạm vỡ theo đoàn người đi dân công tải gạo chiến trường đánh Pháp giải phóng quê hương (!). Đêm về gác chân nhau tìm hơi ấm nơi ven rừng xa lạ, mơ ước một quê hương thanh bình, chuyện tình ái vu vơ với tâm hồn trong trắng.
Nhớ lần được ra khỏi tù sau hơn 7 năm, ngoái nhìn lại bạn bè, những bàn tay đưa cao vẫy gọi. bước chân như dừng lại, tôi nghe lòng quặn đau. Những nuối tiếc ngậm ngùi, từ miếng cơm cháy giấu ở lưng quần đến trái chuối chín gói trong tàu lá đặt trên đôi thùng phân tươi hôi thối lén trao cho nhau. Nỗi nhọc nhằn đã chung lưng gánh chịu, tình bạn bè đã ăn sâu vào thớ thịt, buồng tim bên nỗi chết gần kề. Đời là cả một sự phi lí và mâu thuẫn không đâu, chợt đến, chợt đi. Bây giờ trên con thuyền…tôi sắp phải rời bỏ quê hương. Tiếng nước vỗ nhẹ vào mạn thuyền, tôi hình dung bóng người mẹ quê trên nhịp cầu tre nhỏ chênh vênh qua con suối về chiều. Hàng cau cao vút nơi hiên nhà âu sầu đứng đợi. Từng xó xỉnh, cây đa, bụi chuối, đình làng…sao lòng xót xa như một phần cơ thể bị đánh mất. Vầng trăng đã thực sự khuất sau chân trời…Một ánh sao băng, tôi vội vã mở hột nút áo như một thói quen để cứu thoát cho một linh hồn. Tiếng máy vẫn nổ đều, con thuyền nhẹ lướt sóng. Bóng đen của quê hương chỉ còn là một điểm nhỏ, mờ dần rồi khuất hẳn. Bây giờ thuyền đi đâu? Về đâu? Bến bờ nào? Số mệnh giao lại cho người tài công.
Mặt trời nhô lên từ phía xa như quả cầu đỏ. Mặt biển yên lặng, gió nhè nhẹ như đưa lòng người vào một thanh bình muôn thuở.
-Sắp rời vùng hải phận Việt Nam. Tính sao đây? Tiếng người tài công.
Mọi người thức giấc, nỗi lo âu hiện lên trên khuôn mặt. Lại tiếng người tài công:
-Sao đây ông chủ? Dừng lại hay tiếp tục? Dừng lại thì tàu tuần tra công an đến bắt. Đi nữa thì…
Anh ta đưa tay chỉ về phía trước.
Xa xa là những đám mây đen mờ nhạt rồi rõ dần. Tàu đánh cá, cũng là tàu cướp của Thái Lan đã chực sẵn. Một, hai, ba…có tất cả đến 21 chiếc bủa vây thành một vòng cung dường như chắn lối đi.
-Thôi đành liều vậy, Dừng lại đây thì bị bắt đi tù. Đi thì bị cướp…bị hiếp.
Tiếng mọi người chung chung trong ghe.
-Thôi liều vậy, bà con anh em hả? Ngày định đi đã tính rồi, may lắm mới thoát khỏi – Tiếng người chủ ghe.
Tiếng khóc òa lên. Những người đàn bà vội vã lấy than lọ, dầu máy bôi cả lên người, lấy thuốc đỏ, máu gà vịt họ đã mang theo sẵn xoa lên nơi kín đáo, những chiếc nhẫn tháo vội vàng nhét vào bất cứ chỗ nào có thể được. Thậm chí, có ngưởi nuốt luôn vào bụng, chờ khi nào đi tiêu thì lấy mà rửa sạch lại…
Tiếng cầu kinh, lời nguyện cầu. Những bàn tay lần từng chuỗi hạt, lặng yên nhìn nhau như nhìn vào cõi hư vô. Có lẽ đây là giờ phong thánh tốt nhất cho những con người sắp về nước Trời (Thiên đàng, Niết bàn…) vì tất cả mọi tội lỗi đã được thố lộ và lòng nguyện từ bi, bác ái, hỉ xả…
Người chủ ghe dùng ống nhòm nhìn lại quê hương trên vùng biển bao la, một chấm đen xuất hiện.
