SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
 
 
 


 

TRẦN ANH LAN


GIỌT CÀ PHÊ

 

Những tia nắng thật ấm tỏa lên nóc giáo đường vừa khánh-thành độ chừng một tháng; cạnh đó là một ngôi trường Trung-học xây cất vừa xong. Tiếng cầu kinh vẳng ra từ vòm trời ấy, niềm vui rạng-rỡ trong ánh nắng chan-hòa một sáng Chúa-nhật. Nhịp sống vươn lên từ một vùng đất chết sau những năm “tiêu thổ kháng-chiến, giai-cấp đấu-tranh ”.
Tôi dừng lại đó sau hơn bảy năm đi xa, vùng đất đã lắng trong tim từng chút kỷ-niệm vui buồn, chua xót; từ những tháng ngày đào kinh thoát nước, trồng mì cứu đói, dân công, những ngày học tập, cải-tạo, tập thoát xác lột bỏ giai-cấp tư-sản, địa-chủ; bước xuống một địa-vị thấp hèn để được vinh danh.
-“Thế nào? Quang nghĩ gì? Cha Tân bảo cậu là người địa-phương nên Cha cố tình mời cậu về dạy tại trường trong niên-khóa này”. Tuấn nắm chặt tay tôi.
-“Bảy, tám năm rồi, từ ngày được xem như hết chiến-tranh, nay mới trở lại”.
-“Đi vào Quận-lỵ với tớ, đãi cậu cà-phê hai màu, ngắm cô hàng cà-phê có một nét đẹp tiềm-ẩn khó giải-thích mà chưa bao giờ tớ tìm thấy ở Sài-gòn”.
-“Không khéo lại si tình cô hàng cà-phê rồi”.
-“Tớ về đây đã hai tháng, đi tận cùng các làng xã, nhìn vẻ đẹp hiền hòa của thôn dã kể cả những cô gái tóc xanh lê-thê thoáng một vẻ buồn chợt đến,chợt đi. Mấy ông Xã-trưởng nhắc chừng nữ giao-liên Cộng-sản gài ở lại hoạt-động khi bọn cán-bộ tập-kết ra Bắc”.
-“Ừ thì đi, sao đâu ! miễn có trái tim yêu là đủ rồi. Tình yêu thắng tất cả, nhất là thật sự yêu”.
Câu chuyện bâng-quơ phút chốc, tôi và Tuấn đã dừng lại trước quán. Tuấn tìm chỗ đậu chiếc xe Vespa. Tôi ngập-ngừng trước cửa. Phố phường khác hẳn ra, hình như trút bỏ được lớp nghèo nàn bẩn-thỉu; vừa chạy trốn được cơn giông-bão của hận thù. Quận lỵ bây giờ đã xua đi phần nào mùi tử khí lẫn-quất trong không-gian; những nụ cười hồn-nhiên của khách bộ hành ngược xuôi trước quán đi về phía sân ga.
-“Thế nào? Cô hàng cà-phê có đôi cánh tay như cẩm-thạch của pho tượng một thời xa xưa nơi vương-quốc nào; tớ nghĩ vậy”. Giọng Tuấn như chùng xuống lim dim trong cơn say.
-“Mình đã quan-sát kỹ đâu.Tuấn lại làm thơ rồi” Hàn Mặc Tử bảo:
“Áo em trắng quá nhìn không ra”,
mình sửa lại cho hợp ý Tuấn hôm nay:
“Tay em trắng quá nhìn không ra”.
Mười ba năm rồi, từ ngày ấy, vẫn chiếc quán tọa lạc đúng vị-thế ngày xưa, ngày của lần đầu tôi từ vùng quê bước chân về nơi Quận lỵ vào lớp Đệ-nhất niên trường Trung-học.
-“Vào đi. Nghĩ gì ? Để tớ gọi, tớ đãi cậu mà ! Cà-phê hai màu, hai ly, cô chủ”. Tiếng Tuấn gọi.
Cô hàng cà-phê bước ra; nhìn tôi trong ngỡ-ngàng.
-“Anh Quang phải không? Anh ở lại à? Tưởng anh đã đi lâu rồi chứ!”.
-“Bởi chưa thoát xác nên còn ở lại gặp chị hôm nay. Bác đi chợ sáng phải không chị?
-“Bà già yếu lắm rồi anh. Chỉ còn mình tôi lo xoay-xở lần hồi kiếm sống qua ngày”.
-“Quang quen cô hàng cà-phê từ lúc nào vậy?”. Tuấn ngạc-nhiên, từ ngạc-nhiên này đến những câu chuyện khó hiểu giữa Hà ( tên cô hàng cà-phê) và tôi.
-“Tụi tôi là bạn nhau từ ngày tóc còn để chõm; rồi chiến-tranh, ly loạn, tản cư và lưu-lạc”.
-“Thế là tớ có mai dong, mai này ghé chợ mua đầu heo”.
Hà cười trong nỗi buồn lẫn chua xót; bộ đồ đen với búi tóc ngang lưng trông Hà như một thiếu-phụ câm lặng, đợi chờ; nỗi u tối của thời-gian được xuyên qua ánh nắng ban mai chưa làm tan đi vùng trời nhạt-nhòa, lẫn quất cô-đọng trong năm tháng dài trên thân-phận đọa đày. Hàng phượng vĩ nơi sân trường phía bên kia lộ bóng xòe ra, vươn cao, tỏa rộng như thách thức với thời-gian cùng sự tàn-phá của chiến-tranh; chiếc thân cổ-thụ ấy đã gợi cho tôi bao nhiêu là quá vãng; quá vãng của chính tôi, của gia-đình, bà con, bạn bè, cái quá vãng như sợi chỉ xuyên qua từng mỗi trái tim kéo theo số kiếp đọa-đày, tủi nhục; ngay đến khi giáp mặt vẫn không dám nhìn lầm-lủi, trốn chạy; cái quá vãng đè nặng trên quê- hương mối hận thù truyền kiếp. Bà Ký, Mẹ của Hà, người đàn bà không có tuổi Xuân, hai mươi bốn tuổi đầu hai lần góa bụa. Mười tám tuổi lập gia-đình sinh được một trai tên là Ký, chồng chết sau một cơn bạo bệnh. Sự thủ tiết của người góa phụ trẻ đẹp không thể là bức thành qua những gã trai làng dòm ngó, đùa bỡn bâng quơ; nhất là khi người góa phụ trở thành chủ quán bên đường với đông khách vãng-lai. Hơn hai năm sau, người góa phụ nhận làm vợ bé ông Lý-trưởng làng bên. Cuộc hôn nhân được sắp-xếp êm đẹp của người vợ lớn, người đã cùng ông bốn năm chăn gối nhưng chưa sinh cho ông một mụn con dù là con gái. Rồi một năm sau cả hai bà đều cho ra đời hai gái; Hà dù là con bà vợ bé nhưng sinh ra trước nên đóng vai chị, Ngọc vai em. Cuộc đời tưởng được êm xuôi như dòng sông sau khúc quanh co, còn một chút tàn phai lắng đọng êm ả về đại-dương. Nhưng Hà chưa đầy thôi-nôi thì cuộc khởi-nghĩa của Việt-minh năm 1945 nổi lên, Ông Lý trưởng bị trói dẫn đi xử chém ở làng bên nhưng không tìm được xác. Nhát dao oan-nghiệt đã đưa hai người đàn bà trở thành góa phụ khi mới hai mươi bốn tuổi đầu.
Nỗi đơn-côi, nhục-nhằn, tủi-hận đã trói chặt thâm tình của hai góa-phụ: bà lớn với bé Ngọc vẫn côi-cút trong căn nhà tranh, cảm nhận độ ấm lạnh của đất trời, từ cơn nắng cháy ngày Hè đến cơn mưa dầm giá buốt vào Đông. Bà Ký với hai con: Ký là đứa con trai của đời chồng trước và Hà với chiếc quán bên đường trơ gầy theo nhịp chiến-tranh và thù hận; đêm đêm dìu con nhìn vầng trăng bạc màu bệnh-hoạn; cuộc sống đọa đày như trái chín treo lơ-lững trên cành rơi rụng lúc nào không biết chỉ cần một lời giá họa vu oan. Cuộc sống lúc bấy giờ lẫn vào đêm để tránh máy bay; và chiếc quán bên đường đã làm ấm lòng không biết bao nhiêu khách trên con đường ngược xuôi về sân ga nơi quận lỵ; đêm đen cũng là môi trường của loài quỹ rình rập bắt bớ thỏa mãn dục-vọng khát-khao. Người góa phụ yên lặng như pho tượng theo thời-gian. Chính sự yên lặng đó mà tình yêu được trường tồn; bao nhiêu chút tình lãng-mạn trôi qua của anh tư-sản thoát xác trở thành anh bộ đội thời-trang.
“Lòng khách vươn qua vài sợi tóc
Ta thương mà em đâu có hay?”.
Q. D.
-“Anh Quang nghĩ gì vậy? Uống cà-phê đi, kẻo nguội; hay là anh nhớ chị Oanh. Anh Tuấn ra ngoài hút thuốc rồi”.
-“Làm sao quên được hở chị- Nhác dao nào chém vào tuổi trẻ không thành sẹo dù năm tháng vết thương đã kéo da. Nhớ mái trường xưa, nhớ tờ lưu bút cuối năm. Ngày nào trở lại Thủy Triều vẫn những dòng sông, bến đò, lũy tre. Nhớ những đêm kiểm điểm để Oanh bước từ cô gái tư-sản thành bần cố nông, chối bỏ dòng Tôn-Thất trở thành họ Nguyễn rồi lấy chồng cán-bộ đi tập-kết”.
-“Mỗi người có một nghiêt-ngã của cuộc đời, là môt đọa đày; có dòng sông nào qua gầm cầu mà không xoáy niềm đau; sự chia xa nào không mất mát, và một mất mát đáng sợ là thời-gian.
-“Bây giờ chị lại triết lý về cuộc đời rồi đó”.
-“Đời dạy cho mình triết lý mà anh, triết lý để tự an ủi mà sống còn, để tự cứu mình thoát khỏi những hiểm nguy rình rập, những mặc cảm tội lỗi”.
-“Hà ơi ! phụ Má một tay”. Tiếng bà Ký gọi khi đi chợ về. “Anh Tuấn sao lại đứng ngoài đó?”.
-“Cháu hút xong điếu thuốc rồi vào. Cháu phụ bác một tay”.
-“Má nhìn kỹ xem là ai?”.
-“Con là ...Quang phải không?”. Hai dòng nước mắt lăn dài trên má. “Con còn ở lại đây, thằng Ký nó đi ra Bắc từ ngày ấy; nó bảo hai năm về; nay đã bảy, tám năm rồi”.
Thời gian như dừng lại; để nhớ về những cười khóc thâu đêm; màu cờ máu, một tai họa giáng trên đất nước thân yêu, đảo lộn luân-thường, cảnh đấu-trường gào thét, những oan hồn lẫn khuất ... Bộ mặt mới phủ trên đường phố rong rêu tiềm-ẩn một tàn-phá chực thiêu đốt thành tàn tro của tham vọng; môt mụn nhọt đâm chồi chờ tàn phá từ tiền-kiếp chưa ăn năn.
Tiếng hát từ chiếc máy thu-thanh giọng ca sĩ như chùng xuống màn đêm; con tàu lắc lư chuyển bánh. “Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn, cầm chắc đôi tay tôi hỏi lòng đêm nay buồn không?”.
Dòng lệ rơi trên má nhăn nheo bà Ký; dòng lệ nào nhòe trên mắt Hà chua xót như cơn bạo bệnh quặn niềm đau; tiếng hát đã đưa Tuấn về Sài-gòn với hộp đêm, sàn nhảy rực đèn màu quay cuồng trong tiếng nhạc; nhưng nơi đó không giữ đước bước chân Tuấn, bởi nụ cười của cô hàng cà-phê như mùa Thu tỏa nắng, nụ cười dịu hiền trãi trên cánh đồng xanh lấm tấm hoa vàng mênh mông tận cùng của đáy vực tình yêu mà Tuấn đã tìm được.
Rồi mùa Đông sắp qua; màu vẩn đục của bầu trời u ám dần tàn đi bởi những tia nắng chiều dọi xuống từ phương xa. Cánh đồng xanh của mùa lúa lên đòng căn tràn nhựa sống, tiếng xôn xao của khách hàng với phiên chợ gần cuối năm nơi quận lỵ. Tuấn cùng tôi tản bộ về lại nhà trọ sau tiếng trống tan trường. Tuấn say sưa trong hương yêu, tâm sự về nụ cười bí ẩn của cô hàng cà-phê trên gương mặt hứa hẹn niềm yêu mà chiều nào Hà đã thay màu trắng cho chiếc áo màu đen muôn thuở.
Trái tim yêu còn thấy được thì ngại gì chiếc áo phải không Tuấn? Tôi cười san sẻ với Tuấn những buông thả trong giấc mộng đẹp của con người say chút men yêu.
-”Chiều nay cậu không đi uống cà phê với tớ phải không?”.
-“Bận rồi”. Tôi đáp, bây giờ thì không còn là “Áo em trắng quá nhìn không ra” mà là
“Ta vươn tình trắng nõn áo cung phi”.

