TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương 64
Rối loạn tâm thần trong các bệnh nhiễm trùng

            Sự nhiễm trùng trong  chiến tranh do bom mìn gây hậu quả nhiễm trùng đến rối loạn tâm thần trong các bệnh nhiễm trùng:
            - Nạn nhân mắc các bệnh sốt như sốt rét rừng, sốt rét ác tính, cảm cúm lâu dài, sưng phổi… trong giai đoạn cấp tính thường có các rối loạn như buồn ngủ, lú lẫn và trong giai đoạn di chứng người bệnh thay đổi tính tình và suy giảm trí nhớ rõ rệt.
- Nạn nhân trong bệnh thương hàn, các rối loạn tâm thần thường nặng nề hơn, người bệnh có những cơn lú lẫn, hưng cảm, sững sờ, mê sảng.
- Nạn nhân trong bệnh lao, người bệnh có triệu chứng loạn thần kinh, trầm cảm, nghi bệnh. 

***

            Sự suy nghĩ thái quá, cũng như lo lắng trước sự lụi tàn của giống nòi, các học thuyết ra đời trong chiến tranh hình thành dù chỉ là những bước đầu, nhưng sự ‘tận nhân lực tri thiên mệnh’ đã khiến các hữu thể trong bao thao thức dẫn đến các rối loạn tâm thần, như trầm cảm, hoặc tiền loạn tâm thần.
- Nạn nhân thường gặp là những cơn lo âu, những biểu hiện Hysterie như những đòi hỏi có sự cảm thông của tha nhân của sự công nhận về học thuyết hoà bình, chiến tranh … do mình đưa ra chẳng hạn.
- Nạn nhân có những biểu hiện rối loạn tâm thể như các bệnh ngoài da, chứng đau bao tử, tăng tiết nước bọt.
- Nạn nhân lo lắng cho con đẻ tinh thần của mình không được công nhận, họ suy nhược chán nản, than phiền, đôi khi mất ngủ.
            - Nạn nhân trong bệnh tiểu đường và giảm đường huyết, người bệnh có hiện tượng lo âu, nghi bệnh và đôi khi trầm cảm. Khi giảm đường huyết người bệnh có các rối loạn thần kinh như lú lẫn, co giật.
- Nạn nhân tăng urê huyết xảy ra với các cơn đau đầu dữ dội, giảm sút trí nhớ, co giật kiểu động kinh, rối loạn ý thức, trầm cảm hoặc cơn kích động hưng cảm.          
- Nạn nhân trong bệnh viêm gan hay mệt mỏi, đôi khi trầm cảm. Trong xơ gan, biến chứng tâm thần chủ yếu là bệnh tĩnh mạch cửa - chủ (Encéphalopathie-porto-cave). Do tăng Amoniac trong máu, người bệnh có trạng thái sững sờ, mê mộng hoặc hôn mê. Về thần kinh có dấu hiệu run tay với các cơn co giật. Có người sống sót sau những cơn kinh hoàng và là nhân chứng của một giai đoạn lịch sử nơi làng quê thôn xóm của mình.
- Nạn nhân trong bệnh thiếu máu ác tính Biermer, người bệnh có các rối loạn khí sắc, các ảo giác hoang tưởng và nghi bệnh.
- Nạn nhân là những người thiếu dinh dưỡng, bên cạnh các triệu chứng tiêu hoá như nôn mửa, bệnh ngoài da, người bệnh còn có các chứng lú lẫn, các cơn hưng cảm hoặc trầm cảm trong toàn cảnh những khu tái định cư, trong các trại tỵ nạn, nhất là sự cai trị của cộng sản trong những hoàn cảnh sơ tán.

