Chương 38
Đám cưới của người từ cõi chết trở về
Nhờ Ông Bill Gates và các tập đoàn truyền thông mà con người gần gũi nhau hơn, không mấy ngày thông báo qua mạng internet, anh em cựu tù Xuân Phước, mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần, cùng họp mặt để mừng thành hôn của người bạn tù trẻ năm nào nay đã năm mươi, cái tuổi theo quan niệm triết lý Á Đông biết được mệnh trời an định: ngũ thập nhi tri thiên mệnh.
Một người bạn có lẽ nhỏ tuổi nhất trong trại giam A20, song không phải thế, xin các bạn cựu tù còn sống sót hãy nhớ giùm ra xem… có đúng là cậu bé khoảng mười hai tuổi, trắng trẻo, đẹp trai, dễ mến - tên Nhật, theo lời em luôn sống bên cạnh Ông Hoàng Cơ Minh, khi vị lãnh tụ này chết trong chiến khu, sau đó em bị bắt và bị giải về Thung Lũng Tử Thần…
Trở lại với người bạn đang chuẩn bị làm lễ thành hôn, quý danh Phú Hải, thuộc nhóm trẻ đấu tranh vì quyền sống, quyền được học hành và thật sự anh là một người mẫu mực chăm chỉ học tập trong tù cho dù bị bắt bớ kèm kẹp như chỉ với một vài chữ tiếng Anh, Pháp còn sót trong túi khi khám xét bắt gặp sẽ bị cùm cả tuần lễ, nếu còn ngoan cố học nữa sẽ kiên giam luôn. Không lâu sau ngày bị kêu án trên mười năm, Phú Hải đã trốn thoát với hung tin trực tiếp từ miệng viên Giám thị trưởng ở đây: tù nhân này đã bị bắn chết.
Tất cả đều ngậm ngùi thương tiếc nếu câu chuyện xảy ra thật, song những gì Cộng sản nói bao giờ cũng phải xét lại.
Phú Hải trốn ra khỏi trại Xuân Phước, vượt biên giới phía Bắc, qua Trung Quốc… Chẳng may bị nhà cầm quyền Trung Nam Hải bắt và chuyển giao lại cho chính quyền Hà Nội. Tất nhiên ra toà và bị tăng án. Các bạn tù vẫn trong ý nghĩ người bạn trẻ năm xưa đã chết rồi, cho đến khi hàng chục năm sau đó anh lần lượt hoặc bằng điện thoại, hay trực tiếp đến từng địa phương từ Nam ra Bắc gõ cửa những người bạn năm xưa mà anh còn nhớ về địa chỉ mỗi người. Ai cũng ngỡ ngàng như có một bóng ma đứng trước nhà mình, cho đến khi nhận ra đó là chàng trai còn quá trẻ mà phải vào tù ngày nào.
Người Chị của Phú Hải, người từng đi tìm kiếm và thăm nuôi em trên khắp mọi miền đất nước có hình chữ S này, Bà ghé lại bàn của các tù nhân Xuân Phước, như rất quen thân và hiểu nỗi khổ đau từng trải qua của các tù nhân liền tâm sự: Ôi trại Phủ Lý, Nam Định, trên con đường đê nhỏ vào trại, một bên là núi, một bên là vực sâu, chỉ cần sẩy chân một cái là rơi tõm xuống đó…và lâu lắm mới có thể thăm nuôi một lần, song lần nào cũng gặp cảnh tù nhân bị chết, những chiếc cổ quan trên những chiếc xe bò chao đảo đi ra…về phía núi là núi. Trại Xuân Phước đi hoài lội mãi vào những con đường sâu thẳm tưởng chừng như đã đi tới nước Lào, nhưng không phải thế, nó là một cái thung lũng nằm ngay trên một tỉnh thuộc duyên hải miền Trung Việt Nam. Trại Thanh Cẩm mới đúng là gần về biên giới với các nước Đông Dương, chiều về trên những chuyến xe muộn phải lấc thấc trên con đường vào trại đường đi hiểm trở núi non âm u như chuẩn bị vào cõi hư vô, nơi giam giữ nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng Đoàn Viết Hoạt.