Tiếng máy nổ dòn của chiếc Vespa dần chìm vào khoảng không gian nơi quận lỵ vào những ngày gần cuối năm như tiếng còi tàu ném vào khoảng mênh mông vô tận.
Tôi đang ngồi chấm mấy bài luận văn cho kịp sáng mai trả bài cho lớp học; cánh cổng chính bỗng mở. Một người đàn bà nhanh-nhẹn băng qua sân. Tôi đứng dậy bước ra, chưa kịp chào hỏi bà ta đã lên tiếng:
-“Xin lỗi ông, anh Tuấn ở đây phải không ạ ? Tôi là Má anh ấy, tôi muốn gặp anh ấy ngay bây giờ”.
-“Hình như anh ấy vừa rời nơi đây”. Tôi trả lời.
-“Lại đi rồi, khổ quá ! Tôi từ Sài-gòn vừa mới ra, nghe Cha Tân điện vào bảo anh ta bị cô hàng cà- phê nào mê hoặc rồi. Lại là ba cái thứ đó. Tôi đã đi hỏi vợ cho anh ấy rồi. Đời nào ba đời nhà tôi lại kết sui với thứ ấy được”.
Tôi đứng lặng người, nhìn bà ta ném mạnh chiếc ví tay lên bàn, tức tối, giận dữ; khẽ nhăn đôi mày lại, lặng thinh. Tiếng hát từ chiếc máy thu-thanh nghe tím bầm và lạnh ngắt. Tôi với tay tắt máy hát và cất tiếng xin lỗi, tiếng xin lỗi vô duyên nhưng tròn trĩnh; có lẽ tiếng xin lỗi quá nhỏ không đủ nghe nên bà ta bước đi nhanh, phảng phất mùi nước hoa khá sang trọng từ một giai-cấp quý phái, kiêu-hãnh gần như thiếu lịch-sự.
-“Tôi phải đi gặp Cha Tân bây giờ. Nhờ bác nhắn lại với anh Tuấn nhà tôi rằng tôi muốn gặp anh ấy có việc cần. Xin chào bác. Nhớ giúp dùm tôi nhé”.
Người tài xế mở cửa xe. Bà ta thoăn-thoắt lên xe, ném lại sau cái nhìn khinh-khi bực dọc.
Tôi đứng lặng nhìn cho đến khi xe bà ta khuất sau nẽo đường quanh. Mặt trời sắp lặn, màu đỏ bầm như máu kéo những vệt dài tràn ra tự phương Tây, hình-ảnh người đàn bà với những đường kẻ nứt hằn sâu đôi gót chân trần, bụi thời-gian đậm nét trên đôi má hồng lầm lủi, dắt hai đứa con vào những bãi cát ven làng tìm xác chồng, cố tìm cho bằng được về chôn cất kẻo hồn ma vất vưỡng không nơi nương tựa. Màu đen muôn thuở đã khóa chặt đứa bé từ thuở chào đời ... Tôi quay vào, ngồi trước bàn chấm tiếp mấy bài luận văn. Những dòng chữ quay cuồng, tôi không thấy gì nữa cả. Cuộc đời bỗng chốc thiêu đốt tàn rụi những hy-vọng đam-mê. Một lóe sáng vươn lên trong nụ cười của cô hàng cà-phê, chút vươn tình qua màu trắng rồi chợt nhòa vào bóng đêm, bóng đêm muôn thuở ám-ảnh mãi cuộc đời. Tôi nghe tiếng rì rào của biển cả cuốn dòng đời về tận cõi âm-u vô tận và những con tàu xa dần, mờ khuất sau tia sáng trãi dài của ngọn hải-đăng.
Những tia nắng hồng của một sáng mùa Xuân rộn ràng, ấm áp tô thêm sắc màu cho tà áo mới của đám học trò sau hơn một tuần được nghỉ về quê ăn Tết. Tuấn về Sài-gòn từ mấy ngày trước Tết, mãi đến nay chưa thấy trở lại lớp học. Cha Tân bảo là Tuấn có thể không dạy nữa vì phải vào trường Thủ-Đức. Một thoáng buồn dâng lên. Tôi nghe một chút xót xa nghèn nghẹn. Hình ảnh cô Loan trong tác-phẩm Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, thân-phận bẽ-bàng của một người đàn bà bị đè nặng trên vai bởi chiếc cùm “giai-cấp”. Từ hôm tôi biết chuyện tình của Hà và Tuấn sẽ không đi đến đâu, đã nhiều lần qua quán cà-phê song chưa một lần dừng lại đó; cô hàng cà-phê vẫn ngồi đó với đôi mắt buồn muôn thuở, nụ cười nào vừa hé đã vội tắt nhòa theo bóng đêm như dòng đời vô định.
Chiếc xe đò về Trung khởi-hành từ Sài-gòn dừng lại bên cổng trường. Người tài-xế vào văn-phòng xin gặp tôi và trao một phong bì thật kỹ, bảo là của thầy Tuấn gởi, rồi vội-vã cúi chào.
Cầm chiếc phong bì trên tay, tôi nghe như một chuyện tình vừa mất, nỗi chia xa thấm lạnh và cô-đơn. Câu thơ của một thi nhân tiền chiến nào hiện rõ trong tôi, âm vang gõ từng nhịp như tiếng con tim lịm dần rồi dứt hẵn của một bệnh nhân biết trước cuộc đời mình:
“Người đẹp vẫn thường hay chết yểu,
Thi nhân đầu bạc sớm hơn ai”.

