TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM
Nguyễn Quang

Chương 66
Kỷ nguyên của lo âu

            Bán thế kỷ hai mươi là những năm thật sự là “kỷ nguyên của lo âu”, thế nhưng sang thế kỷ hai mươi mốt vai trò của phụ nữ được đặt trọng hơn không biết chúng ta có bớt lo âu trong tầm tay của phụ nữ. Sự biến đổi mọi mặt của đời sống một cách nhanh chóng, giá trị truyền thống như mất đi… đó là những lo âu cho cá nhân và các nhà hoạt động xã hội về mọi mặt…
Lo âu là một cảm giác lo sợ lan toả hết sức khó chịu nhưng thường mơ hồ, kèm theo một hay nhiều triệu chứng như cảm giác trống rỗng ở thượng vị, tức ngực, hồi họp, vã mồ hôi, đau đầu và mắc đại tiểu tiện, bực tức, bất an, đứng ngồi không yên.
Lo âu là một loại tín hiệu báo động, nó báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, và chủ thể phải chuẩn bị đương đầu trước sự đe doạ.
Sợ cũng là một tín hiệu báo động tương tự nhưng khác với lo âu: sợ là chuẩn bị đối phó với một đe doạ đã được biết trước, còn lo âu là sự đối phó với một đe doạ không được biết rõ, rất mơ hồ.
Lo âu bình thường có thể điều trị bằng trấn an hoặc liệu pháp tâm lý
Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức và kéo dài không tương xứng với sự đe doạ. Chứng nầy rất khó mất đi và chủ thể thường kèm theo những ý nghĩ cùng hành vi thái quá nhiều khi đến vô lý.
Trầm cảm và lo âu thường đi đôi với nhau và nhiều bệnh nhân trầm cảm đôi khi cảm thấy lo âu khó chịu hơn cả các triệu chứng trầm cảm của họ. Chủ thể tâm thần phân liệt có thể cảm thấy một sự lo âu toàn bộ và sa sút tâm thần. Lo âu có thể vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của việc bố ráp thường xuyên về cả hai phe trong chiến tranh.
            Ám ảnh sợ là sợ một cách vô lý đưa đến sự tránh né có ý thức những đồ vật, những hoạt động hoặc những tình huống thường không nguy hiểm với nhiều người khác. Sự sợ hãi này gây đau khổ cho người bệnh như sợ mảnh bom, mìn, sợ từng viên đạn lớn nhỏ, dù họ biết rằng sự sợ hãi đó là vô lý.
Hiện nay theo bảng phân loại quốc tế các bệnh lần thứ 10 (ICD – 10) của Tổ chức y tế thế giới thì ám ảnh sợ khoảng rộng còn được dùng để chỉ tất cả những ám ảnh sợ có liên quan như sợ đám đông, sợ ở nhà một mình, sợ vào rạp hát, tiệm ăn, sợ đi một mình trên những phương tiện giao thông như xe lửa, xe buýt, máy bay, đi qua cầu hoặc đường hầm mà không có bạn bè hoặc người thân đi kèm và tâm trạng của nạn nhân chiến tranh trước cái chết.  
Ám ảnh sợ khoảng rộng có thể xuất hiện riêng lẻ nhưng thường kết hợp với cơn hoảng loạn và dường như sự ám ảnh sợ khoảng rộng như một phản xạ có điều kiện sau khi chủ thể gặp cơn hoảng loạn nơi công cộng.
Sự hoảng loạn của những người Việt Nam sau khi được trang bị vũ khí Mác Lê Nin: qua cuộc cải cách ruộng đất, con tố cha, vợ tố chồng… con người dưới sự lãnh đạo của cộng sản trở nên hận thù nhiều hơn và người giết người chỉ cần một phân ranh rất nhỏ, chỉ cần khác nhau một chút về quan điểm mà không cần nghĩ ngợi.