***
Từ hạ tầng cấu trúc đến thượng tầng kiến trúc, từ vật chất đến tinh thần, sau thời gian dài chịu đựng trong đau thương mất mát, nạn nhân chiến tranh dần dần sa sút về tâm thần, tư duy chậm chạp, hay quên, dễ bị xúc động, năng xuất làm việc cũng giảm hẳn, khả năng về nhận thức vẫn còn nhưng trí năng phán đoán hầu như chỉ là một sự tồn tại không còn suy luận chính xác nữa với các ảo giác thường gặp là ảo thính giác, đôi khi có ảo giác thị giác, ảo giác xúc giác, ảo giác nội tạng gọi là hội chứng rối loạn tâm thần do băng hoại, vong thân:
-Nạn nhân thường có hoang tưởng nhất là hoang tưởng bị theo dõi, chủ thể hay lo lắng và giận giữ. Song ở đây ngược lại những kẻ vong thân thường không còn biết sợ hãi, họ có một niềm tin rất ngụy tín trong ảo giác mình đã được một đấng siêu nhiên che chở thuộc thế giới khác.
- Nạn nhân dễ bị kích thích, hay gây gổ khóc lóc, giận giữ hay than phiền đau đầu chóng mặt, trí nhớ giảm sút và có những ý thức trong trạng thái mù mờ.
- Nạn nhân rối loạn ý thức và cảm xúc. Các rối loạn thần kinh tùy thuộc vào sự xung đột trong giao tiếp giữa nạn nhân và tha nhân.
- Nạn nhân có ảo giác thường là ảo thính, hoang tưởng nghi ngờ lúc nào cũng nghĩ rằng các cai thầu chiến tranh luôn nói láo. Chủ thể thường khí sắc thay đổi thất thường, dễ kích động, giận giữ vô cớ và hay lo lắng.

***

            Khởi đầu là một thể hiện của sự hưng phấn, tăng trí nhớ, tăng cảm xúc, có khi đi đến một cơn kích động, thế rồi nạn nhân chiến tranh rối loạn tâm thần trong liệt tiến triển:
- Nạn nhân nói năng suồng sã, huyên thuyên, khoác lác thiếu thực tế, thiếu tế nhị, thường là ngôn ngữ của bọn cường quyền.
- Nạn nhân trầm cảm, chủ thể đau đầu, mất ngủ, mệt mỏi, dễ bị kích thích, khả năng làm việc giảm sút, hay than phiền và có cảm giác khó chịu trong các cơ quan nội tạng.
-Nạn nhân bắt đầu bằng sự giảm sút trí năng từ từ, khó tập trung tư tưởng và hay quên, mau mệt mỏi và đờ đẫn, giảm khả năng phán đoán. Theo các thầy thuốc riêng, các lãnh tụ trong chiến tranh thường đầy các bệnh hoạn cho dù bề ngoài khi xuất hiện trước công chúng họ luôn la ó, hô hào đầy những câu khẩu hiệu trống rỗng. Trong biểu hiện này, chủ thể có sự bắt đầu trong trạng thái tự mãn và khoái cảm một cách ngây ngô trước bao nhiêu tội ác gây ra cho nhiều người, khắp mọi miền trên đất nước Việt Nam không có gia đình nào mà không có người bị thương tật, chết chóc trong chiến tranh và sau mỗi giai đoạn hoà bình được lập lại càng đau thương mất mát ly tán nhiều hơn, đó là nét đặc trưng về chiến tranh và hoà bình của dân tộc Việt Nam.
- Nạn nhân có hành vi xâm phạm đến tập quán, đạo đức, pháp luật như ăn cắp, cởi truồng, chọc ghẹo phụ nữ. Những hành vi này nhiều ít tùy thuộc vào sự giảm sút trí năng của chủ thể. Chủ thể thường có hành vi vụng về, song không lấy làm e thẹn vì họ không cần biết đến những tác hại của chúng. Chiến tranh đã làm cho con người trở nên khủng hoảng, thiện ác, phải trái bị đảo lộn với một số người trước những cơn hoảng loạn do thần chết luôn gõ cửa và dường như định mệnh đã an bài đâu đó ngay cửa vào nhà mình.