Ngồi quanh bàn tiệc các cựu tù nhắc về chuyện năm xưa, những giây phút im lặng như bàng hoàng vào một thời bi đát nhất của dân tộc và cũng đầy bi kịch đau thương với mỗi con người. Họ đứng lên với dân chủ, dân quyền xuất phát từ nhiều lý do khác nhau qua phương cách thực hiện cũng không giống nhau nhưng tất cả đều nhận thấy chính quyền từ địa phương đến trung ương càn quấy, tham ô, hối lộ, nhũng nhiễu dân… rồi bằng sự can đảm mà đứng lên. Không ai nghĩ sẽ đập tan bạo quyền ngay tức khắc, nhất là lúc nào chúng cũng đang say: say trong chiến thắng, say quyền lực, say trong dâm ô tửu sắc, say tiền để trở thành tư bản đỏ và say sưa chiếm đoạt tài sản của quốc gia cũng như tán tậu tài sản của các công dân, nên chúng luôn rất độc ác để bảo vệ uy quyền… Thế nhưng trong niềm tin của người Việt: ta phải sống xứng đáng với bổn phận và lương tri của con người trước bạo tàn, trước sự bại vong của dân tộc, nên tôi phải đứng lên…
Những nẻo đường đến với tự do, dân chủ có khác nhau và những gì mỗi cá nhân phải chịu trong áp bức đoạ đày một cách tàn nhẫn nơi mỗi người trong sự bị hành hạ đau đớn. Song đặc biệt không ai tỏ ra hận thù những người Cộng Sản, vì tất cả với cái nhìn chúng ta đều là người Việt Nam trong mong ước đất nước mình ngày một khá tốt hơn. Tất cả đều có vai trò trong giai đoạn mới và cùng nhau biết khởi đầu. Chúng ta đã phân rẽ vì những thứ học thuyết ảo tưởng từ ngoại bang rước về. Khởi đầu từ ngoại lai cũng sẽ trả lại cho ngoại bang, một ngày nào đó cả Nga và Tàu cũng sẽ không chứa hết các “đồng chí”, nhiều lắm là trong hàng ngũ lãnh đạo, còn người dân nếu có chạy theo các “đồng chí” cũng sẽ không được như Hoa Kỳ và các nước Phương Tây cho người Việt tự do tỵ nạn rộng rãi như miền Nam trước đây. Vậy ở đây và bây giờ chúng ta hãy tự giải quyết với nhau giữa người Việt trên tinh thần truyền thống dân tộc: hãy biết đối thoại, chấp nhận trưng cầu dân ý chọn thể chế theo nguyện vọng của người dân, tiến đến một Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo Hiến Pháp… Tất cả các cựu tù hiện diện đều nhìn nhau trong nhẫn nhục và chịu đựng, con đường Cộng sản phải ra đi là điều tất yếu, và mỗi người như tự nói với anh em: phải kiên trì nhẫn nại và cuộc chiến chống lại bạo tàn nham hiểm nhất, chúng ta cần phải biết yêu thương, tha thứ.