Sau hồi trống tan trường, về nhà trọ không buồn thay áo, tôi nằm dài trên giường nghe lòng trống-trãi mênh-mông. Cái gì cũng buồn như nhau khiến lòng mình thấy buồn một cách vô lý. Mấy dòng chữ của Tuấn ở đầu thư : “Tuấn không trở lại trường nữa; vào Thủ-đức để mà quên. Quang ghé quán cà-phê xin lỗi Hà và Má Hà hộ cho. Đọc thư Hà, Quang sẽ rõ hơn”.
Nhìn qua những trang thư, tôi thấy như nhạt- nhòa bóng đêm của thân-phận. Vẫn những đọa-đày của giai-cấp sau lũy tre làng. Nhìn nét chữ hơi run trên những trang “pelure” màu tím nhạt : lá thư của Hà

Anh Tuấn,
Còn đúng sáu tiếng đồng hồ nữa là hết năm, em viết thư này cho anh, em muốn ghé lại sân ga trước một giờ khi tàu đến để nhìn lại chiếc sân ga nhỏ của một quận lỵ nhưng đã gieo vào lòng mình những tiễn đưa chua xót ngậm-ngùi.
Hơn sáu tháng, dòng đời vô-định nào đã đưa anh về nơi này, rồi mối tình thoáng đến với cô hàng cà-phê nơi chiếc quán bên đường nghèo nàn, mẹ góa con côi. Anh đã khơi đóm lửa tàn tưởng đã bị chôn vùi luôn trong hận thù giai-cấp rồi tàn phai theo thời-gian. Anh đã cho Má của em bớt đi một lằn nhăn trên vầng trán nặng trĩu những bất-hạnh từ lúc vào đời; và anh đã cho em một nụ cười vọng bến tương-lai, để một sáng nào hứa với anh là thay chiếc áo màu đen bằng màu trắng trinh nguyên mang mộng vào đời.
Tình yêu và chỉ một chút hương yêu đã thắp sáng những đêm dài bất-hạnh, đã mang tia nắng Xuân cho chiếc quán nghèo kể cả những khuôn mặt tươi vui của khách bộ hành, dù rằng hôm nay vẫn còn là một ngày lành lạnh của cuối Đông.
Khi cầm lá thư này trên tay, em vẫn cầu mong và xin anh đừng bóc thư vội, chờ khi anh bước vào nhà để anh khỏi phải thao thức nghĩ về em trên chuyến tàu cuối năm vốn nặng trĩu những buồn. Nhưng điều đó không thể nào đến được phải không anh? Như những lần ngồi bên nhau, anh cố tình đặt bàn tay nhỏ bé của em vào tay anh cho hơi ấm chuyền sang. Anh đã say sưa kể cho em nghe mộng ước mai sau tưởng đến khi răng long bạc tóc. Em vẫn còn nghe bên tai bốn câu thơ của Đinh Hùng cho giấc mơ của chúng mình:
“Rồi buổi u buồn em với tôi,
Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời.
Vai kề một bóng sương phong nguyệt
Hạnh-phúc xa xa mĩm miệng cười”.
Nhưng rồi chút hạnh-phúc chưa vươn đã vội tắt, em nhìn bên ngoài nhịp sống dồn lên, thúc đẩy xô lấp như một dòng lũ của một chiều cuối năm.
Âm-thanh nào đã đứt đoạn, tia sáng nào đã vụt tắt, một tàn lửa thoi thóp rồi lịm dần trong cùng-quẩn của một kiếp người.
Cách đây hơn một tuần, quán nghèo em lần đầu được tiếp một bà khách sang trọng, từ cách trang phục lẫn mùi nước hoa tạo nên một tương-phản rõ-ràng giữa chiếc quán nghèo bên đường với khách bộ hành thường nhật chỉ là ly cà-phê, ít kẹo bánh quê mùa làm quà cho lũ con thơ chờ mẹ qua mỗi lần tan chợ. Bà khách nhìn em như một giám-khảo sát-hạch một thí-sinh trong buổi tuyển lựa hoa-hậu, cái nhìn như cái nhìn của bà Phán Lợi nhìn cô Loan trong tác-phẩm Đoạn Tuyệt. Em nghe một chút lành lạnh qua tim và mong được bà ta phán xét để đở đi phần nào bầu không-khí nặng nề vây quanh khi không có Má em ở nhà. Thì ra, bà sang trọng ấy là Má anh. Giọng bà ta thật lạnh và sắc, bà chỉ có một yêu cầu ngắn ngủi là : “tha cho anh để anh trở về với gia-đình vì đám cưới linh-đình đã được sắp đặt sẽ tiến hành trong mùa Xuân”. Người con dâu mà bà chọn phải là cô gái nhà giàu, tài sắc vẹn toàn, gia-đình cân xứng! Bà cũng thật lịch-sự, thứ lịch-sự khả kính của mấy bà giàu có đi thăm bầy trẻ trong viện mồ côi để có dịp biểu-dương lòng thương hại. Má anh cũng lấy làm tiếc là anh đã gặp em hơi muộn. Thật thế không anh ??
Em chợt rùng mình nhớ lại cảnh nhiều lần đã xảy ra sau lũy tre xanh của giai-cấp và hận thù. Nơi mà người đàn bà trẻ quỳ lạy đức ông chồng như một nô-tỳ thời xa xưa và mặc sức ông chồng vác đòn gánh phang tới tấp vào vợ. Hình-ảnh một ông chồng cột dây dắt vợ ngang qua phố, chốc chốc lại quất vào vợ một roi mặc cho đoàn người theo sau - nhất là bầy trẻ con vây quanh - lâu lâu như để phân-bua cùng kẻ muốn biết câu chuyện - dù rằng câu chuyện vô căn cứ : “Tao đánh mầy cho chết rồi dắt trả về cho con gái mẹ mày: đồ đàn bà lăng loàn, lấy trai”. Khi ra về, bà mời em nếu có dịp vào Sài-gòn hãy ghé lại nhà bà ở địa-chỉ . . .
Anh Tuấn,
Em sinh ra vốn mang sẵn nỗi buồn vào đời song ít khi khóc. Có thể đây là lần đầu nước mắt tuôn dài. Em không tiếc vì phải xa anh, giọt nước mắt của hận thù, của giai-cấp cùng-đinh, của niềm vui và sự khắc-khoải là độc-tố của nỗi sầu miên-cữu không thề cắt nghĩa. Xin cho em trở về với hoa rừng cỏ nội, với tiếng chó sủa trong đêm của đồng nội, với bầy chim én trở về hàng năm nơi mái sân trường, trở về với mẹ, với chiếc quán cà-phê bên đường với khách bộ hành trên đường về sân ga nhỏ mỗi lần còi tàu gọi. Em nhẫm đọc lại mấy câu thơ nào xa xưa của Thái Can mà em đã học lõm được của cô bạn:

“Đứng dậy em ơi ! sống cõi đời
Đời dù khổ cực đến mười mươi
Em nên điểm phấn tô son lại
Ngạo với nhân gian một nụ cười”
Anh Tuấn ,
Thế là hết phải không anh? Em vui vẻ để tìm quên; định-mệnh đã trói buộc đời mình không thể nào vùng vẫy được. Chắc anh Quang đã kể cho anh nghe nỗi bất hạnh của gia-đình em, của em ... Nhưng thôi, đừng nghĩ làm gì. Chấp nhận số mệnh để giử niềm vui cho gia-đình, nhất là cho Má anh. Phần em, vẫn phải kéo dài cuộc sống này cho tàn hết kiếp thử xem dòng đời sẽ cuốn trôi mình vào đâu; quen chịu đựng để trở thành một kiên-nhẫn vô-thường. Hằng đêm, em vẫn nghe tiếng còi tàu báo hiệu rời sân ga xa dần rồi tắt, tiếng còi ấy đã mang anh ra khỏi chiếc ga trần, anh vẫn đi; về lai vùng trời ngày xưa và chiếc sân ga cùng cô hàng cà-phê vẫn miệt-mài theo năm tháng đọa đày nổi trôi của thân phận đắng cay.
Em tiếp dòng thư này cho anh tại sân ga; em mong tàu đến để nhìn anh, nhưng rồi em sợ tàu đến để phải xa anh. Đời toàn là nhưng phi lý, chợt đến chợt đi. Vài con chim lạc bầy ríu rít gọi nhau sợ bóng đêm tràn về. Bóng mây đùn lên phía trời tây; một bóng mây nào giống hình một con ngựa bạch chòn chân bay về một vùng vô định rồi khuất. Tiếng còi tàu;. . . cuối cùng rồi con tàu cũng đến với nặng trĩu toa đầy.
Người em không bao giờ đến,
Hà.