- Nạn nhân trong giai đoạn cuối cùng của cuộc đời, tâm thần sa sút ngày càng trầm trọng như teo cơ, việc bài tiết không còn tự chủ, lở loét, gầy đét. Tất cả từ sự thiếu thốn vật chất với sự hành hạ con người trong trạng thái tâm thần hoang mang hoảng loạn trí năng. Sau đây là một ký của người chiến binh:
‘Lộc Ninh mùa đông buồn da diết. Ban ngày, ai không có việc gì làm thì thả bộ ra chợ, kéo nhau vào các quán sinh tố tán tỉnh các cô gái da trắng má hồng. Phúc thì lúc nào có dịp là mò ra nơi đóng quân của đơn vị cũ thăm bạn bè. Sau bữa cơm tối, các sĩ quan thường tụ tập một hầm nào đó chuyện vãn và có khi bày ra một chầu tứ sắc mà mỗi lệnh chỉ 1 đồng gọi là giải trí giết thì giờ.
Sáng thứ Ba, không rõ từ đâu, một con chó hoang chạy lọt vào căn cứ. Nó đứng trước hầm Hành Quân, chỉa mõm vào trong mà hú lên từng hồi nghe rất rợn người. Nhìn cách đứng của nó, hai chân trước chùn lại như trong tư thế phòng thủ; cái đuôi quặp lại giữa hai chân sau. Con chó tỏ ra sợ sệt như nó đang đối diện một cái gì đó mơ hồ trước mặt nó mà những đôi mắt người không thấy được. Nó tru lên từng hồi dài nghe dựng cả tóc gáy. Chuẩn Úy Sung[3] , Sĩ Quan An Ninh chụp cái chổi chạy ra đuổi. Chó chạy vòng vòng một hồi rồi cũng quay về chỗ cũ mà tru. Vài người đã bắt đầu bàn tán về một điểm gở sắp xảy ra. Phúc chẳng nói chẳng rằng, rút súng lục ra bắn vào đầu con chó hai phát rồi kêu lao công đào binh xách đi chôn. “Đ.M. chỉ tin dị đoan. Chó tru mùa đông là chuyện thường. Lính ra trận chứ có phải đi picnic đâu? Khi nào mà không có đánh nhau, không có chết chóc!”
Nói cứng miệng như thế, nhưng trong lòng, Phúc vẫn liên tưởng đến những điều không lành bất thường sắp xảy ra. Chuyện cột cờ gãy không thể đơn giản giải thích lý do về kỹ thuật, gió bão … Nó thường là một điềm rất xấu cho đơn vị. Cột cờ tại toà nhà Chỉ Huy Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị bị gãy thì theo sau là một loạt các biến cố làm chết và bị thương cả chục sinh viên sĩ quan. Trước hết là các đợt Việt Cộng tấn công vào trường làm chết sinh viên và hàng chục tu sĩ đang theo học căn bản, theo đó là vụ nổ lựu đạn cướp mất mạng sống vài sinh viên khác mà cho đến về sau, không ai điều tra cho hết ngọn nguồn. Chuyện những câu nói buột miệng của Đại Úy Trung, Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 1/8, mà theo đó là cái chết của Cố Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Châu Minh Kiến[4] … Trong mỗi con người, có một giác quan thứ sáu mà cường độ mạnh yếu tùy từng người, từng hoàn cảnh mà đột phát. Khi người anh rể của Phúc tử trận tại một chiến trường vùng 4 Chiến Thuật, nơi quê nhà ở miền Trung cách xa hàng ngàn cây số, Phúc đã cảm nhận khi bất ngờ có một luồng điện chay qua tim đau nhói và bồi hồi’.

