TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương 57

Những cơn say quyền lực

            Nạn nhân chiến tranh quên trong cơn say quyền lực, tham vọng - amanesia congrade, họ chỉ quên sự việc xảy ra trong cơn, trong thời gian bị bệnh, gặp trong cơn động kinh. Nạn nhân trong cơn động kinh không còn nhớ gì hết, cả thân người run lên, tay chân co giựt hay co rút lại... Thế nhưng lúc hết cơn họ lại sinh hoạt bình thường. Ngoài ra quên do ghi nhận kém - amnesia fixation, gọi là quên thuận chiều. Sự chịu đựng trong chiến tranh quá lâu dài cùng với sự bội nhiễm trong môi trường chiến tranh do các chất hoá học từ bom mìn, khiến các chứng bệnh nan y ngày càng thêm nặng tất nhiên trí nhớ của họ sẽ kém dần, cho đến khi con người không còn nhận thức được gì nữa trong sự vật lộn với tử thần.
Sau những trận pháo kích, hay bom mìn nổ trên đường đi nhưng nạn nhân còn sống sót, họ hầu như sống cuộc sống thực vật sau đó, không ai còn nhớ những tri thức đã thụ bẫm trước đây. Những người cao niên với các triệu chứng suy sụp tinh thần càng nhanh khi tuổi đời ngày càng cao gọi là quên do nhớ lại kém - amnesia eoction, quên ngược chiều.
Quên tiến triển, quên cố định, quên thoái triển, hiện tượng quên tăng dần với thời gian, người bệnh mất khả năng ghi nhận và quên dần vốn kiến thức. Sự quên nầy tiến hành theo định luật Ribot, tức là sự việc mới quên trước, sự việc cũ quên sau.
Quên cố định, hiện tượng quên không thay đổi, không tăng, không giảm.
Quên thoái triển, người bệnh nhớ lại dần dần các sự việc đã quên.
Nạn nhân chiến tranh do sự thay đổi thường xuyên của môi trường chung quanh, thậm chí bị bắt để khai thác, bị trấn áp và khủng bố thường xuyên nên trí nhớ của họ có giảm sút sau đó, thế rồi cũng có thời gian mọi sự bình phục, họ lại nhớ rất tỉ mỉ trong những câu chuyện ở quá  khứ và cả những gì đang xảy ra,
Trong chiến tranh cũng thường xảy ra trường hợp giảm nhớ - paramasia, nhớ giả - pseudoreminiscence, đối với những sự việc có thật trong cuộc sống của người bệnh trong một thời gian và không gian nào đó, thì người bệnh lại nhớ vào một thời điểm và không gian khác. Họ không còn nhớ rõ mình bị bắt lúc nào, nhớ lộn xộn năm nầy qua năm khác, nhớ sai những giai đoạn đã từng làm việc từ triều đại nầy lẫn qua triều đại với năm tháng khác. Lắm khi trở nên lộn xộn về không gian và thời gian, như nhầm ngày sinh với ngày ra toà, nhầm Tết Tây thành Tết Ta... Sinh hoạt hằng ngày trông thì đi lại bình thường nhưng hay quên vật nầy ở chỗ nọ chỗ kia.
Quên trong cơn say quyền lực, tham vọng - amanesia congrade, người bệnh chỉ quên sự việc xảy ra trong cơn, trong thời gian bị bệnh, gặp trong cơn động kinh. Bịa chuyện (confabulation): nạn nhân trong tình huống nầy quen các sự việc đã xảy ra và thay vào chỗ quên lại kể đến những sự việc không hề xảy ra với mình, nhưng bản thân người bệnh không biết là mình bịa ra. Nội dung bịa chuyện có thể thông thường hay kỳ quái. Nhớ giả và bịa chuyện thường gặp trong các bệnh thực thể nặng ở não. Họ biết tâm lý của thân nhân tại hậu phương luôn trông tin tức về chồng con nơi chiến trường, nên có một số người bất kể giờ nào, ngày nào họ cũng có thể phịa ra những thông tin rất bịa đặt từ BBC, VOA... để làm quà cho mọi gia đình. Họ không bao giờ dùng những thông tin đó để lừa bịp ai nhưng chính những cái được nói lên trong chiến tranh đôi khi nuôi sống niềm tin nơi chính họ cùng láng giềng, cho dù những điều không thật - họ rất biết rõ - nhưng đôi khi những cái không thật lại rất cần cho sự tồn tại của con người...