Một cựu tù – anh Vũ, nói về chiếc xe bò do anh điều khiển chở xác Cha Nguyễn Quang Minh, vụ Nhà Thờ Vinh Sơn, Sài Gòn, chôn Ngài theo lệnh Ban Giám thị như trốn chạy vào ban đêm, cũng trên chiếc xe bò lắc lư ấy mà hàng trăm lá thư một cách bí mật được chuyển về từng gia đình; một cựu tù không học được song lại chuyên lo cất giấu tài liệu cho anh em khiến có lần sơ suất bị bắt và bị kỷ luật, cũng có chuyện vui như có Ông Bộ Trưởng Thông tin và Chiêu hồi miền Nam trước đây vào tù lại ‘chiêu hồi’ sớm, cái gì ngon ông cũng dâng cho cán bộ trước, nhưng cũng tự hãnh diện là bất khuất… vì ông là bậc thầy trong kiến thức nên anh em chỉ còn biết ‘kính nhi viễn chi’. Song cũng chỉ là chuyện bên lề với anh em bạn tù về những kẻ cơ hội, lạm dụng thế gian mà vốn như triết lý nhà Phật: đúng là thế gian như thị. Mọi người cũng nhớ đến anh em nhà Bộ trưởng Ngô Khắc, Cụ Nguyễn Tú, Nhạc sỹ Vũ Đức Nghiêm trong sự khả kính… và nhớ rất nhiều về mọi chuyện, nhớ về Cha Luân bất khuất, Cha Vàng, Cha Chương, Cha Lê Thanh Quế (Dòng Tên), Cha Nguyện, Cha Tiến Khẩu, Cha Chức, Cha Bút, Cha Viết Linh, Cha Đệ, Linh mục Nhạc sỹ Huyền Linh, Cha Long, Cha Thuyên, Cha Hiếu, Cha Trần Đình Thủ và Quý Tu sĩ Dòng Đồng Công, Thầy Thác( Trí Siêu), Thầy Thương( Tuệ Sỹ)…Thầy Thế Hùng với bài Thánh ca nguyện cầu đêm Noel trong tù, cũng có mặt trong bữa tiệc cưới này, và mỗi người trong kỷ niệm riêng chung đầy Hy Vọng các Giáo Hội sẽ Phục Sinh cho dù hôm nay có những ông Cha xứ giáo dân thì nghèo khổ nhưng cũng ráng mà xuất ngoại một chuyến, thương con chiên quá, phải đến thành phố Los Angeles – thành phố Thiên Thần, rồi đến cái “mỏ vàng” Tiểu Sài Gòn, gồm những người Việt tỵ nạn sau bao nhiêu năm tích lũy bằng mồ hôi và nước mắt với hy vọng sẽ được cúng dường để về nước chia sẻ cùng với Mặt trận tổ quốc, Ủy ban đoàn kết tôn giáo, bọn tư bản đỏ mà đồng hành.
Lễ cưới ở Việt Nam thời hiện nay đều giống nhau về hình thức, ngoài nghi thức tôn giáo của riêng mỗi gia đình khi trở về nhà có Lễ Gia Tiên và có hình ảnh cô dâu mặc áo dài truyền thống, rồi kéo nhau ra nhà hàng trong chiếc áo trắng gọi là áo dạ hội như người Phương Tây, ở nông thôn thì dựng lên cái sạp to tướng, trang trí một chút thường với lá dừa, cả hai họ cùng đến dự tiệc. Song có nét đặc trưng cả nông thôn và thành phố tiệc cưới nào cũng mở nhạc hết cỡ âm thanh, đó là sự ồn ào khôn tả với những lời sáo ngữ thuộc lòng rất thật cải lương của các hướng dẫn viên nhà hàng, khiến nhiều người cảm thấy mắc cở về thứ văn hoá nhà hàng Việt Nam đương đại xã hội chủ nghĩa.
Chàng rễ hơn mười năm sau khi rời khỏi trại giam đã làm được điều nhiều người mong muốn nhưng khó làm, đó là một sự nổ lực: ghi danh vào một đại học mở và đã tốt nghiệp Cử nhân, hiện đang hành nghề Luật sư, tất nhiên trong lĩnh vực tư như bao công dân hạng hai khác - một Luật sư hạng hai khi không có đảng tịch.