***

Trong chiến tranh có thể nói sống trong một môi trường luôn nhiễm độc, các chất độc xâm nhập vào cơ thể bằng đường hô hấp, đường tiêu hoá, những lời nói nghịch nhĩ tạo nên stress gọi là nhiễm độc tinh thần… Tất cả đều tác động lên hệ thần kinh trung ương và gây ra những rối loạn tâm thần đa dạng dưới hình thức là các bệnh loạn tâm thần cấp tính, hoặc tạo ra những biến đổi về nhân cách.
Các triệu chứng tâm thần thay đổi tùy thuộc vào nhiều yếu tố: loại chất độc, liều lượng, những lời chói tai khó chịu…thời gian bị lặp lại như thế nào, nhân cách chủ thể cũng như thể tạng cùng sức đề kháng của cơ thể. Không có loại súng đạn, bom mìn nào mà không để lại chất độc hoá học và xác người không chôn kịp trong chiến tranh gây ra biết bao ô nhiễm cho con người.
- Các trường hợp nhiễm độc cấp tính thường đưa đến rối loạn ý thức đột ngột, cả rối loạn tri giác và tư duy, rối loạn trí nhớ và cảm xúc.
- Các trường hợp nhiễm độc tinh thần dần dần sẽ đưa đến giảm sút tiệm tiến trí nhớ, trí năng và biến đổi nhân cách. Các nạn nhân lâu năm đều có sự biến đổi hoặc nặng nhẹ do các tác động tinh thần này.
- Nạn nhân ngộ độc nhẹ do dùng thuốc trừ sâu, ảnh hưởng của các loại chất độc hoá học khiến chủ thể buồn ngủ, rồi đột qụy, có khi vật vã…
- Trường hợp nặng chủ thể hôn mê sâu, thở nhanh và sâu, đồng tử co lại, mạch nhanh, huyết áp hạ nhanh, mất tất cả các các phản xạ. Các trường hợp nhiễm hơi cay nặng, bị phỏng do bom mìn.
- Nạn nhân bị ngộ độc các loại trụ sinh trong việc dùng thuốc để chữa trị các vết thương chiến tranh, chứng lao phổi, chống nhiễm trùng… sau một thời gian điều trị bằng Streptomycine họ thường giảm khí sắc, cảm xúc không ổn định, đi đứng loạng choạng nhất là điều trị trong lúc suy dinh dưỡng và đầy những lo toan sợ hãi. Ảo thanh, ảo giác và có người phát sinh chứng ù tai, đứng ngồi không yên, mệt mỏi.
            Trong chiến tranh hầu như không bao giờ thiếu rượu, trái với quan niệm thường nghiệm, không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm hoạt động của hệ thần kinh trung ương. Rượu làm giảm sự ức chế của vỏ não gây nên sự mất thăng bằng giữa hai quá trình hưng phấn và ức chế.
- Nạn nhân cảm thấy khoan khoái dễ chịu, quên các khó khăn trong cuộc sống thực tế. Họ nói nhiều, hoạt động nhiều, nhưng khả năng phán đoán suy giảm nên lời nói thiếu tế nhị, trở nên suồng sã quá trớn, hoạt động thiếu chính xác. Nạn nhân dùng rượu để vơi đi những nỗi buồn chiến tranh.

    •  Nạn nhân phần lớn mắc chứng nghiện rượu là những người trực tiếp tham gia cuộc chiến. Họ uống để hăng hái hơn để mừng chiến thắng và rượu làm họ quên đi thần chết, thần tình yêu mà mỗi người chiến sĩ lâm trận đều dường như đã bị mất mát khi để lại phía sau nơi hậu phương vợ con, thân quyến. Đặc biệt không có cuộc liên hoan tất niên nào trong quân đội và cả thường dân mà không có rượu. Mùi rượu cùng mùi xác người như luôn phảng phất đâu đó trong chiến tranh.

               - Chuyện say sưa của binh lính miền Nam trong chiến tranh lan tràn đến độ nhiều binh sĩ khi say xỉn nằm bất tỉnh bên ngoài khu vực các trại đóng quân cho dù các lệnh trong quân đội rất nghiêm ngặt. Thế là dân chúng hoặc chính những đội tuần tra gọi là Quân cảnh chở lên xe mang về và nhốt vào những ‘chuồng’ kỷ luật.
Khi nói đến nghiện thì ngoài nghiện ma tuý - Stupéfiants-và các dẫn chất như Morphine, Heroin, Methadon…còn có nghiện cần sa, Cocain,…các chất gây ảo giác, các thuốc làm giảm đau… Và vấn đề ở đây tìm hiểu là nghiện thuốc lá.
- Nạn nhân lệ thuộc tâm lý và lệ thuộc cơ thể, lệ thuộc tâm lý là sự buộc phải dùng thuốc mặc dù biết rõ tác hại của nó. Lệ thuộc cơ thể là nếu bỏ hút thuốc sẽ phát sinh một số triệu chứng của cơ thể như vật vã khó chịu.
- Nạn nhân nghiện là trạng thái nhiễm độc thường xuyên do hút thuốc nhiều, nhất là điều kiện cảm thấy trống vắng trên những lô cốt hay trên chiến trường, có khi phải nhặt lại tàn, nghĩa là phần đuôi còn lại của người khác vứt đi để hút. Nó làm cho người nghiện không tự chủ được và phải tìm mọi cách để có thuốc. Chủ thể bị lệ thuộc cả về cơ thể và tâm thần vào chất thuốc.

***