Chương 22
Trẻ em và xung đột vũ trang.
Mới đây một người phụ nữ ngoài bảy mươi được đề nghị trao tặng danh hiệu “anh hùng” và giúp cho hưởng các chế độ xã hội vì đã có công giết chết con đẻ của mình để giữ an toàn cho đoàn quân du kích trong lúc bị quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Đồng minh truy đuổi.
Đứa trẻ đã khóc thét suốt nhiều đêm do sợ hãi tiếng động đạn bom. Các cán bộ Việt cộng lúc đó đã làm công tác tư tưởng yêu cầu bà mẹ phải chôn sống đứa con mười mấy tháng tuổi của mình, ngỏ hầu không vì tiếng khóc của con trẻ mà bị địch phát hiện. Người phụ nữ đã đắn đo dằn vặt trước những lời đề nghị ngọt lịm của các chính uỷ, bà đã nỗ lực hết sức với những lời ru nhưng đứa trẻ vẫn trong cơn sốt hoảng sợ tiếp tục khóc. Thế là bà đành đoạn nói lời chia tay “thôi thì số phần của con vậy”, trước khi mang con đi chôn sống.
Người đàn bà theo lời kể trong đêm khuya hôm ấy đã lẳng lặng một mình mang cháu bé ra mé rừng, rồi moi cái hố nhỏ bỏ thằng bé xuống, vùi lấp lại. Đứa bé đã không còn khóc nữa, nó đã hoàn tất “sứ mệnh” của kiếp người: làm nên sự yên lòng cho các chính uỷ Việt cộng.
Người mẹ đờ đẫn, bơ phờ ra về đến nơi trú ẩn như xác không hồn, bà đã làm một việc mà không nghĩ mình đã làm. Bà chỉ còn nghe lập lại, “đây là mệnh lệnh của đảng”. Và tiếng khóc đứa trẻ thật sự không còn nữa. Mọi sự an toàn cho những người đang trốn chạy, theo như lời các ông đảng viên cộng sản.
Người mẹ sau đó dần dần trở nên bất bình thường, kể từ đêm hôm ấy. Một hồ sơ bệnh án tâm lý thần kinh hình thành dù vô hình đối với một con người sẽ còn nhiều nước mắt chảy dài cho đến hết cả đời người, trong nỗi nhớ con cùng sự cấu xé về việc làm của mình. Bà đã hy sinh đứa con vì những lời mỵ dân cùng sự dốt nát kiến thức khoa học sơ đẳng trong việc chữa trị trẻ con khóc đêm. Chỉ cần cho bé một liều thuốc an thần nhẹ là trẻ sẽ ngủ say, thay vì hy sinh mạng sống của một con người. Người phụ nữ ấy chôn sống con, theo lời khuyến dụ của những kẻ làm chiến tranh. Thế nhưng khi cộng sản Hà Nội chiếm được miền Nam, họ đã quên hẳn người đàn bà bất hạnh đó.
Người mẹ giết con thật sự đã bị quên bẵng sau hơn ba mươi năm. Mới đây có một người già nào đó trong số những du kích năm xưa nhớ lại, khi nhìn thấy thân phận quá đau thương mất mát cùng khổ của người đàn bà năm xưa. Hằng ngày trong bộ quần áo rách nát, bữa no bữa đói, bà phất phơ, lẩn thẩn đi tìm con. Bà luôn quanh quẩn nơi vùng đất ngày xưa chính mình đã chôn sống người con thân yêu, nay đã gần bốn chục năm, nghĩa là Nó đã gần bốn chục tuổi đời. Hình ảnh đứa con và việc làm rồ dại năm xưa luôn luôn trong tưởng tượng và ám ảnh của người mẹ.
Người mẹ này, nay đã ngoài bảy mươi, hiện đang sống tại Tỉng Quảng Nam, miền Trung Việt Nam.
*
Một trường hợp khác, người đàn ông trung niên kia, quê ở Hà Nam, thất thểu tìm cha đã chết trên chiến trường miền Nam. Anh ta nghe mẹ kể lại lúc vừa tròn ba tháng tuổi, bố đã ra chiến trường và không bao giờ trở lại. Cầm trên tay những lá thư giấy đã ngả màu, bên cạnh anh là nhiều người tâm thần khác đang đào xới. Hy vọng. Rồi lấp lại một cách tuyệt vọng trên những vùng đất mà họ được bắn tin có người thân đã mất. Người con tìm cha này tên là Trần văn Thể, 44 tuổi, hiện đang sống tại Sài Gòn.