Trước bàn tiệc theo thực đơn đến lượt con cá chiên thật lớn đặt giữa bàn, song món này chưa thấy ai vội dùng, cho đến khi có người nữ, vợ một cựu tù tách ra từng miếng nhỏ và chia cho mỗi người. Vẫn chưa ai vội dùng, một bạn tù trong anh em mới cất giọng lên tiếng nói rằng: đúng rồi, chúng ta hãy dùng đi, nó là biểu tượng hình ảnh vẽ lên lên đất để những người anh em Kitô giáo nhận ra nhau trong buổi đầu mới hình thành trong sự bách hại… Con cá giờ đây cũng trong ý nghĩa và hoàn cảnh như thế với những người quyết tâm xây dựng một đất nước tự do, dân chủ trên quê hương mình. Họ cũng đang bị bố ráp, bị tù tội, bị quản chế, bao chết chóc đau thương nhưng con đường trước mặt vì chính nghĩa họ không bao giờ từ bỏ.
Con đường đang hành trình càng minh chứng chính nghĩa về phía những người yêu tự do, con cái họ đang tiếp tục cuộc hành trình, và đang bị bắt bớ giam cầm vì dám đứng lên biểu tình chống lại sự xâm chiếm lãnh thổ, chống việc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa với mộng bá quyền đời mới của nhà cầm quyền Trung Quốc, và đau đớn thay trong lịch sử giữ nước và bảo vệ non sông bờ cõi chưa có triều đại nào lại bắt con dân của mình bỏ tù khi người dân ý thức và tự đứng lên chống lại ngoại xâm. Những lá cờ cùng giòng máu đỏ Lạc Hồng đang trào dâng trong mỗi con người Việt Nam dù là ở nơi xa tổ quốc, đó là ngọn cờ của lương tri trong mỗi con người mang dòng máu Việt và lương tri đồng loại qua Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc: đó là đánh cho chúng lương tri thức tỉnh, cho tỉnh dậy làm người, cho chúng tự “chích luân bất phản, cho phiến giáp bất hoàn”… cho chúng bỏ súng không bắn vào người yêu nước biểu tình… “cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
Điều đặc biệt khi tan tiệc trở về, mỗi cựu tù hầu như rất xúc động trước lời kể của Phú Hải về một người bạn tù nay trở nên nổi bật mang tính thời thượng, đó là LM Nguyễn Văn Lý, khi chung trại tại Nam Hà, có lần Phú Hải hấp hối, vị LM này này đã ‘đè’ em ra rửa tội, tất nhiên có hỏi mấy câu đúng luật đạo, nhưng em không còn nhớ câu gì… Khi được trả tự do, trên đường về Nam, nhân có một Nhà sư trẻ được phóng thích cùng ngày, em đã vào Chùa Thiên Mụ và trọ lại đây theo sự mến khách của Nhà sư dân chủ, sau đó em đến Nhà thờ của Cha Lý cũng như vị LM đã vào Sài Gòn và đến thăm nhà em, vị LM có lần đòi rửa tội lại lần nữa cho ‘chắc thật’, dù Ông đã cấp giấy chứng nhận đã làm phép rửa cùng thêm sức cho người tù… Anh Em cựu tù đều hân hoan trong bữa tiệc song qua câu chuyện ngắn có thật chưa ai từng được nghe, cũng là bi hài kịch nào đó của cuộc đời: từ chỗ ‘đè’ người rửa tội đến chỗ bị người đời đè ra bịt miệng… không biết các nhà thần học nghĩ sao trong chuyện này?
***
*Chú thích:
-Anh em nhà Bộ trưởng là Quý Ông Ngô Khắc Tỉnh, Ngô Khắc Tịnh.
- “đánh cho chúng chích luân bất phản…” là hịch Đánh quân Thanh của Vua Quang Trung.
- Tên Nhật, theo em ở chiến khu có nhiều tên, người viết được biết tên này qua những lần trực tiếp nói chuyện với em.
- Tiệc cưới tổ chức tại nhà hàng Đồi Sao 1, số 408 quốc lộ 22, An Sương, Quận 12, TP HCM, ngày 15/12/2007.
***