TÔI CÓ GIẤC MƠ VIỆT NAM TỰ DO


Nguyễn Quang
PHẦN HAI

Chương 35
Con ai vứt cổng Chùa này


           Sinh ra trong môi trường chiến tranh không biết là lành hay dữ, vì chiến tranh như một cánh tay dài của quyền lực để ổn định tình hình bên trong nội chính các quốc gia, muốn có hoà bình phải có chiến tranh.v.v.. nhưng chắc chắn có lắm điều không may trước sự bại hoại của con người từ cuộc chiến. Trước khi nói về sự lụi tàn dần của cuộc chiến Việt Nam, xin ghi lại sự biết ơn và kính phục những người đã tuẫn tiết khi cuộc chiến chấm dứt, nhất là những vị đã chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ Tự Do và lãnh thổ cho non sông có quần đảo Trường Sa, năm vị tướng: Đó là các tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, Lê Văn Hưng, tư lệnh phó Quân Đoàn 4, Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Đòan 5, Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7 và Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Đoàn 2. Trong hàng sĩ binh sĩ cấp dưới cũng không ít những tấm gương hiên ngang và khí phách tương tự. Điểm son này cần ghi lại cho các thế hệ mai sau vì là một trong những nét kiêu hùng của nòi giống.
          Các vị lãnh đạo tinh thần tiếp tục hy sinh trong cương vị của mình, không chịu từ chức cho đến khi bị tù đày, bị giam lỏng, bị tra tấn, bị chuốc thuốc độc cho đến chết có Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền, Đức Cha Phạm Ngọc Chi, Đức Cha Nguyễn Văn Hoa… Hoà Thượng Huyền Quang, Hoà Thượng Quảng Độ, Thượng Toạ Thiện Minh… Và các chức sắc khả kính thuộc các tôn giáo khác.
          Là một người đi tìm những quyền cơ bản cho chính mình và các bạn hữu, xin biết ơn vô cùng các bậc khả kính.
          Trong ước mơ có một thay đổi nào đó từ quê xứ mình, thuộc miền Trung Việt Nam, vì tôi đã chứng kiến cả ba vị lãnh đạo tinh thần đều như thế này: Ông Linh mục Hiệu trưởng tiền nhiệm và kế tiếp của một trường trung học Công giáo tên là Kim Thông, đều hủ hoá với học sinh kéo theo các Thầy đi thử ở đây cũng vậy! Ông Đại Đức Hiệu trưởng trường Bồ Đề cũng lấy luôn học sinh đẹp nhất trường và vị Mục Sư giả định kia loạn luân với chính cô em con vị Mục Sư là cậu mình!
          Đây là các sự thật, tôi ghi chú rõ ràng cuối bài viết.
          Vào những năm cuối cuộc chiến Việt Nam, trí khôn tôi cũng đã dần phát triển, tôi hiểu thế nào là một xã hội công bằng, tôi mong ước sẽ có một xã hội công dân tốt đẹp vì miền Nam lúc đó thật sự cần phải thay đổi, tất nhiên không phải là công sản vì tôi chứng kiến trực tiếp những gì cộng sản làm như giết người trả thù, không cần nghe tuyên truyền dù là về phía nào, tôi biết rõ những mưu toan và hành động của họ. Tôi cũng rõ một số trí thức miền Nam do mê mờ vì quá lý tưởng, trúng mỹ nhân kế hay đam mê rong ruổi tìm quyền lực mà trở thành những con rối của cộng sản như Lý Quý Chung, Lý Chánnh Trung, Nguyễn Văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận… cả các Tổng giám mục và Giám mục thân xác là hữu thần vì người nào cũng trông to béo “phúc hậu”, còn tinh thần vô thần đến mức nào không ai rõ.
          Trở lại những gì thèm muốn, cuộc đời thường xảy ra không theo những gì mơ ước, một chế độ thật sự tàn ác đã ngự trị trên quê hương, sự khởi đầu  từ 1975 đầy bi thương cho dân tộc. Một biển nhà tù mọc lên, như bao người Việt khác còn chút tình người, hoặc chạy tìm một thế giới nhân bản hơn, hoặc vì sự thôi thúc của tiếng nói lương tâm đứng lên vì các quyền cơ bản của các công dân mà phải vào tù.