-Tàu công an đang trên hướng tàu mình.
-Đi! Chần chờ gì nữa. Thà chết chứ không để cộng sản bắt!
Lòng quyết tâm của mọi người như đành đoạn cắt lìa một phần cơ thể đang với gọi.
-Đi! Phải đi. Bị cướp hay bị hiếp cũng chỉ một kiếp nầy mà thôi. Ở lại tàn lụi cả mấy kiếp sau – Tiếng của một bà sồn sồn trên ghe.
Ngày tháng nào tôi đã là chứng nhân bao thảm cảnh của cuộc chiến tương tàn. Những cảnh giết người man rợ nhất chỉ nghe thấy xảy ra ở một bộ lạc xa xưa nào thời thượng cổ. Hình ảnh của một ông xã trưởng thời Đệ nhị Cộng hòa bị trói chặt vào thân cây ở ven rừng. Ngọn mác nhọn xuyên qua buồng tim ghim chặt vào thân cây. Lưỡi dao oan nghiệt nào đã cắt lìa cổ ông lí trưởng vào năm 1945, thây được vùi nông ở ven làng. Tiếng nấc, rồi cặp mắt trợn trừng khi hai thanh tre kẹp vào cổ của người chú họ vào năm 1964. Gần hơn nữa là những người bạn tù trong nhà biệt giam bị xích hai chân trong một buồng kín chỉ chừa một khe hở đủ không khí cho người thoi thóp sống. Mùi hôi thối nồng nặc, thân người quấn bởi giẻ, phân và nước tiểu. Hình như tôi thoáng nghe tiếng kêu động tình của đoàn vận chuyển Trường Sơn trên đường từ Bắc vào Nam. Hình ảnh những thân người dị hình, hàm răng nhô ra, mắt lim dim đờ đẫn, nhịp thở hổn hển, ôm choàng anh bộ đội trẻ. “Anh g..i..ế..t.. em đi!!!”
Tiếng kêu quằn quại ấy đã đốt cháy cơn nhục dục của anh bộ đội trẻ để rồi tàn cuộc chiến anh cảm thấy mình trở thành thứ đàn ông vô dụng.
Quên làm sao được, ngày còn là lính ở một tiền đồn miền núi xa xôi. Sau  mấy ngày đêm công đồn, đồn vẫn không mất, cuối cùng kẻ công đồn bị đẩy lui, tháo chạy. Tôi đếm từng xác  của những bộ đội trẻ xăm “sinh Bắc tử Nam” ở cánh tay. Tôi nhớ rõ nét mặt non tơ tuổi độ 15, nước da xanh lét, đã mất một tay một chân, xác bị mắc vào hàng kẽm gai đồng đội không lôi đi được, đầu gục lên chiếc ba lô bê bết máu. Trong ba lô, một lá thư tình ngắn cho cô bạn học, một tấm khăn dù chiếu sáng, một chiếc lược làm từ miếng inox của vỏ bom. Hành trang và ước vọng của tuổi trẻ được đẩy vào cuộc chiến đi xây “khải hoàn môn” đưa dân tộc vào “địa ngục trần gian”.