***

            Machiavelli, một triết gia chính trị người Ý từ cuối thế kỷ 15 đã viết: "Cứ vu khống, tiếp tục vu khống, một cái gì đó sẽ lưu lại (calomniez et calomniez, il en reste toujours quelque chose). Cộng sản, quốc xã trong thế kỷ 20 đã làm như thế. Và trong chiến tranh nó lập lại những điều thường do con người dựng lên để tạo hiềm thù mà có cớ giết nhau và cứ nói láo, nhiều lần và mãi mãi sẽ thành sự thật.
Hình như chưa có công trình nghiên cứu nào về các lãnh tụ không có gia đình mà điều khiển quốc gia. Nađa tin rằng họ sẽ có rất ít những cảm thông hạnh phúc từ bên trong gia đình cũng như những đổ vỡ từ tế bào nền tảng này. Do đó nếu có lời kêu gọi đến Cái Thiện Tối Thượng cũng chỉ là hình thức – Souverain Bien. Họ lại càng có sự quan hệ với phụ nữ như một trò chơi xác thịt, thời một cách khách quan xét cho cùng những lãnh tụ đó chỉ vì quyền lực cá nhân. Sự lên tiếng của họ cũng chỉ là những qui luật phải có trong phạm trù điều khiển quốc gia. Nó không xuất phát từ yếu tố tự thân xây dựng trên nền tảng có giáo dục bởi gia đình cũng như xã hội trong mỗi cá nhân ấy. Thực tế các lãnh tụ Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam là “phi mỹ nhân, bất luận anh hùng”.
Theo Tân Hoa xã, có đến chín mươi lăm phần trăm cán bộ tham nhũng ở Trung Quốc có vợ bé - like father like son, quan thầy nào chư hầu nấy. Tệ trạng tình nhân đã tiêu tốn mỗi năm hàng trăm tỉ nhân dân tệ cho chuyện ăn chơi trác táng. Ở Việt Nam, cụ thể có hàng Thứ trưởng Việt Tiến, Tiến Dũng, cha con Mai văn Dâu ăn chơi nhất Hà thành, có cả Chủ nhiệm Uỷ ban thể dục thể thao tương đương cấp Thứ trưởng tên Quốc Dũng do có quá nhiều tiền mà mua dâm gái vị thành niên. Không ít đã được công khai hoá song còn nữa vô số với cả trăm nhân tình qua công thức: quyền, tiền, gái.
Tất nhiên hậu quả dẫn đến những lần nạo phá thai với các em chưa đến tuổi trưởng thành phải mang thai. Biết bao nhiêu hài nhi bị phá non, chết yểu. Con trẻ được “bảo vệ” trong thời bình là như vậy!
Các quan ông như thế còn các quan bà cũng không thể vì nhịn thèm mà không ăn nem. Việc quan hệ tình dục bừa bãi cùng sự vận động triệt để truyền bá rộng rãi nhiều cách phá thai của các “mụ” cán bộ phụ nữ Việt cộng là chuyện quá phổ biến. Có thể những con người chưa chắc đã biết thế nào là duy vật nhưng cách sống duy vật này đã đi trước nhân loại trên bình diện thực tiễn. Một nền đạo đức về quan niệm con người từ đâu đến, sống chết và sẽ đi về đâu?  Khi nhân loại sẽ thành công trong việc nhân bản hoá con người? Có lẽ chúng ta đã nghĩ thay cho họ thế thôi, vì có mang ngọc trai mà ném vào chuồng lợn cũng vô ích!
            Có những anh hùng ghi trong sử sách, có những chiến công vang dội một thời. Nhưng, cũng có những Chiến Sĩ Vô Danh, những trận chiến oanh liệt không ai biết đến. Đó là những chiến sĩ anh hùng trong những ngày tháng đen tối của Dân Tộc Việt Nam.
            Một miền Nam vô cùng hỗn loạn trong những ngày cuối cuộc chiến, việc khó khăn nhất là kiểm soát các toán quân ô hợp, rã ngũ từ các nơi đổ về, đường bộ cũng như dường biển, đủ mọi loại Quân, Binh chủng, có những toán lính vô kỷ luật, dùng vũ khí cướp phá tài sản của đồng bào nên phải lập những nút chặn, tước vũ khí, tập trung và hướng dẫn họ vào phi trường để tái tổ chức, giải tán những đám biểu tình do đối phương trà trộn vào dân chúng như núp dưới lá cờ Hồng Thập Tự tràn vào các thành phố xúi giục dân chúng nổi dậy, cùng với đồng bào lũ lượt di tản ...Và tình hình càng bi đát hơn khi phe miền Bắc pháo kích dồn dập.
            Không chỉ có các Tướng lãnh anh hùng tuẩn tiết khi miền Nam thất thủ nhưng nhiều binh sĩ cũng trong tinh thần bất khuất như một truyền thống của người Việt Nam, không chỉ với thượng cấp nhưng với các binh sĩ cũng một lòng như vậy. Thượng sĩ Phạm Xuân Thanh huấn luyện viên truyền tin, với tinh thần kiên cường, anh dũng đã cương quyết cùng một số anh em khác, tình nguyện ở lại chiến đấu với Cộng quân, bảo vệ cho đơn vị rút lui an toàn, phe miến Bắc vây bắt, trước mặt vợ con tại khu gia binh, anh hô to: Việt Nam Cộng Hoà Muôn Măm và dùng vũ khí cá nhân tự kết liễu đời mình, không để cho địch bắt… Như sáng ngày 30-04-1975, sau khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, Thượng sĩ Bùi Quang Bộ, huấn luyện viên truyền tin đã bất khuất không đầu hàng, không để bị bắt và không sống chung với Cộng sản. Cả gia đình đã tự sát, tổng cộng 9 người.
           