          Trong tù nhìn lại hình ảnh các lãnh tụ tôn giáo bị giam giữ, nhiều vị bất khuất đến tử vì đạo, nhưng phần lớn không nắm giữ các chức vụ quan trọng thuộc các Giáo hội trước đó. Hầu như máu vẫn đổ nhiều hơn ở những người chiến sĩ, còn các lãnh tụ vì có “cái đầu” cao hơn người phàm nên chỉ hô hào? Người thân của tôi theo lời kể, dưới thời Vua Tự Đức đã chết đồng loạt chỉ vì làm chứng cho đức tin, không bước qua Thánh giá, Họ bị xô xuống giếng, Họ đều là dân dã. Còn trước mắt tôi vị Bề trên Dòng Tên, có lẽ là người làm bác ái nhiều nhất trong tù nếu được đề cử giải thưởng, nhưng các bạn tù vẫn phản đối, thậm chí làm cả thơ vè đặt lên chỗ đầu nằm của ông, không biết Ngài có bị ám ảnh vì tù thường thù dai lắm và họ nói còn sẽ đặt lên mộ ông cho đến ngày phán xét theo sách Khải Huyền! Nhìn ông Bề trên, người ta cũng có thể biết Giáo hội Công giáo Việt Nam đang hình thành như thế nào vì thường các Linh mục Dòng Tên là cố vấn cho các Giám Mục sở tại. Nhất là Bề trên Nguyễn Công Đoan lại viết và Giáo hội Công giáo Việt Nam phổ biến như một Hiến chương sống chung với cộng sản như thế nào trong tinh thần hiến dâng và hội nhập với chế độ cộng sản.
          Song trong tù, ông Bề trên của một Dòng vốn chống lại vô thần, nhưng ông muốn đi phép về nhà bất cứ lúc nào cũng đặng, khắp trại giam ngài có thể đi lại như trên tảng đá Thánh Phê-rô, nghĩa là theo truyền thống chống lại vô thần nhưng trong nhà vô thần rất tự do; diễn giải điều này trong đời thường nếu là chức sắc cao cấp trong các tôn giáo nếu chịu thỏa hiệp cộng sản sẽ được chế độ ưu đãi!
          Đúng vậy, bóng soi từ ngoài xã hội, các Giám mục, Linh mục thi nhau ra nước ngoài như đi chợ để làm mục vụ… ở Việt Nam đụng đến các Linh mục là chạm xé áo “Chúa Ki-Tô thứ hai”, nên tôi không giám phạm sự Thánh!
          Nói đền một ông lớn Thiên Chúa Giáo trong tù mà không nói đến Phật giáo cũng không công bình: người kêu gọi đảng cộng sản Việt Nam bỏ điều 4 Hiến Pháp nước CHXHCNVN, kêu lớn tiếng mạnh mẽ chỉ sau Thày Ba tức Thượng Toạ Thiện Minh, Thượng toạ Nhật Ban… kêu công khai giữa nhà tù. Thật hãnh diện cho Giáo Hội PGVNTN! Nhưng Ông Lê Mạnh Thác, tức Thượng toạ Trí Siêu lại là người được ở lại nhà thăm gặp nhiều ngày, ngủ đêm nhiều nhất! Các tù nhân phấn đấu có thành tích cao, nhiều lắm được duyệt cho ở lại với vợ con vài ba ngày, còn ông Tiến sĩ này thì ở lại cả tuần lễ. Thật hết biết, với tiếng cười quá to so với con người co ro bé nhỏ, đủ nói lên sự bất bình thường xa lạ này.
            Khi viết bài này vừa nghe tin tức, nhìn sang màn truyền hình nhỏ, ôi ông Thác lại xuất hiện cùng với mấy sư cụ do bà mụ Mười Anh nặn ra ngày nào gọi là sư quốc doanh, cả mấy ông chóp bu trong cái gọi là uỷ ban tôn giáo nữa để bàn về chuyện tổ chức Phật đản mang tầm cở quốc tế, theo tin từ BBC ông được Thủ tướng của cái điều 4 Hiến pháp mời làm trưởng ban tổ chức đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc và ông tiến sĩ nhận lời. Không biết mắt mình có bị quán lên sao, đúng thị là “anh chàng” nhà sư có tóc, chỉ thua Đức Bồ đề Đạt Ma cái bộ râu. Thật là thế gian như thị, Thày Thác ơi, “con” chỉ còn biết niệm: từ kêu gọi đòi bỏ điều 4 hiến pháp đến ôm chặt điều 4 hiến pháp rồi được nó bảo vệ cũng như quay lại bảo vệ nó! Đọc như kinh sẽ là: Chính nhờ từ điều bốn, với điều bốn và trong điều bốn mà được mọi vinh quang thay!