Con tàu tiếp tục rẽ sóng lọt vào vùng bủa vây của 21 tàu cướp. Hai tàu đến trước kẹp sát vào mạn thuyền. Tiếng reo hò, la ó man rợ như tiếng từ một bộ lạc xa xưa nào. Những bộ mặt kinh dị tay búa tay dao lần lượt nhảy sang thuyền, chúng lấy bất cứ thứ gì có thể lấy được. Tiếng van lạy, những bà già quỳ thụp xuống, lạy xong, tay lần chuỗi hạt may ra bọn cướp có động lòng từ bi vì người Thái Lan cũng thờ Phật. Một tên cướp con tuổi độ 12 hay 13, gầy đét, răng nhô ra, bận một chiếc khố, tay cầm búa. Bà già người Tiều thụp lạy xong, đưa mắt ngước nhìn. Vừa thấy hàm răng vàng bà ta, tên cướp đưa một búa, hàm răng văng ra, máu tuôn đổ lên cả khuôn mặt nhăn nheo, bà nằm vật xuống sàn ghe rên xiết. Tên cướp nhặt hàm răng, rồi lục lạo các cô gái, sờ bóp. Có lẽ nó chưa đủ tuổi để cơn động tình khơi dậy nên cầm búa đi, gặp ai cũng nện cho một búa. Độ 20 phút cướp bóc, chúng lặng lẽ rút lên hai con tàu rồi rẽ vào hướng khác. Sau lần cướp đầu tiên – một lần chết, sống dậy – của cải đem theo gần như mất sạch. Mọi người được một phút hoàn hồn. Máy tàu chưa bị lấy và chưa ai bị hiếp. Bà già Tiều tỉnh dậy, mặt mày sưng húp. Hai hàm răng không còn, vắt cơm phải bỏ vào chén nước rồi dùng thìa đổ vào miệng cho qua cơn đói. Cơn nắng chói chang, những vệt nước đóng thành muối thấm dần vào cơ thể. Nước uống bị hạn chế tối đa. Mọi người giương cặp mắt thao láo nhìn nhau, không ai nói một lời, những giọt nước mắt từ từ lăn trên má. Con thuyền vẫn đi về hướng Thái Lan dù biết nơi đó có những tàu cướp đang rình rập hãm hiếp, đánh đập. Dù sao đó vẫn là con đường gần nhất mà mọi người đã lựa chọn khi buông đời cho định mệnh. Sau lần cướp đầu tiên, con người có vẻ tỉnh táo và khôn ngoan hơn. Trời về chiều, mặt trời xuống nhanh. Vài dải mây đen bay là đà như báo hiệu sắp có mưa. Nước dự phòng đã hết, dầu chạy máy đã khô cạn. Vài bà mẹ chìa núm vú khô cằn, bám than lọ đen thui được bôi từ ngày qua cho con bú. Những đứa nhỏ sau một ngày đêm với liều thuốc ngủ gần như không còn khóc nổi. Cơn say sóng đã đốn ngã đến một phần ba số người lớn trên ghe. Cơn mưa trái mùa đủ làm thấm ướt và lạnh, mọi người nhốn nháo lên như đón nhận những điều bất hạnh sắp xảy ra. Lại bị cướp. Cứ độ một giờ lại bị một tàu cướp kẹp sát rồi chúng lục soát, lấy tận cùng đến cả áo quần mặc trên người, cái nào còn dùng được. Sau lần cướp thứ tư thì trên ghe dường như đã hết sạch, kể cả gạo và nước uống. Bây giờ, con thuyền hầu như không còn định hướng. Trời đã vào khuya. Con người bơ phờ như những cái xác không hồn, trố mắt nhìn nhau khi vào trận cướp thứ năm. Chúng tràn vào ghe, lục soát không còn chừa chỗ nào. Chúng vạch áo mấy cô gái, thấy dầu máy và lem luốc máu, chúng nhổ nước bọt vào đó rồi bỏ đi. Toán khác hì hục tháo máy ghe. Thế là hết, một thoáng hy vọng đến bến bờ Thái Lan cũng vụt tắt. Con thuyền bồng bềnh trên sóng, tùy theo cơn gió ngược xuôi. Trời hừng sáng. Mấy người còn khỏe lấy áo quần cột thành một cánh buồm, giương tấm áo trắng để báo hiệu cần cấp cứu. Thuyền bồng bềnh trôi, ngày rồi lại ngày…Thỉnh thoảng thấy một chấm đen của giàn khoan dầu nhưng làm sao tới. Niềm hy vọng từ âm thanh một chiếc máy bay nào nơi phương trời xa lắc cũng không còn. Đàn rắn biển nhấp nhô trên sóng bám vào mạn thuyền. Mọi người ré lên, ôm choàng vào nhau. Vài người đã ngã bệnh. Đôi mắt thất thần nhìn lên từ đáy ghe:
-Nước, n..ư..ớ..c..!
Tôi bật khóc. Tiếng nói của Mai, cô học trò cũ 20 năm về trước. Ngày tôi ra khỏi tù, ghé thăm ba má Mai, ông bà nhắc nhở nếu có đi nước ngoài cho em nó đi cùng. Mai bị thổ tả sau một đêm thuyền rời bến. Mùi phân bốc lên, phải dùng áo quần khô lau chùi. Mọi người phải uống nước biển và nước tiểu thay cho nước ngọt.