*
Trẻ em và chiến tranh qua hình ảnh Kim Phúc là một điển hình. Bé gái Kim Phúc vừa chạy vừa khóc la, không mảnh áo che thân vì bom napal. Lửa bám trên thân người phía sau lưng em như cây đuốc. Khi vết thương trên thân thể cô bé chưa lành, đám cường hào địa phương đã lợi dụng vết thương chiến tranh của nạn nhân cho mục tiêu chính trị và quyền lợi của họ. Vẫn chưa yên, nhà cầm quyền Hà Nội qua Thủ tướng không do dân bầu, Phạm Văn Đồng đã vuốt ve cô bé bằng nhiều hình thức mỵ dân khác nhau. Nhưng rồi chân tướng của sự dối trá và bản chất chế độ tàn độc cũng lộ ra. Cô gái Kim Phúc đã gián tiếp tố cáo, lột trần bộ mặt thật khi chạy trốn từ Cuba, đi tìm tự do, tỵ nạn, định cư cùng gia đình tại Canada.
*
Một gia đình gồm toàn con trẻ là nạn nhân của chiến tranh. Ông bà nay đã chết nhưng các con hiện vẫn còn sống tại miền Trung Việt Nam. Cuộc sống với những người con còn lại này chỉ là một sự tồn tại gần như là đời sống thảo mộc. Họ luôn trong nỗi ám ảnh về bom đạn. Ngày kia, sự kinh hoàng đổ xuống trên đầu mỗi người, khi trái đạn pháo kích do Việt cộng pháo vào thành phố rơi trúng ngay nhà họ nhằm ngay bữa cơm chiều. Từ đó gia đình tan nát kẻ chết đã chôn, riêng với người còn sống mỗi người một bịnh trạng của hội chứng thần kinh chiến tranh Việt Nam.
Nhiều gia đình miền Bắc có con em vào xâm chiếm miền Nam, mấy anh em đều chết hết. Bề ngoài các gia đình đó phải tỏ ra “hồ hởi”, nhưng trong thâm tâm không người nào, không gia đình nào không hằn sâu vết thương chiến tranh với bao đau thương mất mát, chỉ có điều không thể nói thật, phải nói láo để mà sống. Quả là một thứ bệnh lý thần kinh trong người dân thời chiến tranh, với hội chứng lâm sàng là nói sảng, nói khoác, thói ba hoa phóng đại, nói hùa theo không cần suy nghĩ. Tôi phải vỗ tay để chứng tỏ tôi không bị què cụt cánh tay!
*
Thế giới quả là một trò đùa – Le Monde come un jeu, trò đùa như tên của một tác phẩm nào đó đã gợi ý. Trò đùa khi những kẻ làm chiến tranh và ủng hộ các chế độ quân phiệt khiến bao con trẻ phải chết non chỉ vì mục đích phải tiếm đoạt chính quyền bằng mọi phương tiện, nay lại kêu gọi, tổ chức hội nghị bàn về đề tài trẻ em và xung đột vũ trang .v.v…
Năm 1968, Mậu Thân, người viết chứng kiến hàng ngàn bộ đội Việt cộng từ Bắc vào Nam nằm chết la liệt thê thảm trong các thành phố cũng như ngoại ô, phải dùng xăng mà đốt. Nhìn các bạn ấy sao mà chết trẻ như thế, với tuổi khoảng mười lăm, mười sáu… Trong túi áo mỗi em thường đều có các chiếc khăn tay thêu tên người yêu hay có thể là của em gái mình lúc tiễn biệt. Những bạn trẻ kia có khi họ bị xích chân vào các cổ pháo và đã chết chùm, sự hôi thúi đến nôn mữa là chuyện rất sự thường vì không ai chôn kịp, tôi đã đi ngang qua những xác người anh em miền Bắc bị bắt buộc vào Nam này, có bạn còn xăm trên người “sinh Bắc tử Nam”. Tôi biết rằng sẽ không tìm được cái gì hơn, ngoài cái chết để rồi chỉ còn biết ngậm ngùi: sẽ còn chết nữa khi thế giới vẫn còn lòng tham vọng, tỵ hiềm và dối trá.