Mùa hè đến, hàng phượng vĩ nơi sân trường bắt đầu nở hoa. Những cánh hoa màu đỏ dần dần rơi rụng rồi chuyển sang tím sầm, tất cả đều tỏa ra hương vị ngọt ngào của tình yêu rồi nhạt nhòa nỗi chia ly phân cách. Nhưng tờ lưu bút ngập ngừng trao tay trên sân trường, đôi mắt buồn buồn của mối tình học trò vào buổi chiều cuối niên khóa. Trở về nhà trọ tôi nhìn bốn bức tường nhàm chán đến trơ trẽn và vô duyên. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn, sách vở bừa bãi, những tờ lưu bút với nét chữ học trò tôi không buồn đọc. Ánh sáng mờ ảo trong căn phòng đưa tôi về với ký ức, tìm kiếm môt quá vãng chồng chắt vô trật tự- từ nụ cười, lời kiểm điểm, giờ chia tay, bản nhạc nào của một thời xa xưa:
“Về miền Trung, còn chờ mong lúa về đồng xanh, một chiều nao khói lửa ngập đô-thành”.
Tiếng rì rào của sóng, chiếc tàu bồng bềnh lắc lư như thân phân chao đảo của con người. Tôi muốn ôm vào lòng mớ quá vãng ấy rồi đi thật xa không vọng một bến bờ; bởi một đổi thay nào trong cuộc đời của tuổi trẻ cũng là một đam mê hối thúc tìm về và thực hiện.
Hơn một tuần sau tôi thật sự rời quận lỵ, quyết định giã từ ngôi trường mà tôi đã dừng lại một niên khóa học. Trên đường về sân ga để xuôi Nam chưa biết phải làm gì : đi học lại, tìm việc làm hay vào lính, chỉ cần một thay đổi để thấy đời bớt tẻ nhạt là đủ rồi. Tôi ghé quán cà phê thăm Hà; Hà gầy hơn với nổi buồn đó đã tạo cho Hà nét thu hút khó tả.
-“Anh Quang vào Sài gòn dự thi phải không?” Hà hỏi.
-“Có thể và cũng không chị ạ. Đi là một giải thoát của tuổi trẻ dù là đi đâu? Bác lại đi vắng ?”
-“Má về phía nội. Sắp đến ngày giỗ . . .”
-“Ghé thăm chị rồi lại đi, tìm một nhịp điệu của đời sống thanh bình không phải dễ, câm lặng theo số phận hầu như đã định đoạt để an ủi kiếp đời mình, đó cũng là một lối thoát;rồi tháng ngày chìm vào lãng quên”
-“Riêng tôi thì không còn một nỗi buồn thống thiết nào hơn, đưa bàn tay chơi vơi giữa dòng nước xiết; về đâu? đi đâu ? như một trái chín rơi rụng, bến bờ nào cũng gãy đổ như nhau.
Tôi rời quán cà phê của Hà chiều hôm ấy, nỗi cảm nhận trong âm thanh niềm xót xa mơ hồ, hình như những đức kết đó đã hiện ở đôi mắt Hà từ ngày chào đời. Đôi mắt chực thiêu đốt đam-mê, đôi mắt chịu những oan khiên và nghiệt ngã.
Tôi chen trong dòng người đông đúc của những kẻ tiển đưa nơi sân ga; người ta có thể đọc được nỗi vui mừng, tiếng thở dài nhẹ nhõm, lời hứa hẹn tốt đẹp và cả những tâm tư nào một ê-chề của thất bại chia xa.
Con tàu đó đã thật sự đưa tôi đi thật xa vùng ký ức trong đó có cả Hà và Tuấn, những người đàn bà không có tuổi xuân, đến những con người chưa bao giờ muốn bước ra khỏi vùng đất mờ của dĩ-vãng dù bao thăng-trầm của lịch-sử.
Tôi trở lại Quảng-ngãi sau ba năm, cầm tờ điện- tín trên tay : “Về gấp để trình diện nhập ngũ”. Mới ba năm, khuôn mặt thành-phố đã lắm đổi thay, phố phường ồn ào và chật hẹp hơn. Thành-phố đã mất một chút thanh-bình vừa lấy lại được sau 1954. Ngày mai, dù có bận gì tôi cũng phải tìm lại quán cà-phê nơi quận ly thăm Hà; cầu mong có một sự đổi thay nào đó để vơi đi nỗi buồn cố-hữu bám mãi một kiếp người không còn lối thoát.
-“Bao giờ Quang đi trình diện?” Minh hỏi.
-“Ngày mai, vì mốt là đến ngày rồi”.
-“Chiều nay về nhà dùng cơm với gia-đình mình. Tao đã nói với bà già sửa soạn cả rồi”. Minh bao giờ cũng như thế, một thằng bạn luôn vồn vã vã, chân thực đến độ tội nghiệp. Minh kéo tay tôi vào quán cà-phê bên đường.
Tôi ngồi với tách cà-phê nóng bốc khói, chợt nhớ lại sự việc cũ, cô hàng cà-phê không phải là Hà; nhìn tách cà-phê, tôi bỗng dưng nghĩ mình đã đánh mất năm xưa; tôi cố tình đánh mất những chừng ấy thứ vẫn còn nguyên vẹn trong tôi.
-“Quang thấy cô hàng cà-phê đẹp không? Minh hỏi.
-“Hầu hết các cô hàng cà-phê đều đẹp”.
-“Đẹp nhưng nguy-hiểm. Coi chừng.”
-“Sao lại nguy hiễm? Mình chẳng hiểu Minh định nói gì”.
-“Dạo này tình-hình bất an, Việt-cộng đưa các nữ giao-liên vào nhà hàng, quán cà-phê để ám-sát, săn tin- tức, đại khái là điệp viên A. Z. Ngày mai có phiên tòa xử một cô hàng cà-phê đã lợi dụng sắc đẹp của mình chiêu dụ một số sĩ-quan rồi cho nổ lựu-đạn ngay trong quán cô ta.
-“Ở đâu và bao giờ?” Tôi hỏi một cách vồn vã.
-“Đức-phổ, quê của bạn đấy”.
Tôi bàng hoàng đến độ sững sốt và đoán chắc chắn là quán cà-phê Hà vì nơi quận lỵ này chỉ có một quán cà-phê duy-nhất. Tôi thầm cầu xin sự chính xác cần sai lệch 1/100 để không phải là Hà. Tôi hỏi lại Minh:
-“Bạn rõ tên cô hàng cà-phê chứ?”.
-“Rõ lắm. Hà. Đẹp lắm, đẹp đến độ mê luôn được. Giá là tớ thì sập bẫy từ lâu rồi.”
-“Sao lại là Hà. Không thể. Có thể là Hà bị oan vì cha Hà bị Việt-minh chém đầu năm 1945 mà”.
-“Sao lai oan? Cô ấy nhận tội rồi mà. Thôi, uống cà-phê đi. Ngay mai đi dự phiên tòa xem hư thực, nhất là diện kiến người đẹp. Người đẹp nào cũng nguy hiễm như nhau ở một góc cạnh nào đó”.
Phía bàn bên, mấy người vừa hớp một ngụm cà-phê xong lại chăm chú vào tờ nhật báo; cô hàng vẫn với nụ cười trên môi chào đón khách. Tiếng hát từ chiếc máy thu-thanh phát ra giọng ca trầm buồn, xa vắng :
“Bạn bè còn đó anh biết không anh? Người tình còn đây anh nhớ không anh? Bạn bè rồi quên, người tình rồi xa. . . .”
Bao giờ cũng vậy; chút tình buồn và buổi chia ly vẫn có sắc màu để lôi cuốn con người theo dòng đời trôi nổi hơn. Ly cà-phê sữa màu nâu đục tỏa mùi thơm chồn chân khách qua đường vào mỗi sáng. Sắc đẹp của những cô hàng cà-phê có là ánh đèn cho những con thiêu thân lao vào khi phải gác lại những tiếng vang dội kinh-hoàng của tràng đạn pháo-kích và tiếng quằn-quại đau thương của kiếp người.