Ngày thứ sáu, thuyền trôi theo làn gió lúc ngược, lúc xuôi. Một tàu, lại một chiếc tàu Thái kẹp sát, thấy không còn gì. Mọi người thụp lạy rồi lấy tay chỉ vào miệng. Thuyền trưởng là một thanh niên lực lưỡng, đẹp trai, hình như cảm nhận được lòng từ bi rọi xuống từ Phật, Trời ; anh ta bảo đàn em chuyền cho mấy thùng nước đá ướp cá rồi đưa tay vẫy chào, rẽ hướng. Thùng nước đá đã cứu mạng sống mọi người. Những cục nước đá được nhai ngấu nghiến, ánh lửa ấm lên trong khoang thuyền, luộc cá chia ăn.
Ngày thứ bảy, người trên thuyền chỉ là những cái xác bơ phờ, đúng nghĩa là một con thuyền chở xác. Mặt trời ngả về chiều, một chiếc tàu cướp ghé lại. Năm tên cướp lực lưỡng kẹp vào mạn thuyền rồi lựa bốn cô gái trong đó có một em độ 13 tuổi, mảnh mai, dẫn qua tàu chúng. Một tên cướp như võ sĩ thượng đài, xé toạc tấm áo người đàn bà đang ôm con. Đứa bé độ hai tuổi, bám vào ngực tên cướp cắn một miếng. Bị cắn bất ngờ, cơn động tình chùng xuống. Hắn xô người dàn bà chúi vào thuyền rồi bước sang thuyền nhập cùng bọn đang hãm hiếp. Tiếng rên xiết, quằn quại, van xin từ trên tàu bọn cướp. Người anh trai của cô bé đang bị hiếp chồm dậy, định sang cứu em. Mọi người kéo anh ta lại, xin cứu sống những người còn trên thuyền. Anh cúi mặt xuống, cơn uất nghẹn dâng trào, nước mắt tuôn ra…Xong việc, chúng dắt những cô gái vừa bị hiếp xô mạnh trả lại thuyền với máu me đầy người.
Đêm về khuya, thuyền vẫn trôi. Gió nhè nhẹ. Tiếng khóc tỉ tê. Tiếng người anh an ủi cô em nhỏ vừa bị hiếp khi chiều. Mùi máu tanh tanh thoảng theo gió, mùi cá, mùi nước biển.
Tiếng rên khe khẽ của cô gái vừa bị hiếp khiến tôi nhớ lại trước hôm bắt đầu cho thuyền đi, tôi đã được người chủ ghe nhờ chở cô bé qua mấy đoạn đường để tránh sự dò xét của công an. Xe qua đường gập ghềnh, tôi dặn cô bé ôm chặt hông tôi kẻo rơi mất. Nhớ hai cổ tay cô ta  chỉ lớn hơn ngón chân cái…Sức sống nào đã vùng dậy trong tôi. Lòng hận thù muốn chém giết bất cứ một cái gì ở giờ này. Hình như Thượng đế sinh ra con người đã không mấy ai được gắn tim.
Ánh đèn chiếu từ chiếc tàu Thái Lan khác vừa bám vào hông thuyền. Trong điềm dữ vẫn thoáng hiện điềm lành. Chúng tôi bồng Mai, qua ngôn ngữ bằng tay, xin cầu cứu. May thay, viên thuyền trưởng này biết tiếng Anh. Anh ta cho mấy quả dưa hấu rồi cột thuyền vào tàu và kéo theo. Cơn mưa chiều, trời trở lạnh, thuyền bị nước tràn đầy. Nước biển đen ngòm như vùng địa ngục chực nuốt tươi 51 con người trên thuyền. Tiếng la ơi ới xin tàu ngừng lại song tiếng máy tàu, tiếng gió và tiếng sóng lấp cả tiếng người. Người chủ thuyền lấy giây bó mấy chiếc phao rồi buộc thằng con trai của ông ta vào đó chờ đợi. Số người trai trẻ còn gượng đứng nổi thay phiên nhau tát nước từ thuyền ra. Con thuyền chao đảo lướt đi. Khoảng gần 3 giờ sau thì viên thuyền trưởng chậm lại rồi chặt dây. Thuyền trở lại bồng bềnh trên sóng sau vùng nghiệt ngã của nỗi chết.