***

Nađa bên người vợ hiền:
-Có phải là giấc mơ không anh… một giấc mơ tưởng chừng sẽ không thực hiện được vì bắn giết con người dễ làm với nhau hơn là tạo dựng hòa bình.
-Mọi thứ của chiến tranh như hiện ra trong mỗi người những người tàn tật đang còn sống như những gì còn sót lại của chiến tranh, và bên kia của một thế giới nào đó nhưng vẫn còn hiện tồn đâu đây đầy rẫy những thây ma, những oan hồn chiến tranh.
Pierre Darcourt cũng trong sự băn khoăn: “Phải chăng chỉ là giấc mơ không thể thực hiện nổi? - Giấc mơ tháo gỡ bức màn đẫm máu đã trùm phủ mảnh đất bị dày vò tàn nhẫn và nỗ lực nhận ra những gì có thể kiến tạo một đất nước không còn hận thù, chém giết giữa những người chung huyết mạch để cùng cố gắng tìm lại nẻo đường hạnh phúc.” - Est-ce un rêve impossible, enfin, que d’entrouvrir le rideau sanglant qui pèse sur cette terre torturée, pour essayer d’apercevoir ce que pourrait être un pays sans haine et sans guerre où des hommes d’une même race essaieraient de retrouver le chemin de bonheur”.
Pierre Darcourt đã trăn trở vì không thể xóa đi các ấn tượng đã hằn sâu trong ký ức -- “Rất nhiều kỷ niệm và lý lẽ hiện ra trong trí tôi. Tôi đã trải nhiều biến cố, qua nhiều trận đánh hay các vòng vây hãm, đã theo sau nhiều võng cáng trên mảnh đất ngập tràn tang chế và đầy rẫy thây ma này”…
“... Lúc 5 giờ chiều ngày 12 tháng Tư 1975, một xe vận tải nhẹ từ Xuân Lộc đi liên lạc với Trảng Bom. Tôi nhảy lên xe đó... Ði được khoảng 3 cây số, cách chúng tôi hơn 100 thước, một xe chở dân chúng bị trúng một quả pháo. Tiếp theo tiếng nổ chói tai là bụi, lửa bắn lên tung tóe. Cả chiếc xe và người trên xe đều không còn gì! Chỉ còn trên đường một chấm đen lớn và vung vãi thịt xương tóc tai người chết với mấy mảnh kim khí của hộp số... Vậy là chỉ trong một giây đồng hồ, hơn 20 người vô tội đã bị xóa tên trên danh sách người Việt.”
-Đúng tất cả chúng ta đều muốn gào lên ra khỏi cổ họng: Hãy để cho họ được sống! Hãy chấm dứt sự đau khổ của họ đi!.
Dân chúng thì chạy trốn trối chết khắp các nơi phe miền Bắc vừa chiếm đóng vì quá sợ cộng sản, nhưng các phát ngôn của đại diện CPLTCHMN tại Ba Lê vẫn luôn tố cáo “tội ác ép buộc dân chúng di tản của chính quyền Ford và tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu”.
Ở đây cũng cần ghi nhận, đại diện của cái chính phủ bù nhìn này rất được chính quyền Pháp biệt đãi và được Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Lục tiếp, đã quả quyết “hàng trăm ngàn người bị hăm dọa dưới họng súng đã phải lìa bỏ nhà cửa và nơi chôn nhau cắt rún để chết đói, chết bệnh trên đường di tản. Nhiều ngàn người khác đã bị hành quyết vì không chịu chạy trốn...!”