Có những người lại thích kể chuyện ma cũng như trinh thám, và ai cũng biết từ những cốt truyện đó họ đã phịa ra những chuyện khác theo các bố cục đã có sẵn thật hay, mọi người biết rõ là phịa nhưng lại rất thích nghe những câu chuyện trong các trại định cư là vậy.
Nạn nhân chiến tranh hay nhớ nhầm, nhớ việc mình thành ra việc của người khác, hoặc ý nghĩa sáng kiến của người khác thì nhớ ra là của mình, những điều nghe người khác kể lại hoặc thấy ở đâu thì tưởng là những điều mà bản thân mình đã sống qua. Có người bệnh lại tưởng mình đang sống trong dĩ vãng (ecmnesia). Gặp trong bệnh động kinh.
Nạn nhân chiến tranh hay nhớ nhầm chuyện nầy sang chuyện khác, nhất là mỗi khi có ai kể chuyện gì mà họ được nghe đều tiếp lời với câu nói có đuôi: À tôi cũng như thế... Tôi cũng vậy. Tôi cũng đã trải qua tình cảnh như thế.v.v.. Họ cũng hay kể lại những chuyện của người như thể của chính mình, hay nói về những phát minh những công trình khoa học như chính họ đã từng tham gia, nhưng khi hỏi về nội dung thì không ai có thể trả lời được.
Tình trạng rối loạn chú ý, không còn có thể tập trung của các nạn nhân chiến tranh, đó là sự chú ý suy yếu: người bệnh không thể tập trung sự chú ý vào một việc gì lâu được, mà rất dễ bị phân tán tư tưởng. Gặp trong loạn thần kinh suy nhược và các bệnh thực thể của não. Trong chiến tranh chúng ta sẽ gặp nhiều và rất nhiều những người thích ngóng chuyện, họ không bao giờ đứng ngồi yên một chỗ, không có câu chuyện nào mà không tham gia nhưng rồi chỉ một vài câu gọi là “xía vào” rồi lại bỏ đi. Họ biết đêm qua súng nổ nơi nào, sáng nay đoạn đường nào bị đắp ụ để cản trở giao thông, gọi là Việt cộng đắp mô, mìn đã nổ làm tan xác bao hành khách trên những chuyến xe đò nào. Tất cả như một thứ hỗn mang dồn dập chi phối trong não bộ con người thời chiến tranh. Để rồi cái chết sẽ đến với mỗi người, nó nhẹ nhàng như đó là số phận.
Năng lực chú ý của người bệnh rất kém, người bệnh chú ý tập trung vào một chủ đề, một đối tượng trong một thời gian tương đối lâu, nhưng chuyển đổi sự chú ý từ vấn đề nầy sang vấn đề khác thì chậm chạp. Thường gặp trong bệnh động kinh, bệnh tâm thần phân liệt và trạng thái trầm cảm.
Họ không thể tập trung sự chú ý vào một đối tượng cần thiết mà luôn luôn di chuyển sự chú ý của mình từ vấn đề nầy sang vấn đề khác. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm. Nhiều phụ nữ thích tham gia vào chuyện thời sự một cách sôi nổi, tranh luận bàn bạc về mọi khía cạnh, khiến nhiều khi người nghe nghĩ rằng chiến tranh đã tạo nên những nhà bình luận mọi nơi như thời thế tạo anh hùng. Mọi câu chuyện trở nên những lời sưởi ấm cho nhau, nhưng đôi khi nó cũng là nguyên nhân của những cuộc đánh nhau và rồi những vụ ẩu đả cũng sớm qua đi như chính sự chú ý của anh không đến nơi đến chốn về mọi vấn đề, nhưng không có vấn đề gì mà không liếc mắt trông xem nhưng thật sự không tập trung vào một vấn đề gì cả, vấn đề nào cũng có thể tham gia nhưng không ai giải quyết được chuyện gì, nếu có những ý kiến đề nghị..v.v…thì thường qui kết cho nhau là “ba phải”. Tất cả trước cái chết trong giai đoạn cho dù chiến tranh lên đến cao điểm của cuộc chiến, nhưng người Việt luôn trong lạc quan, rất vui vẻ và hoà đồng nhất là trong tình bà con láng giềng.