Rời quán cà-phê về nhà Minh, tôi không tìm thấy một nét thâm thù nào của những cô hàng cà-phê, cả ở các khách sạn đã ghé qua. Có thật Hà là nữ giao-liên. Tôi đã đưa tâm tư mình về một phố thị buồn thiu, người nông dân mỗi chiều về với áo vải chân trần bước sau đôi trâu gầy, nghe hương cà-phê để sực tỉnh ước mo. Một bà nhà quê cầm cây chổi xua đuổi bầy gà chạy tán loạn khi chúng kéo vào sân phơi thóc. Mùi tóc thơm dầu dừa của cô gái quê nơi phiên chợ Tết. Mùi sữa pha lẫn mùi nước mắm của người đàn bà vội-vã về cho kịp cho con bú khi bầu sữa quá căng. Những nhọc nhằn và mơ ước đã thôi thúc con người phải tha phương tìm sống sau những mệt nhọc trên toa tàu chật hẹp, hôi hám vừa bước xuống, ngơ ngác giữa sân ga bao lời hỗn độn, chửi thề, văng tục phải chăng từ những nhu-cầu của kiếp người.
Đêm hôm ấy nơi nhà Minh, một đêm thao thức chờ sáng để nhìn lại khuôn mặt Hà, nhìn khuôn mặt tiềm-ẩn đó kể cả những lời đồn đãi về câu chuyện :“ Cô hàng cà-phê làm nữ giao-liên cho Việt Cộng”. Tiếng Đại bác xa xa từ một tiền đồn nào như tiếng mõ cầm canh. Vằng trăng hạ tuần chênh chếch núi. Tôi gọi Minh và hai đứa thả bộ về cầu Trà-khúc. Ánh hỏa châu rực lên từ phía Đông. Bỗng tôi rùng mình nghĩ về đứa em con ông chú họ : “Ngọc Ấm”
Mười sáu tuổi, Ấm được tiếng là đảm đang và xinh gái; nước da bánh mật, đôi mắt lá răm đã chao tình bao cậu trai làng. Tìm được rể là “trai hiền” cho xứng với ”gái đảm” trong một ngôi làng nhỏ bé không phải là dễ. Được mách mối bởi bà mai dong tốt, Ấm về làm dâu nhà địa-chủ cách mấy cánh đồng và một con sông. Quế, chồng của Ấm, cậu trai nhà giàu, có học đã bị xã-hội đương thời bỏ rơi từ sau ngày những lớp học tập, cải tạo trong lớp niên học 1952. Hiệp định Genève 1954; theo chủ trương của “Bác” và “Đảng” là “phú, quí, địa, hào : đào tận gốc, bốc tận rễ” nên thành phần con cái của họ được hâm nóng trở lại bằng lời hứa đầy ân huệ và nhiệt tình : ”Đưa ra Bắc học hai năm trở về” theo chủ trương mị dân của Bác, Đảng. Giấc mộng tưởng chừng như liều thuốc cứu sống đời của những người con trai thuộc thành phần trên, kể cả gia đình họ từ lâu hầu như bị xem là kẻ thù của nhân-dân. Giấc mơ vĩ-đại quá; sau hai năm mãnh bằng kỹ-sư, bác-sĩ trong tay... họ lần lượt bước xuống sân ga trên con tàu dài lê-thê từ Hà-nội vào Sài-gòn.
Sau ngày cưới một tháng, Quế vào Qui-nhơn rồi ra Bắc. Ngày tháng đợi chờ của cô dâu mới mười sáu tuổi đầu đã phải gánh vác hai gia đình để được tiếng là gái đãm đang. Ngày Đông cơn mưa cuối mùa quất vào thịt da; cô dâu trẻ bì bõm dưới ruộng lầy cấy xong một công ruộng cùng với những thợ cấy. Trời tối, bước vội lên bờ; thả hai ống quần vấy bùn đã xăn lên gối tứ lúc mờ sương, choàng chiếc áo tơi che mưa, tất tả vượt qua hai cánh đồng, lội ngang sông, tạt vào đám mạ xanh nhổ cho đủ một công mạ để ngày mai đi cấy tiếp. Ròng rã hơn một tháng trời nơi nhà mẹ chồng rồi về lo công viêc đồng áng phía cha mẹ đẻ. Nơi quê chồng không thễ tránh được những lời dèm pha, dòm ngó “có chồng tập kết”; hơn nữa, Ấm trẻ đẹp đương độ xuân thời trước bao cặp mắt thèm thuồng của các gã trai làng. Được hơn bốn năm sau Ấm về lại nhà cha mẹ đẻ; chỉ những ngày cần cho công việc đồng áng lại được gia đình chồng chiếu cố. Thỉnh- thoảng gia-đình chồng bí-mật nhắn tin “Quế sắp về, học hành giỏi, là kỹ-sư rồi đấy”: Mối tình đầu của cô gái quê mười sáu cố giữ cho trọn tiếng trong ngoài, ấp ủ mơ tưởng một thiên-đàng của ngày về chất chồng những hào-quang vinh-hạnh.
Rồi một hôm cô em chồng sang thăm chị dâu và đon đả về cho kịp đêm nay gặp anh Quế, anh đã về từ hơn một tuần ở bìa rừng “núi Cửa”. Khuôn mặt rạng rỡ hẳn lên, hai chị em lo thu dọn kịp qua đò sớm để về chuẩn bị cuộc gặp mặt đã năm tháng đợi chờ, tưởng chừng như vùng đất khô sau một đêm mưa hừng sáng.
Tội nghiệp ông chú họ, đời đã dạy cho ông mất hẵn niềm tin những gì Cộng-sản hứa. Ấm và cô em chồng ra đi từ lúc ba, bốn giờ chiều. Trời sẫm tối, ông dắt cậu con trai, hai cha con ra tận bờ sông ngóng đợi, trông chờ. Trời về khuya, bầu trời đen nghịt, tiếng máy bay, ánh đèn soi sáng được tung ra lơ lững trên nền trời rồi vụt tắt. Ánh đèn rõ ràng ở phía núi Cửa, phía mà cô con gái ông gặp chồng vào đêm nay. Ông hồi-hộp lo-âu nhưng thoáng một chút gì không may trong niềm lo-âu đó. Hai cha con mò-mẩn về lại nhà lúc gà đã lên cơn gáy đầu vào đêm gần sáng. Ông đốt nén hương và khấn nguyện điều gì không ai rõ. Sau này tôi được biết là ông cầu xin cô con gái còn có mặt cho sự trở về nội trong đêm nay. Những điều ấy không bao giờ xảy ra. Mờ sáng hôm sau, một chiếc thuyền nan đã mang xác của Ấm về lại vì một chuôi của viên đạn sáng rơi xuyên qua cổ.
Tôi và Minh bàng-hoàng nỗi xót-xa cho thân- phận, thân-phận của những người con gái vùng quê- hương tôi đã gánh chịu những đọa đày qua lời phỉnh phờ. Biết bao đám cưới đã diễn ra trong vòng từ một ngày cho đến một tháng rồi người chồng đi tập-kết sau hai năm, ba năm, bốn năm ... Nỗi chờ đợi trong lo âu bị tình-nghi cấu kết. Thêm vào đó đám trai làng chực phá, đâu để được yên thân. Lấy chồng khác lại mang tiếng với bà con, làng xóm, không thì lại mang tiếng “còn liên tưởng Cộng-sản”. Đã gọi là chồng vợ sao lại không liên tưởng; buồn - giận - muốn quên : chỉ có cách trốn đi thật xa hoặc vào chùa. Vào chùa thì cán bộ Cộng-sản tìm về, móc nối rồi trở thành cơ-sở giao-liên; không trở thành cơ-sở giao-liên thì bị thủ tiêu. Một trong hai con đường phải lựa chọn. Những tiếng đại-bác rồi ánh hỏa châu nơi tiền đồn phía Tây. Chúng tôi bước về nhà nhìn những chiếc thiết-giáp dần xa thành-phố.
Tôi đến sân tòa án vào lúc 9 giờ, trên sân đã khá đông người nhất là màu sắc nhà binh – những chiếc jeep đậu dọc bên bờ tường, nỗi buồn vui hiện rõ trên các khuôn mặt một số sĩ-quan trẻ ; kẻ thì may thoát chết, người thì tiếc rẽ vu-vơ ; lại là lúc được dịp các bà sĩ-quan lên lớp mấy ông chồng hay la-cà tán-tỉnh các cô hàng ca-ợphê, tiệm ăn. Tôi đứng yên lặng ngoài hành lang, không buồn bước vào, chờ Minh. Với điếu thuốc trên tay, dáng suy tư, Minh bảo: “Năm năm tù ở”. Hà khai là không biết gì cả. Sáng hôm ấy, như mọi sáng, quán ca-ụ phê mở cửa, độ 9 giờ thường lệ của một sáng Chúa nhật các sĩ-quan vào uống cà phê. Đang pha cà-phê, thì Má Hà gọi vào, nơi cửa sau ba bốn tên Cộng-sản đã sẵn lựu đạn trên tay, Hà sững-sốt không buông được lời nào thì các quả lựu đạn nổ. Ba sĩ quan bị chết, một số bị thương. Hà bị bắt, bị tra tấn, bị liên-hệ Cộng sản vì có anh đi tập kết.