Ký ức của từng ngày thật dồn dập, ngày 15 tháng Tư 1975 tại Xuân Lộc: “Tôi nhập với đoàn người lánh nạn dài dặc rời khu đồng trống. Nhiều người bị thương, một ông già lạ thường áo trắng, nón cối kiểu thực dân, một vết thương to bằng nắm tay trên vai đang lảo đảo bước. Chừng trăm thước ông ngã quỵ xuống. Tôi cố đỡ ông dậy, nhưng ông không còn nhúc nhích nữa, ông chết rồi!... Bên phải tôi, một bà mặt mày lơ láo lo sợ và đau khổ, vừa đi vừa lớn tiếng cầu nguyện. Bà ôm cứng đứa con gái khoảng 4, 5 tuổi bị trúng đạn ở đầu, tóc tai bê bết máu...”
Vào ngày 23 tháng Tư 1975 giữa Biên Hòa và Long Thành: “Tôi dừng tại một đoạn quốc lộ. Quốc lộ gần như vắng tanh. Dân chúng đã cân nhắc kỹ nên tránh xa quốc lộ, băng đồng mà đi. Xa hơn một chút, nhưng tôi hiểu ngay tại sao. Phía bên trái cách lề đường chừng 20 thước có hai xe vận tải bị vỡ tan vì đạn pháo cộng sản, đang cháy và bốc lên mùi khét rất khó chịu của dầu lẫn thịt người. Phía bên phải, một sườn xe nát vụn của chiếc xe ba bánh Lambretta làm tôi nổi da gà: tử thi một đứa trẻ khoảng 10 tuổi treo lủng lẳng phía sau thùng xe, hai tay lòng thòng, đầu bị mảnh đạn cắt đi quá nửa đến cặp mắt. Trong một góc thùng xe phía sau còn hai xác chết, một người đàn bà và một bé gái ôm nhau nằm bất động, ngực và mặt đều bể nát máu me vung vãi. Cách đó hai thước gần một lỗ được đào hơi cạn dựa nền đường nhựa còn một mảnh kim khí cong vẹo đánh dấu nơi viên đạn rốc kết đã nổ và gây ra sự tàn sát bẩn thỉu mù quáng này...”
Tổng số các nhà báo ngoại quốc đã chết trong cuộc chiến Việt nam là 52 và người tử nạn cuối cùng là Michel Laurent bị bắn gục tại Hố Nai ngày 27 tháng Tư 1975. Hình ảnh của kẻ sát nhân như hiện ra rất rõ ràng và các nạn nhận chiến tranh Việt Nam là ai, nếu không nói là những thường dân vô tội, và Pierre Darcourt vẫn phải thắc mắc: Tại sao khắp nơi chỉ nhắc tới vụ thảm sát Mỹ Lai, chỉ nhắc tới tấm hình viên tướng miền Nam bắn hạ một cán bộ chỉ huy cộng sản giữa trận giao tranh trên đường phố Sài Gòn và tấm hình một bé gái trần truồng chạy giữa khói lửa đạn bom? Còn tên tên đồ tể đó Nó ở đâu, thậm chí còn xuất hiện bên cạnh Giáo Hoàng?
Vậy đâu là Thiện và đâu là Ác, đâu là sự minh quân của các Triều đại, hay nhân loại vẫn mãi mãi bị lừa đảo dối trá trong sự nhân danh. Và con người dù có xin vâng để được sống bình an của kiếp người cũng không thể bao giờ có được. From Nada to Nada for Nada.

 

HẾT