Ngày thứ chín, một ngày trong lành. Tia nắng từ phương Đông dọi sáng, sau một đêm như được về từ cõi chết. Tiếng người tài công:
-Điềm lành. Sắp đến bờ vì có xơ của trái dừa trôi giạt bám theo mạn thuyền.
Chỉ nghe thế, như liều thuốc hồi sinh, mọi người đều tỉnh dậy. Lại tiếng khóc, tiếng cầu kinh, lời sám hối. Rồi một dải mờ mờ xuất hiện, rõ dần là bến bờ.
-Đây là đâu? Thái Lan hay Mã Lai? Tiếng người chủ thuyền hỏi.
-Có lẽ là Thái Lan vì địa bàn chỉ đúng hướng – viên tài công trả lời.
Gặp cơn gió thuận, thuyền trôi thật nhanh. Một rặng dừa xanh nơi ven biển, cảnh trí thật thanh bình, người lố nhố đứng trên bãi cát.
Một toán độ vài chục đàn ông, áo quần đủ loại, râu ria trông có vẻ dữ tợn. Họ lội ra tận thuyền, giữ thuyền lại khi thuyền cách bờ khoảng 100 mét. Họ trèo lên thuyền lục soát, lấy bất cứ cái gì còn lại. Một cặp vợ chồng nọ cùng hai đứa con ngồi nép sát vào nhau. Chúng bắt người vợ đứng lên rồi bảo chị ta lột chiếc quần giao cho chúng. Người chồng thấy vợ chỉ còn có cái quần lót nhớp nhúa, vội vã tuột chiếc quần rách của mình ném cho vợ.
Năm mươi mốt người chúng tôi được chúng cho phép vào bờ song không được đi thẳng về phía đường lộ (vì có người mách bảo hướng thẳng chừng 300 mét là đường lộ). Chúng tôi thay nhau bế Mai qua vùng cát bỏng chân trần khi cặp mắt Mai đờ đẫn tưởng chừng sắp chia ly. Dân làng lùa chúng tôi đến một ngôi chùa gần bãi biển, chúng tôi vào sân chùa xin tạm trú. Tôi nhìn tận mặt những tên cướp biển gần bờ mới đây, chúng vội thay áo, cạo râu rồi mang cháo ra chia phát. Chắc chúng vừa sám hối xong, giũ sạch mọi tội lỗi, bây giờ là con người đi ban phát điềm lành !!! Đêm về, chúng tôi, những người còn khỏe, như một bầy trâu rừng, dồn tất cả đàn bà và trẻ con vào trong, người lớn vây quanh thành một vòng tròn. Không mấy ai có áo, chiếc quần lót nhớp nhúa, lưng trần trên nền xi-măng lạnh…
Vào khuya, tiếng la inh ỏi từ mấy người đàn bà, trẻ con khóc thét lên, đèn chùa vụt tắt. Bọn cướp lại mò vào hãm hiếp. Tiếng la, gào thét, chúng tôi vùng dậy, gặp vật gì gõ nấy, vang dậy cả sân chùa. Bọn chúng vùng tháo chạy, đèn chùa bật sáng. Niềm tin đã mất trong tôi. Lời oán than có đến Trời, Phật (?). Đâu là cảnh trí của từ bi? Đâu là sự thật của con người? Dựa vào đâu? Tin vào ai? Ngày còn trẻ, tôi yêu biển hơn yêu người tình đầu đời. Thấy biển xanh, cát trắng là nghe lòng thanh thản, xóa được mọi ưu phiền. Qua lần vượt biên, đêm gió và sóng cuộn được chiếc tàu cứu đi. Biển gào thét, đen ngòm như rung động của vòm địa ngục chực ngàu nghiến thân xác. Tôi sợ biển từ đó, và mãi đến bây giờ.
Thao thức chờ sáng, tôi nghe ngón tay mình đau nhức. Tháo miếng giẻ đã buộc chặt vào ngón tay bị chảy máu trong mấy ngày qua.  Một điều lạ lùng là chiếc nhẫn được cắt như một vệt dài bẻ cong lại ở trong đó. Ngày ra tù, tôi trở về phố thị. Tôi không còn gì ngoài bà mẹ thật già, còm cõi qua cổng căn nhà bị tịch thu, hiện là cơ quan của tỉnh. Bà lặng yên đứng nhìn để nhớ về một quá khứ mẹ con chiu chít bên nhau mỗi lần nghe tiếng súng nổ từ xa hoặc sau cuộc hành quân trở về.
