TÔI CÓ GIẤC MƠ VIỆT NAM TỰ DO


Nguyễn Quang
PHẦN HAI

Chương 59

Hoà Thượng Huyền Quang
Những năm tháng tù đày và quản thúc

Vô cùng thương tiếc
Các tù nhân lương tâm, những Khôi Nguyên từng đoạt giải Nobel Hoà Bình, các nhà lãnh đạo tinh thần cũng như thế tục khắp nơi đều thương tiếc Đức Tăng Thống Huyền Quang đã ra đi vì như Ngài đã nói:

“Cuộc đời tôi
Ở không nhà
Sống không đất
Tù không tội
Chết không mồ” (*)
 Đúng vậy, xin trích đoạn Từ tác phẩm Biển Đỏ Việt Nam đã được phổ biến trên nhiều website viết về Người: Và, các vị chân tu khả kính mà mỗi khi nhắc đến hoặc ai gặp cũng muốn cuối đầu tôn vinh, bước chân Họ như có một khoảng không cách mặt đất: Hòa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ, Đức Nhuận... Quý Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, Đức Cha Phan Văn Hoa khả kính... nơi Họ có một cái gì là linh hồn của dân tộc nầy và hơn hết với tấm lòng bác ái, yêu người thể hiện qua cách sống thật nhân bản của những vị này.
 Ngày ấy, Hòa thượng Thích Nhật Liên, Trưởng tử của Đức Đệ Tam Tăng thống, trao lại cho Ngài ấn tín Giáo hội và Di chúc của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Ngài dâng lời trước kim quan Đức Đệ Tam Tăng thống với lời hứa linh thiêng : "Dầu sẽ có muôn ngàn khó khăn, ngài không bao giờ chồn bước, quyết vận động đòi hỏi Nhà cầm quyền Cộng sản phải để cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý như trước năm 1975".
 Ngày 25.6.1992, Ngài viết Yêu sách 9 điểm, dài 9 trang, gửi 6 cơ quan lãnh đạo Nhà nước nói lên thảm trạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị kỳ thị và đàn áp trong suốt 18 năm ròng rã, tố giác việc tù đày, khủng bố hàng giáo phẩm như Cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, Hòa thượng Thích Quảng Độ, v.v...  tố giác Đảng và Nhà nước dựng lên Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm công cụ chính trị cho Đảng với manh tâm chia rẽ khối Phật giáo dân tộc và tiêu diệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Yêu sách 9 điểm mở đầu cuộc vận động Giải trừ Pháp nạn.
 Trong những lần gặp trực tiếp kẻ cầm quyền cũng như qua văn thư Ngài nhắc đến các lần ngài bị bắt và bị tố khổ từ những năm 50 tại Liên khu 5 cho đến ngày hôm nay, nhưng tất cả đều như tiếng kêu trên đồng vắng. Theo những tài liệu mật, ngày 17.8.1992, từ Hà Nội, Phan Văn Tánh, Trưởng ban Dân vận Trung ương gửi cho các Ban Dân vận, các Tỉnh ủy và Thành ủy một tài liệu "Mật" mang số 125/TUDV "về việc Huyền Quang và số phần tử hoạt động chống đối", nhằm chỉ thị cho Giáo hội Phật giáo Nhà nước tố cáo Ngài, và chỉ thị cho công an địa phương, đặc biệt ở Quảng Ngãi, theo dõi quan hệ trong và ngoài nước của Ngài, kiểm soát và "đấu tranh mạnh mẽ hơn" đối với Ngài.
 Đặc biệt những tài liệu tuyệt mật với những thủ đoạn chống phá làm tan nát Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất như phân hoá hàng ngũ tăng lữ, lôi kéo, răn đe, lấy Phật giáo đánh Phật giáo, nhất là củng cố thành phần nồng cốt trong giới tu sĩ và tín đồ và trọng tâm nhắm vào Hoà Thượng Huyền Quang, Quảng Độ.*
Với ngày 30/4 , ngày cộng quân đem quân xâm chiếm miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước bằng bạo lực, vào ngày 21.4.2000, Ngài viết bức thư dài gửi Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải và Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh, đề nghị Đảng và Nhà nước lấy ngày 30 tháng Tư làm "Ngày Sám hối và Chúc sinh toàn quốc". Sám hối trước sự chết chóc qua các chiến cuộc của hàng triệu Bộ đội miền Bắc và Binh sĩ miền Nam, hàng trăm nghìn nạn nhân chết trong cuộc Cải cách Ruộng đất, Tổng tiến công Tết Mậu Thân tại Huế, và các cuộc hành quyết trong các Trại Cải tạo sau năm 1975. Sám hối với người chết và Chúc sinh người sống, trong nghĩa Linh quyền cho người chết và Nhân quyền cho người sống. Ngài đòi hỏi phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, trả tự do cho tất cả tù nhân vì lương tâm, và bải bỏ Nghị định quản chế hành chính 31/CP.