Nạn nhân chiến tranh giảm hoạt động - hypoboulie, gặp trong trạng thái suy nhược, trầm cảm. Nạn nhân chiến tranh sau tai nạn còn sống sót họ thường mắc chứng trầm cảm không còn thích nói năng gì cả, những ai đã từng gặp và tiếp xúc với những nạn nhân bất hạnh loại này - hình ảnh bức tượng sống nầy như mãi dán vào mắt họ. Nạn nhân không giao tiếp với ai, ngoài công việc của bản năng để sinh tồn. Thậm chí họ trở nên co rút, trầm cảm ít nói, mọi thời gian hình như dành cho việc trùm mền nằm yên một chỗ.
Súng đạn và khói mù như lửa đốt từ bom mìn cũng khiến con người điên loạn với chứng tăng hoạt động – hyperboulie, gặp trong trạng thái hưng cảm. Trong các trại định cư xuất hiện những người tay cầm cuốn sổ chạy lăn xăn, đó là những người phụ trách trật tự, văn hoá thông tin, thu cấp phát sổ để nhận đồ viện trợ. Họ là những người phần lớn bị tàn tật gì đó mà không phải ra chiến trường nếu là nam nhi. Có lẽ sự tăng hoạt động nầy nhằm nói lên rằng họ vẫn còn hữu ích khi bao nhiêu thanh niên trai tráng phải ra chiến trường.
            Mức oan khiên khắc nghiệt càng đau xót hơn khi chính các nạn nhân không hề biết mình đã hóa thân thành loài thú để tô điểm bộ lông bằng cách thản nhiên tàn sát đồng loại: như Pierre Darcorut từng ghi lại: “Ngày 29 tháng Ba 1975, tại Ðà Nẵng, sáu trái hỏa tiễn rơi vào phi trường... Sự ra đi của những chiếc phi cơ cuối cùng đã tạo cảnh tượng hết sức kinh hoàng. Ðám đông tị nạn ùa lại tranh nhau cố leo lên những chiếc phi cơ đã đầy ắp người. Một chiếc trực thăng cất cánh lắc lư làm rơi rụng mấy chùm người đang cố bám vào hai gọng sắt dưới lườn, giống như những con sâu nhỏ đeo vào một con bọ hung lớn. Họ rơi lả tả từ trên không, rớt xuống đất bẹp nát từng đống nhỏ không còn hình dạng con người, máu me be bét. Phụ nữ trẻ con gào khóc, van xin và cố trèo lên một chiếc khác cũng đã đầy cứng. Có những báng súng đập vào bàn tay và cánh tay của họ. Một số cố bám vào lườn một chiếc Boeing đang gầm rú để bốc lên khỏi đường bay. Khi đến Sài Gòn người ta tìm thấy tử thi bị xé nát của một người bị cuốn chặt vào hệ thống bánh xe hạ cánh của chiếc Boeing 707 nói trên”.
Tất cả chỉ là thảm cảnh trốn chạy, nhưng có ai tự hỏi tại sao lại có sự trốn chạy để tìm một câu trả lời như người bạn của Pierre Darcourt: “Tháng Ba năm nay (1975), khi nằm thoải mái trên ghế phô-tơi để xem truyền hình ở Ba Lê, cũng như tất cả người Pháp khác, tôi nghĩ người Việt Nam chạy trốn chiến tranh hoặc họ đã bị sự tuyên truyền chống cộng đầu độc. Thật sự tôi đã lầm! Bây giờ tôi mới hiểu tại sao người Việt Nam đã chạy trốn đầy đường. Không phải họ chỉ chạy trốn đạn pháo và các đơn vị cộng sản Bắc Việt. Thật sự họ chạy trốn bộ máy ở phía sau bộ đội cộng sản đó.”
Việc trước tác trong thời gian chiến tranh không có tác phẩm nào có tầm vóc vượt qua những ý thức hệ phục vụ cho cái lý tạo chính nghĩa mà nhân danh của hai phe thuộc Nam hoặc Bắc. Có lẽ nó sẽ sâu lắng xuống sau khi chiến tranh chấm dứt để con người có thời gian trầm tĩnh suy tư trong hoà bình mà thẩm định lại một cách khách quan những gì là nguyên nhân và hậu quả của một cuộc chiến.

***