Đời sống cũng tàn lụi như chiếc lưng còng của mẹ…Tôi ham gì ở đất nước nầy?
Sao không ở lại còn mẹ còn con nương nhau mà sống ; cơm cháo khi mẹ đau, vuốt mắt khi vĩnh biệt. Công danh sự nghiệp để làm gì? Đời là giả tạo. Cõi vĩnh hằng nào tôi phải tìm đến? Tiếng mõ nhà chùa lại đều đều gõ xuống. Âm thanh nào gõ xuống tim tôi? Mộng hay thật?
Mờ sáng, tôi dọ dẫm bán được chiếc nhẫn. Nhớ vào đêm tàu sắp chìm, một cậu trẻ trong toán vượt biên khi tát nước nghe tiếng khua. Cậu lục lọi tìm được chiếc nhẫn hỏi là của ai rồi trao lại. Tôi nhận chiếc nhẫn, chút kỷ vật của cô học trò cũ cho tôi khi vượt biên. Cô đã cẩn thận may vào nơi gấu chiếc quần đùi. Tôi không nhớ vì bị qua nhiều lần cướp nên chiếc quần bị rách và chiếc nhẫn rơi ra. Cảm lòng chân thật của cậu trai trẻ, tôi chia cho cậu một nửa số tiền bán được, số còn lại mua một lon sữa cho những người bệnh rồi gói tiền còn lại vào mảnh nylon nhét vào túm cháo cột ở đầu võng khiêng Mai đi.
Được một dân làng cho biết, trại Sông La cách chùa chúng tôi trú qua đêm vào khoảng 10 dặm, chúng tôi dìu dắt nhau tìm ra đường lộ. Chân trần, trời nắng, đường nhựa…bà dắt cháu, mẹ ôm con dìu nhau đi. Toán đàn ông mạnh hơn thay nhau khiêng Mai. Vào đường lộ đi độ 300 mét, bốn thanh niên Thái bắt dừng lại, họ lục soát rồi lấy túm cháo cột ở đầu võng trong đó có mấy trăm bạc Thái. Ngơ ngác nhìn nhau…thêm một lời niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.
Một chiếc xe màu trắng từ từ dừng lại bên toán người thất thểu trên lộ. Chiếc xe của phái đoàn Mỹ đi công tác. Qua sự thăm hỏi, họ vội vã chở đàn bà, trẻ con, người già yếu, bệnh hoạn. Họ chỉ đường cho chúng tôi hướng về, độ 5 cây số là chi Cảnh sát Thái.
Những vết bầm, phỏng nắng đôi chân, chiếc quần đùi dơ nhớp, hầu hết là thân trần, chúng tôi lần mò đến chi Cảnh sát Thái. Người lính gác ung dung ra vào rồi chỉ đường cho chúng tôi. Vừa mới đến bờ rào, người đàn bà bế đứa con gái đã cứu mẹ bằng một vết cắn vào ngực tên tướng cướp Thái Lan để hạ cơn động tình, nước mắt ràn rụa nói với chồng:
-May mà anh đến kịp. Nó định hiếp em.
Bước vào sân bóng chuyền vừa dịu cơn nắng chiều. Được biết phái đoàn gởi lại đây làm thủ tục. Mai bệnh quá nặng, được đưa vào bệnh viện cùng với hai người cháu. Phái đoàn sẽ trở lại đưa về trại vào ngày gần nhất khi thủ tục xong. Nền trời xanh, sương thấm lạnh. Còn lại độ 15 người mạnh khỏe chia nhau canh giữ đàn bà, trẻ con. Chúng tôi thay phiên dò dẫm xuống bờ sông tắm. Dòng nước như xóa đi vết bụi trần. Giặt chiếc quần đùi vắt cho ráo nước, mặc trở lại rồi vào ngồi canh cho người kế tiếp.
Đêm về khuya, mấy bà già chẳng rõ người Tàu hay Việt, lén chui qua rào cho một ít quần áo cũ và thức ăn. Ôm quần áo trong giấc ngủ mệt nhoài chờ sáng. Trời vẫn trong mùi phảng phất hương sen từ ngôi chùa bên cạnh đưa tôi về một nơi nào…Đây có phải là đất của Phật?