 Song thái độ của các viên chức Việt cộng, trong một lần diện kiến với các lãnh đạo cao nhất của Việt cộng, Thủ tướng Phan Văn Khải không trả lời dứt khoát, đổ lỗi cho cán bộ thừa hành cấp dưới và tuyên bố : "Chúng tôi cũng biết có sai lầm, xin Hòa thượng từ bi hoan hỷ".
 Khát vọng của Ngài không phải chỉ là ước mơ, không còn là một giấc mơ nhưng là những gì hiện thực mà mọi người Việt Nam có thể cùng ngồi lại với nhau và cùng hành động vì con người, lẽ phải và công lý. Ngày 1.10.2003, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ tổ chức Đại hội Bất thường tại Tu viện Nguyên Thiều. Lần đầu tiên có sự tham dự đông đảo của 60 chư Tăng đại diện các tỉnh về dự. Đại hội Bất thường thành công viên mãn với sự thỉnh cử 41 Hòa thượng, Thượng tọa vào hai Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo. Những lời ứng khẩu của Ngài trong lễ bế mạc Đại hội hãy còn ghi mãi sâu đậm:
"Bao năm khó khăn quý vị biết rồi. Khó khăn từ cán bộ cao cấp cho đến cán bộ cơ sở. Nhưng mà thời gian đã gỡ rối các sự khó khăn đó cho chúng ta trong thời gian qua. Và trong tương lai, nếu còn gì khó khăn nữa, dù chúng ta không chờ cái đó, nhưng mà nếu cái đó không may xảy đến, thì chúng ta phải dạn dĩ chịu đựng và tiếp tục chịu đựng, để chúng ta có mặt với Giáo hội.
"Chúng ta làm thế nào cho đạo Phật phát triển hơn nữa, đạo Phật phát triển hơn nữa không giành quyền lợi của ai, không chiếm địa vị của ai, mà chỉ đem đạo Phật - đạo Từ Bi Hỷ Xả - giải thoát đau khổ cho chúng sinh nói chung và dân tộc Việt Nam nói riêng.
 Mong rằng tất cả những khó khăn trong tương lai, sẽ còn có ít nhiều chứ không phải không có, nhưng chuyện đó đối với chúng ta, chúng ta đã dày dạn lắm rồi. Không có gì phải ngại, không có gì phải bỏ cuộc. Mong rằng Đại hội đem lại cho quý vị một Niềm Tin mới sau mấy mươi năm không hoạt động và đầy gian lao, đầy tù tội cùng khắp trên đất nước
"Thưa quý vị, chúng ta là những người có thể nói rằng, chúng ta có thể bỏ danh, bỏ lợi, bỏ quyền, bỏ thế, thì chúng ta cũng chẳng ngại gì những khó khăn trong tương lai, nếu có. Trông mong quý vị nhất tâm và tích cực hơn nữa để giữ Giáo hội có mặt với dân tộc".
 Cuộc đấu tranh vì sự sinh tồn của Giáo Hội và các quyền cơ bản của con người của Người lan khắp từ trong nước ra quốc tế, sự phản kháng trước các tòa Đại sứ, Lãnh sự quán của Cộng sản Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua  với khầu hiệu : "Đừng sợ nữa, hãy dõng mãnh và Vô úy đưa con thuyền Giáo hội lướt qua phong ba bão táp !".
Và riêng với Ông Sư Nhất Hạnh, Ngài đã có thái độ cương quyết: ngày 20.3.2005, Ngài trực tiếp gọi điện thoại cho Ban Trị sự Giáo hội Nhà nước tỉnh Bình Định thông báo rằng Ngài không tiếp Sư Ông Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng thân Làng Mai theo lời yêu cầu của Sư Ông ngỏ ý muốn đến Tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định kính lễ Ngài.
 “Hãy đoàn kết bạn hữu lại và chia rẽ kẻ thù”, sách Quân Vương đã dạy như thế nếu muốn làm lãnh tụ và Ngài đã là lãnh tụ dẫn dân đi trong cơn pháp nạn cùng quốc nạn nhưng Ngài đã không chia rẽ lòng Người mà luôn trong bao dung trên con đường không còn cộng sản, không còn những kẻ man rợ cai trị đất nước khiến dân phải khổ đau trong tủi nhục.
Con đang quỳ xuống đây như mỗi lần chúng con ngang qua Thanh Minh Thiền Viện dù có chiếc xe công an chở tù bắt người luôn đậu sẵn một bên cửa Chùa, chờ chực hốt bất ai có manh nha đứng lên và nói tiếng nói lương tâm cùng Quý Thầy, con đang quỳ và cầu nguyện dù con là người thuộc tôn giáo khác song cùng sinh ra làm người trên đất nước Việt Nam: nay Thầy ra đi nhưng mãi mãi vẫn là linh hồn của dân tộc này, mãi mãi đến khi nào người Việt có được nhân phẩm xứng đáng với phẩm giá con người, có tự do, dân chủ. 


 ***

*Lời của chính Đức Tăng Thống.
*Tài liệu tuyệt mật ngày 18/8/1992 mang số 106/PA 15-16 của Bộ Nội vụ đưa ra các biện pháp chống đối Phật Giáo.
 ***