Đã bao người chết vì cùng theo lời kêu gọi, và Thày có nghĩ lại, chỉ tội nghiệp cho Thày Ba - Thượng toạ Thiện Minh, Thượng toạ Nhật Ban vì làm theo điều mình nói mà luôn bị công an cộng sản rong đuổi, quấy rầy.
Khi ra khỏi tù và các tác phẩm được viết lại tương đối hoàn chỉnh, tôi không cậy một Giám mục, Linh mục nào dù có vị là người thân của gia đình và thật sự có nêu vấn đề các vị ấy cũng tránh né gọi là “đức khôn ngoan”, tôi gởi thẳng trực tiếp đến Toà thánh La Mã qua email, gởi rất nhiều lần nhất là ở mục Liên hệ của đài phát thanh Vatican, rồi trực tiếp đến Linh Muc dòng Đa Minh - trưởng ban tiếng Việt, rồi nhờ chuyển đến Đức ông Phương.v.v. Nhưng không thấy ai trả lời, Mẹ tôi mới an ủi rằng: -ở đâu cũng chỉ bè phái thôi con, mình có đường ngay của Chúa dẫn đường khỏi lầm lạc là quí rồi.
Mỗi lần gởi thư điện tử vào thời điểm trước đây, ôi hồi họp mới làm sao: “run như run thần tử thấy long nhan… nhưng lòng thấm nhuần ơn trìu mến”. Mọi sự hy vọng rằng, ngay cả ở Toà Thánh La Mã cũng đừng để mỗi người Công giáo Việt Nam đến lúc phải nghĩ rằng rồi ra những gì từ thành Rome sẽ trả lại cho Rome.
Tôi viết lên những dòng này để nói lên một quan điểm: Các tôn giáo vào từng thời đại thâm nhập vào Việt Nam như các thuộc tính thiết yếu để dân tộc này thăng hoa, từ Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo, Thiên Chúa giáo… nhưng yếu tính của con người Việt Nam luôn có sự thờ kính riêng của mình: Kính Trời, yêu người, biết đoàn kết như truyền thuyết Âu Cơ, các con cái đều chung từ một lòng mẹ Việt.
Hiện nay, cộng sản đang dùng chiêu bài chủ động thoả hiệp để biến tôn giáo như thứ bình phong che đậy những việc làm tội lỗi đầy gian ác của chúng đối với dân tộc. Chúng ta đã học được những bài học từ thời Trung cổ về các nhà nước và tôn giáo, chúng ta cũng đã chứng kiến sự sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản Đông Âu, xin đừng vì những tham vọng riêng – mà biến thành những con rối làm bình phong cho bạo tàn chỉ tội nghiệp và khổ cho dân.
 Vì những quyền cơ bản của con người mà phải bị tù đày áp bức, và đến bây giờ ngay trên đất nước này, tôi học từ Đức Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền, mỗi sáng đều chuẩn bị một túi hành trang nhỏ vì nếu bị công an gọi đi khó có cơ hội trở về, trong đó không có gì ngoài thuốc men gồm: tiểu đường, suyễn, mắt, tim mạch… với bản án 20 năm, sau khi rời trại như bao tù nhân sống sót khác đều mắc nhiều chứng bệnh. Riêng chứng tiểu đường với nhiều biến chứng lắm lúc ù tai và loá mắt, không biết thật sự tôi có choáng mắt không khi ngoài kia:
Con ai vứt cổng Chùa này,
Cháu ai vung vãi đầy Cung Thánh đường?


***


*Trường Trung học Kim Thông ở Quảng Ngãi, vị Lm tiền nhiệm trong bài viết là Nguyễn văn Chế, 1968. Vị Lm kế nhiệm là Nguyễn Pháp, Thày giảng biến chất là Nguyễn văn Vui.
*Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề tên là Phước Hải. 1974.
*Mục sư loạn luân tên là Bùi Chí Ái, thuộc Hội thánh Tin Lành Quảng Ngãi.
*Việc Ông Thác ở lại nhà thăm gặp cả tuần lễ tại Trại Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai.
*Nhân một cuộc hội thảo về Hiến Pháp nước CHXHCNVN, Thày Ba đứng lên phát biểu đòi thay đổi điều 4 hiến pháp, đến Thầy Nhật Ban rồi ông Thác… tại Xuân Lộc, Đồng Nai.
*Mười Anh, tức Ông Đỗ Trung Hiếu, “kiến trúc sư” của của Phật giáo Việt Nam, chính thức thành lập 1980.
***