- “Minh tin là Hà nói thật?”. Tôi hỏi.
-“Theo mình thì có thể đó là sự thật, vì Cộng-sản dùng bất cứ thủ-đoạn nào. Theo Quang thì sao?”.
-“Theo tôi biết, cha Hà bị chết chém năm 1945.
Năm học lớp 7, sau cuộc kiểm-điểm tư-tưởng thoát-ly giai-cấp, Hà không được chấp-nhận vì quá-khứ của gia- đình. Cùng lúc ấy các bạn Hà có người đã lấy chồng cấp bậc lớn trong quân-đội rồi ra Bắc. Hà ở lại với mẹ trong hoàn-cảnh đó, rồi chiếc quán bên đường dựng lại nơi vị-trí cũ, rồi tiếp theo một thế-hệ để gánh chịu những oan khiên”.
Còn nhiều những nghịch cảnh khác trong giai- đoạn này, mai Quang vào lính để nhìn những ngang trái của đời. Rồi đến lượt Minh cũng vậy thôi.
Chúng tôi bước đi giữa những con đường phố đầy lính tráng đủ sắc màu, cuôc chiến đã đến độ leo thang, thành-phố sặc mùi chiến-tranh. Đám dân di-tản từ các quận miền núi tràn về chen-chúc trong các trại định-cư. Những chiếc xe tải thương bấm còi inh-ỏi. Tôi rời thành- phố để vào quân ngũ từ đó.
Một lần gặp lại Tuấn trong mặt trận miền Tây, cũng ở quán cà-phê bên đường, Tuấn hỏi thăm Hà. Tôi bảo Hà bình thường, vẫn quán cà-phê cũ. Tôi không nói với Tuấn về Hà bị 5 năm tù; giử lại một ý niệm đẹp của một ngày xa xưa giữa hai người không có sự hối tiếc, hiểu lầm.
Rồi thời-gian trôi đi, tôi theo ngày tháng với nhịp chiến-tranh từ nơi nầy đến nơi khác; những phi-lý, vô nhân đầy ắp trong trái tim. Say sưa với mùi khói súng, rồi từng tràng đạn rít trong đêm, tiếng rên xiết của đồng-đội, những ánh mắt còn nuối tiếc đã vội lìa đời. Như người thợ săn say sưa lùng kiếm để rồi tàn canh trở giấc nghe từng nỗi nhức nhối quặn đau. Quê-hương, thù-hận ... ai gánh? ai chịu? Bến bờ nào để vọng đến, tìm về? Bếp lửa ân-tình trong đêm giao-thừa xa vời-vợi. Thân phận của con người, nhất là của những người đàn bà nơi quê-hương tôi gánh chịu một nỗi đọa-đày bắt nguồn từ tiền- kiếp nào không lối thoát.
Tôi về lại Quảng-ngãi sau hơn sáu năm làm lính. Thành-phố điêu-tàn và đông đúc hơn. Hỏi về Hà, Hà đã ra tù, lấy chồng là một cán-bộ Xây-dựng Nông-thôn. Một đêm Cộng-sản về ven thị-xã, ập vào giật sập nhà, giết chết anh Xây-dựng Nông-thôn, người vợ mang thai gần sinh còn sống sót hiện lưu-lạc trong túp lều định-cư quanh-quẩn đâu đây.
Con đường loang-lổ sũng nước mưa dẩn đến một túp lều định-cư tồi-tàn. Tôi do dự rồi bước vào nhà trong bộ quân phục một sĩ-quan. Người đàn bà từ phía bếp bước ra, tay bế một bé gái độ hơn một tuổi, ràn-rụa nước mắt bởi khói được un bởi rạ còn ướt dùng thổi cơm. Hà ngỡ ngàng, lau nước mắt nhìn tôi.
-“Ông tìm ai?À mà...Anh Quang”. Hà áp mặt vào vai tôi khóc như chưa bao giờ được khóc. Chiếc giường tre xiêu-vẹo. Hai tấm ảnh trên bàn thờ (của mẹ và của chồng). Đứa bé dương mắt nhìn tôi rồi úp mặt vào ngực mẹ.
-“Lâu lắm rồi, có đến gần bảy năm, tìm về thăm chị. Mọi việc giờ đã khác hẳn? Hoàn-cảnh chị, tôi đã được nghe kể lại. Biết nói gì khi định-mệnh đã trói buộc; muốn thoát khỏi vòng định-mệnh không phải dễ dàng”.
-“Bây giờ tôi chỉ còn là kiếp sống thừa; so lại hoàn-cảnh mình vẫn còn khá hơn nhiều người khác. Anh còn nhớ Tùng không?” -”Tùng nào?”
-“Tùng kết hôn cùng Nhuận chỉ một ngày rồi Nhuận đi tập kết.”
-“À, tôi nhớ rồi. Nhuận ngày xưa ở ban nhạc nhà trường. Nhuận con địa-chủ mà”.
-“Ngày Nhuận đi, Tùng ở lại. Gia-đình chồng chỉ một mẹ, một dâu. Công việc gia-đình chồng chất quá bề bộn, một mình Tùng chu-tất. Hai năm sau, bà mõi-mòn chờ, thằng con trai duy-nhất của bà không trở lại; bà lâm bịnh kéo dài một năm trời Tùng lo thuốc thang, bà chết, rồi lo chôn cất, ma chay. Sau ngày bà mất, Tùng tìm xin được một bé gái mồ-côi làm con nuôi. Tùng bị bệnh, mù mắt; nhà cửa bị bom đạn tàn phá, bấy giờ con bé dắt mẹ đi ăn xin khắp nẽo đường”.
-“Thành thật nói cùng chị, nhiều lúc tôi không đủ can-đảm nghe kể lại hoặc nhìn thấy; oan-nghiệt của chiến-tranh, hận thù đè mãi trên đôi vai của người đàn bà Việt-nam. Ai gây ra cảnh đó?”.
-“Còn ai nữa. Tùng bị mù từ khi được tin Nhuận có vợ ngoài Bắc. Đem cuộc đời trinh-nguyên, tuổi bướm hoa để đổi lấy bằng một kẻ mù lòa đi ăn xin ở vệ đường”.
-“Như hoàn cảnh chị, tôi là người hiểu chị nhiều nhất từ lúc hai gia-đình quen biết nhau. Biết nói gì khi quá tầm tay mình; sự thật khó giải bày, nỗi oan không ai biết. Câm lặng chịu đựng cho tàn kiếp.”
-“Nhưng chờ cho hết kiếp còn gì là thân, phải không anh?”. Tôi đưa tay bế đứa bé vào lòng.
-“Bây giờ chị sống bằng cách nào?”.
-“Lảnh được ít tiền tử tuất; rồi phải ráng chịu đựng qua ngày. Mua khoai luộc rồi ngồi bán bên vệ đường lấy tiền nuôi cháu”.
Một cảm-giác lạnh lẽo dâng lên. Căn nhà dường như trống trải thêm ra; chiếc mền cũ xếp gọn-gàng đặt cuối chân giường. Hà đi vào bếp lấy nước; đôi vai mỏng và gầy, chiếc áo cánh màu nâu lụn mụn những đóm vá nhiều màu sắc. Những nếp nhăn hằn lên đôi khóe mắt. Đường nứt ở gót chân hằn sâu xuống đánh dấu một quá- vãng chịu đựng, nhục-nhằn. Tôi trao đứa bé lại cho Hà, nghẹn lời chào, cầu mong còn một ngày gặp lại.
Cơn mưa chiều bắt đầu; tôi đi như trốn chạy, không còn đủ can-đảm nhìn lại một cách rõ-ràng. Hà bế con bước ra sân; mưa nặng hạt thêm. Âm-thanh thoát ra một cách hỗn-độn; tiếng người lớn, trẻ con, cả tiếng chó sủa và rồi tất cả chìm dần, chìm dần….
Tôi trở lại Quảng-ngãi sau hơn bảy năm tù nơi rừng thiêng nước độc. Về nhà cũ để nhìn lại người mẹ già đã ngoài tám mươi tuổi. Nhà tôi lúc nầy người ra vào là bọn công-an áo vàng, một tấm bảng to giăng trước hai trụ cổng: “Ủy ban nhân dân Tỉnh Quãng Ngãi”, bên trên treo lá cờ đỏ sao vàng. Đi dọc theo những con đường cũ tìm người quen biết để hỏi thăm . . . ; phố phường lạ hẵn ra, nhớp nhúa, rách rưới và sặc mùi nước tiểu bốc lên từ các đống rác ven đường. Hai câu thơ của Trần Dần trong “Nhân-văn giai-phẩm” thoáng lại trong ý nghĩ :
“Tôi đi không thấy phố, thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”.