Vừa tỉnh giấc, một ngày mới bắt đầu. Chúng tôi chờ làm thủ tục nhập trại. Người cháu của Mai tìm đến báo là Mai đã chết vào lúc 3 giờ sáng, xác hiện quàn ở tại bệnh viện gần đấy. Mọi người òa khóc. Tôi cùng ba anh em vào bệnh viện nhận xác Mai. Tìm đến ngôi chùa bên cạnh xin phép thiêu Mai. Vì không tiền, chùa thuận cho thiêu nơi bên ngoài, chỗ dành cho những kẻ không gia đình, thân nhân. Trưa hè nắng gắt, khát đến cháy cổ. Vào chùa xin nước uống, nhà chùa chối từ. Một vài chú tiểu vào ra, vị sư già trụ trì đang đón thức ăn từ các thiện nam tín nữ.
Dọc theo hè phố, chúng tôi ghé lại các tiệm sửa xe xin vỏ xe cũ, nhặt củi mục bên vệ đường. Đoàn khất thực mặc áo vàng được các gia đình đón và trao thức ăn. Người hai bên thị trấn nhìn chúng tôi như một đoàn người từ thời trung cổ lạc về. Kẻ ôm củi, người vác vỏ xe cũ, chúng tôi trở lại khoảnh đất phía sân sau chùa, nơi đó đã đặt sẵn xác Mai. Củi được chất thành tầng. Đặt xác Mai trên tầng củi khô, vỏ xe chất chung quanh…Sáu người chúng tôi yên lặng cúi mặt, vuốt mắt Mai xong, tôi châm lửa đốt. Ngọn lửa bùng cháy, xác Mai cong lại, đầu nhô lên như nói lời vĩnh biệt. Xác chìm dần, chìm dần trong biển lửa. Một phút cúi đầu, chúng tôi yên lặng ra về. Bóng chiều xuống…
Tôi lại khóc. Khóc thêm một lần cho mẹ tôi, người tôi yêu hơn cả thế gian. Chưa có người đàn bà nào thay thế hình ảnh mẹ trong trái tim tôi. Tôi mất cả rồi, còn gì mà luyến tiếc. Khóc lần nầy cho đỉnh trời chiều hồn ma vất vưởng, tìm nơi yên nghỉ xa vùng nghĩa địa, vẫn là chỗ giả dối vinh danh. Khóc cho lời cầu xin những linh hồn sớm bị đọa đày nơi cõi trần về vòm trời siêu thoát. Tôi thiếp đi trong cơn mê, trong cơn gào thét của sóng, lời rên rỉ, mùi máu tanh, thằng cướp biển bé con đã cầm chiếc búa đập vào hàm răng.
Chúng tôi trở lại ngôi chùa vào một sáng mờ sương. Mỗi người cầm sẵn một cặp que. Ngôi chùa vẫn còn yên ngủ, mùi hương tỏa ra lất phất bay. Vết tàn tro của những linh hồn bơ vơ được người đời rủ lòng thương, ghi cho mình một lần làm phước lốm đốm nơi bãi sau chùa. Lò thiêu của những người chết có tiền bạc được xây bằng gạch, ống khói ngạo nghễ vươn cao, những làn khói bốc lên loãng vào thinh không, bay về một vòm trời xa…“cõi vĩnh hằng”, nơi ấy không còn phân biệt giai cấp đâu là làn khói của kẻ cùng đinh.
Chúng tôi cúi đầu, một phút yên lặng. Gạt từng chút tàn tro để tìm mảnh xương, gắp bỏ vào chiếc thẩu nhựa xin được từ chiều hôm trước. Một luồng gió tình cờ thổi qua, cơn lạnh nhói tim. Tiếng quạ kêu từ nơi xa có tàn cây cổ thụ. Bỗng một tiếng nói khẽ:
-Đây rồi, hàm răng đây.
Những cặp mắt nhìn nhau. Lại hàm răng…may là nó không được bọc vàng óng ánh như hàm răng bọc vàng của bà già bị tên cướp đánh đêm nào trên thuyền♦

 

TRẦN ANH LAN