Ở những khu tập trung vào thời chiến tranh, các Thị Xã, Thành phố của miền Nam trở thành khu an toàn, nhất là vào ban đêm không sợ Việt cộng vào khủng bố, bắt cóc, ám sát. Nơi đây cũng đầy dẫy các em bị cụt chân, chột mắt hay bao thương tích trên người. Sau chiến tranh còn thêm đội thiếu nhi ở nông thôn bị đạp phải mìn từ tàn tật đến mất mạng. Thậm chí do cuộc sống quá khó khăn phải đi đào và cưa bom mìn bán ve chai, sắt vụn phải tử thương.
Hình như chưa có công trình nghiên cứu nào về các lãnh tụ không có gia đình mà điều khiển quốc gia. Tôi tin rằng họ sẽ có rất ít những cảm thông hạnh phúc từ bên trong gia đình cũng như những đổ vỡ từ tế bào nền tảng này. Do đó nếu có lời kêu gọi đến Cái Thiện Tối Thượng cũng chỉ là hình thức – Souverain Bien. Họ lại càng có sự quan hệ với phụ nữ như một trò chơi xác thịt, thời một cách khách quan xét cho cùng những lãnh tụ đó chỉ vì quyền lực cá nhân. Sự lên tiếng của họ cũng chỉ là những qui luật phải có trong phạm trù điều khiển quốc gia. Nó không xuất phát từ yếu tố tự thân xây dựng trên nền tảng có giáo dục từ gia đình cũng như xã hội trong mỗi cá nhân ấy. Thực tế các lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam là “phi mỹ nhân, bất luận anh hùng”.
Theo Tân Hoa xã, có đến chín mươi lăm phần trăm cán bộ tham nhũng ở Trung Quốc có vợ bé - like father like son, quan thầy nào chư hầu nấy. Tệ trạng tình nhân đã tiêu tốn mỗi năm hàng trăm tỉ Nhân dân tệ cho chuyện ăn chơi trác táng. Ở Việt Nam, cụ thể có hàng Thứ trưởng Việt Tiến, Tiến Dũng, cha con Mai văn Dâu ăn chơi nhất Hà thành, có cả Chủ nhiệm Uỷ ban thể dục thể thao tương đương cấp Thứ trưởng tên Quốc Dũng do có quá nhiều tiền mà mua dâm gái vị thành niên. Không ít đã được công khai hoá song còn nữa vô số với cả trăm nhân tình qua công thức: quyền, tiền, gái.
Tất nhiên hậu quả dẫn đến những lần nạo phá thai với các em chưa đến tuổi trưởng thành phải mang thai. Biết bao nhiêu hài nhi bị phá non, chết yểu. Con trẻ được “bảo vệ” trong thời bình là như vậy!
Các quan ông như thế còn các quan bà cũng không thể vì nhịn thèm mà không ăn nem. Việc quan hệ tình dục bừa bãi cùng sự vận động triệt để truyền bá rộng rãi nhiều cách phá thai của các “mụ” cán bộ phụ nữ Việt cộng là chuyện quá phổ biến. Có thể những con người chưa chắc đã biết thế nào là duy vật nhưng cách sống duy vật này đã đi trước nhân loại trên bình diện thực tiễn. Một nền đạo đức về quan niệm con người từ đâu đến, sống chết và sẽ đi về đâu? Khi nhân loại sẽ thành công trong việc nhân bản hoá con người? Có lẽ chúng ta đã nghĩ thay cho họ thế thôi, vì có mang ngọc trai mà ném vào chuồng lợn cũng vô ích!
Tôi đang viết lại bộ Tâm lý Thần kinh Chiến tranh Việt Nam từ những năm tháng nằm trong tù mà suy nghĩ, nay nhân có chuyện Hà Nội tổ chức hội thảo tại Liên Hiệp quốc về “Trẻ em và xung đột vũ trang” mà có ít dòng ưu tư này. Không biết những kẻ như trùm ma tuý Khunsa, tập đoàn quân phiệt Miến Điện có đủ tư cách để nói về những vấn đề đạo đức với con trẻ hay không; song trên thế giới vẫn còn những người thuộc nhiều nước ngồi lại để nghe chúng!
***