Mấy cô giáo viên mới với trang phục bây giờ là chiếc áo cụt nâu, chiếc quần ngả màu cháo lòng, đôi dép râu mỏng như hai miếng mo cau mà thuở nhỏ tụi trẻ con trong làng cắt làm dép để bày trận giặc giả. Lũ học trò đủ màu-sắc, nhớp-nhúa, bẩn-thỉu; cuốn vở ở tay trái, vai mặt với một cây cuốc hoặc cây cào. Gặp đôi người bạn cũ, vừa nhận được ra nhau đã vội-vã lẫn trốn có khi quên đi cả lời chào thường lệ. Bộ mặt thành-phố bây giờ là thế đó. Các trạm gác lố-nhố bóng áo vàng; mọi người hớt- hãi, lo âu không dám đứng nói gì cho nhau khi được hỏi về việc gì. Mãi gần tối, tôi tìm được người mẹ già. Hai mẹ con ôm nhau khóc, không dám nói gì cho nhau, sợ lũ cán-bộ, công-an nghe được lại mang vạ nữa vào thân.
Ngày hôm sau, người hàng xóm cho chiếc xe đạp quá tuổi để làm phương tiện tìm thăm Hà. Ngồi trên chiếc xe đạp qua được một quãng đường bằng, đến khoãng đường ổ gà tưởng không thể nào dùng xe đạp được nữa. Tôi thấy được sự công bằng chí lý của Bác và Đảng sắp đặt. Tôi nói nhỏ với chiếc xe, vừa đủ nghe :
”Đến lượt mày cõng tao, không có một sự công bằng nào thích đáng hơn sự công bằng ở xã-hội này”. Nhìn mấy cô gái gánh cát đắp đập nơi ven sông, chợt tôi nhớ lại hôm nào nơi trại tù hai năm về trước. Một sáng Chúa-nhật, tù hình-sự và tù chính-trị được thả lỏng để hâm thức ăn cho cả tuần; một chú tù hình-sự choay choay chạy lai hỏi tôi:
-“Cậu, cậu (chú ấy quen gọi tôi bằng cậu) hôm qua cậu đi rừng,cậu có gặp toán nữ cán-bộ chuyển-vận không?
-“Gặp. Có gì vui không?”
-“Cậu không thấy sao ? Cái ngực tu-hít, cái đít cõng hàng”.
Nói xong chú ta cười tinh-nghịch rồi bỏ đi, sợ cán-bộ bắt gặp. Tôi mĩm cười. Tuổi trẻ đầy óc đùa bỡn bén nhạy! Số là hôm ấy, toán gánh gạo chuyển từ kho này sang kho khác, anh em tù chúng tôi gồm 21 người có hai Công-an dẩn đường. Trưa hè với cơn nắng chói chang, đường rừng quanh co, dốc đá cheo leo, nguy-hiễm; đôi lúc băng qua những đồi tranh bỏng cả đôi chân. Chúng tôi gặp một đoàn nữ chuyển vận. Tuổi họ vào khoảng từ 15 đến 30; áo quần toàn là đen đã ngã màu, lấm tấm những mụn vá, chân mang dép râu, quay hồng sẫm hoặc đen; tóc đánh con rít, trên đầu dội một chiếc khăn mỏng đủ sắc màu, đẫm ướt, nhớp-nhúa và trên chóp là chiếc mũ tai-bèo màu lá rừng. Mùi khét nắng lẫn mùi mồ hôi và dầu dừa đến lợm giọng.
Tôi không hiểu sức chịu đựng thần thánh nào đã truyền sang cho họ. Mỗi một người cõng trên vai thùng mắm lối 60 kg, hoặc một tấm sắt dài, loại sắt mà quân đội Mỹ đã dùng ở những sân bay dã-chiến để máy bay hạ cánh. Khi có lệnh nghỉ chân, họ tìm một nơi có tảng đá dựng; vừa tìm được thế tựa, họ thả nặng đôi mông ngồi bệch xuống đất, bắt đầu thở. Lâu ngày trong công-tác vận chuyển, quen đường lên xuống dốc nên chiếc mông bè và nhô ra sau, trong lúc đó thì bộ ngực xẹp lép như con hạc. Ngày trong tù, tôi ở đội “sản-xuất phân xanh”, phân tươi của đoàn tù đói vừa qua đêm được gánh ra một căn lều, nơi đó trộn lẫn với tro vừa đốt ngày qua mang từ toán sản xuất tro. Chúng tôi thay phiên nhau, dùng khăn bịt chặt mũi, nín thở vào xúc trộn một hồi rồi chạy ra xa tháo khăn để thở. Có hôm, một nữ cán-bộ ra trại phân lấy phân về để trồng rau.
-“Anh cho tôi lấy ít phân.” Cô ta hỏi.
-“Cán bộ cứ lấy. Nhưng bằng cách gì mang về?” Tôi hỏi lại.
-“Tôi làm được mà, quen rồi”.
Cô ta xúc đầy một thùng phân rồi lấy chiếc khăn phủ trên đầu, nhờ tôi chuyển thùng phân lên đầu cho cô ta đội ra về. Chúng tôi trố mắt nhìn nhau; đến rùng mình. Chợt một anh bạn tù thốt lên:
-“Ở tù lâu quá đâm ra thèm đàn bà. Nhìn đoàn vận chuyển hôm qua và cả hôm nay, nếu phải bắt buộc . . . thì chỉ vì “ con cái thôi”.
Cả đám láy nhau cười, rồi lặng im.
Ngày lúc mới 9,10 tuổi đầu, sau cuộc khởi-nghĩa năm 1945 tôi được nghe ở làng xã vinh-danh với câu:
“Khoai lang lột võ hai đầu,
Có chồng bộ đội là dâu bác Hồ”
Bây giờ Bác và Đảng đã nén được vô số con dâu vượt trên cả ngôn-ngữ; nếu ngôn-ngữ đã tả được thì cũng chỉ như một vài nhà văn nào thời tiền chiến: “Cô ta như một người đàn ông không đẹp trai“ hoặc là :” hai cô là hai cái cây, hai cô còn thua hai cái cây, bởi vì cây còn có hoa ra trái, đời con gái không sắc, không hương chẳng biết làm gì”.
Tội cho ngôn-ngữ đến độ cạn cả vốn liếng và rồi ngày nào trong tương lai hẵn sẽ không nghe : tóc mai, tóc thề, mắt biếc, môi hồng.
Mênh-mang với ý nghĩ bâng-quơ và sự công-bằng hữu lý : “Xe và người cõng cho nhau”, tôi tìm được Hà. Vẫn chiếc quán rách lèo tèo mái rạ và tấm phên che là tấm nylon. Những dòng nước tiểu khô thành vệt dưới chân tường, mùi khai tỏa ra đến nhức óc. Cô bé gầy xanh nghe có tiếng chân khách vội-vã chạy ra, con bé hao hao dáng Hà nhưng chỉ còn nhìn được đôi mắt đen buồn linh- động. Một người đàn bà bước ra, tưởng chừng đến 60 tuổi, gầy khô, tóc màu nâu cháy nắng, chằng đen cũng chẳng trắng. Hà nhận ra tôi, đứng đến lặng người.
-“Anh vẫn còn sống sao anh Quang?”.
-“Nửa hồn ma, nửa người về gặp chị đây. Chị lại về nơi cũ, lá về cội.
-“Sắp phải dời nữa rồi. Đêm qua, chính-quyền địa-phương quy-định thành-phần tôi thuộc diện phải đi vùng kinh-tế mới”.
-“Chị tội gì?”
-“Vô số tội.Trước năm 1945,cha tôi là Lý trưởng, cường hào. Năm 1952 tôi học-tập, cải-tạo không thành-khẩn, vẫn còn nặng đầu óc tư-sản. Năm 1963 tôi không thành-tâm cộng-tác để giúp-đỡ cán-bộ nằm vùng, cụ-thể như vụ lựu-đạn nổ tại quán cà-phê năm đó. Năm 1970 tôi lấy chồng ác-ôn, cán-bộ Xây-dựng Nông-thôn. Lý-lịch tôi như vậy nên tôi không được trú ngụ tại quê nhà, thành-phần nguy-hiễm cho chế-độ.
-“Bao giờ chị đi?”
-“Thu dọn, chờ lệnh”.
Tôi quay mặt đi. Lâu lắm rồi kể cả những ngày tháng nơi trại giam lần đầu tôi nghe nước mắt chảy dài mằn mặn đôi môi.
-“Tiện về thăm chị lần cuối, chắc chắn là lần cuối, vì không còn một dịp nào nữa”.
-“Anh uống ly cà-phê nhé !. Hà nói xong, bước lại bếp.
Ly cà-phê đen, thật đen, như bóng đêm bao la, đắng như cuộc đời Hà. Ly cà-phê một màu duy-nhất không có phần sữa tươi mát như mấy mươi năm về trước, ngày mà Tuấn đưa vào đời một đam mê huyền-hoặc ly cà-phê hai màu.
Tôi cõng “người bạn bình-đẳng” trên vai. Con đường về chìm trong quên lãng của suy-nghĩ. Phương Tây vẫn những rặng núi màu xanh, nơi đó Hà sẽ tạo một cuộc đời mới biết đâu lại là một quán cà-phê bên đường, nơi núi rừng xa xôi ở một vùng kinh-tế mới.
Tôi bỗng nãy ra một ước mơ - như lời thơ của Quang Dũng - ngày chúng tôi cùng dưới mái trường Trung-học :

“Em có một mình nhà hoang vắng quá
Mảnh chăn đào em đắp có hoa thêu.
Hàng của em chai lọ xác xơ nghèo
Tôi nhìn thấy mảnh quần xưa đã vá”.
. . . . . . . . . . . . . . .
“Tiền nước trả rồi trưa nắng gắt
Dường xa xa mờ mờ núi và mây
Lòng khách vươn qua vai sợi tóc
Ta thương mà em đâu có hay?”Ÿ

TRẦN ANH LAN.

 

2004-04-29 17:57:35