TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang


Chương 55

Chiến tranh ơi bao giờ kết thúc:
Tranh giành, tị hiềm, đố kỵ … mà đánh nhau.

            Theo Pascal: ‘Con người là một cây sậy biết suy nghĩ’. Tư duy là một quá trình hoạt động tâm thần phức tạp, là hình thức cao nhất của quá trình nhận thức. Hoạt động của tư duy gồm có: phân tích, tổng hợp, so sánh, khám phá và trừu tượng hoá, phán đoán suy luận và cuối cùng tìm ra kết luận. Rối loạn tư duy qua ngôn ngữ có thể phân chia rối loạn ngôn ngữ như sau: theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh chậm, theo hình thức phát ngôn, theo kết cấu ngôn ngữ, theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ.  
Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh: Tư duy phi tán khi quá trình liên tưởng của người bệnh rất nhanh chóng, các ý nghĩ, nhận xét xuất hiện nối tiếp nhau mau lẹ và nông cạn trong đầu óc các nạn nhân loại nầy, ý tưởng họ luôn luôn thay đổi theo tác động bên ngoài. Trường hợp nầy có thể gọi là cơn lốc của tư duy. Họ nói thao thao bất tuyệt, việc nọ chưa xong đã nói sang việc kia, không có một chủ đề nào nhất định cả. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm. Các lãnh tụ nào cũng nói nhiều trong sảng khoái, có khi đưa tay đưa chân, gọi là múa may quay cuồng trong cơn say quyền lực. Bề ngoài họ nói hoạt bát, nói huyên thuyên, chuyện gì cũng có thể bàn, cũng có thể nói. Có khi ngay trên khán đài hay trong các cuộc mít tinh, họ nói hứng thú đến các răng cà như đánh nhịp san sát với nhau. Hoặc hứng lên mặt đỏ, dễ nổi nóng, tiếng trước nói, tiếng sau như muốn nhảy vào đánh nhau liền liền. Chuyện các lãnh tụ cộng sản bị líu lưỡi là chuyện rất hay xảy ra.  
Tư duy dồn dập, nạn nhân loại nầy trong đầu óc luôn dồn dập đủ mọi ý nghĩ. Những ý nghĩ nầy xuất hiện ngoài ý muốn và người bệnh không sao ngăn cản được. Họ luôn luôn nghĩ trong đầu mà theo họ không thể viết ra hết đựợc, nào cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, từ chiến thuật này đến chiến lược nọ, chiến tranh du kích đến chiến tranh cục bộ, chiến tranh qui ước… có thể từ hết học thuyết nầy đến học thuyết khác… nền đạo đức nhân bản nầy đến nhân văn khác. Và trong cái hỗn loạn của thời chiến, bên ngoài mái hiên trong các trại tái định cư, tiếng súng, tiếng đại bác, hàng loạt các loại âm thanh phát ra nhằm phục vụ cho guồng máy chiến tranh của cả hai bên như đang gọi hồn ai cho đến buổi chiều cuối cùng nào đó. Trong các túp lều nhỏ, nơi đó có con người và con người với mười tỷ tế bào não trong mỗi cá nhân đang miên man về mọi vấn đề mà thực chất không hình thành đến đâu cả, nhưng nghĩ cứ nghĩ. Cái chuyện non sông đất nước như duyên nghiệp của mỗi con người: Tôi còn đang sống và tôi tư duy.                     
Nói hổ lốn, các nạn nhân chiến tranh có khi nói luôn mồm, ý tưởng linh tinh và nội dung vô nghĩa. Gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và trong trạng thái tâm thần sa sút, mặc dù họ không phải là những nhà chuyên nghề tuyên tuyền cho phe miền Bắc hay miền Nam. Những ngôn từ của họ hầu hết không có nội dung. Những ý tưởng về mọi thứ nhưng không rõ ràng, như thường phê phán về nhân vật chính trị nầy hoặc chính khách nọ. Nói xấu hết người này đến người khác và cuối cùng nói xấu lẫn nhau. Hầu như trong lĩnh vực chính trị không có sự nghĩ tốt về người khác. Những ý tưởng không có chủ đề gặp đâu nói đó, nói trước quên sau. Những cán bộ tuyên giáo cộng sản họ nói nhiều hơn ai hết với những lời sáo rỗng thuộc lòng, những danh từ triết học cao xa mà thật sự chính họ cũng không hiểu nó mang ý nghĩa gì, rõ nét nhất qua phát biểu của một anh cán bộ ở cấp thấp như giao liên, anh nuôi, chị nuôi, hộ lý… cũng phát biểu như các lãnh tụ của chúng: các anh phải tiến lên, đánh cho Mỹ Cút…
Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ chậm thể hiện qua tư duy chậm chạp. Các nạn nhân chiến tranh sau một thời gian dài bị giam giữ, do bị tra tấn, thiếu dinh dưỡng trầm trọng thường dẫn đến tư duy chậm chạp, nó trái ngược với tư duy phi tán, quá trình liên tưởng ở người bệnh hết sức chậm. Họ suy nghĩ khó khăn, chậm chạp, nội dung đơn điệu, nghèo nàn. Các nạn nhân rơi vào chứng nầy nói rất chậm, dừng lại rất lâu sau mỗi câu nói, hỏi mãi mới trả lời. Thường gặp trong trạng thái trầm cảm. Mỗi khi ai nói hay nhắc nhở điều gì, họ thường ngước mắt nhìn lên có khi há hốc mồm một lúc lâu mới hiểu ra vấn đề. Và để có được câu trả lời phải mất ít phút, còn với những câu phức hoặc những vấn đề phức tạp thì dường như họ không nghĩ ra được. Nên trong mẫu đối thoại với họ thường có câu hỏi đuôi: -họ nói gì vậy?
Tư duy ngắt quảng, nạn nhân trong khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng bị ngắt quảng làm cho họ dừng lại không nói được, mãi về sau mới tiếp tục nói được, hoặc bỏ dở câu nói trước sang chuyện khác. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt. Khi tiếp xúc với ai, suy nghĩ của các nạn nhân chiến tranh nầy luôn bị cách quảng và lời nói cũng bị cắt đứt, đang nói vấn đề nầy bỗng quên mất rồi chuyển sang chuyện khác, một hồi lâu lại chuyển sang chuyện cũ. Có nhiều trường hợp đang nói chuyện với ai thì quên bẵng không biết mình đang nói gì, mãi một hồi lâu mới nhớ lại và tiếp tục câu chuyện và rồi cứ phân trần và tiếp tục như thế.
Tư duy lải nhải, các nạn nhân kể một cách tỉ mỉ những chi tiết thứ yếu của sự việc và rất khó chuyển sang nội dung chủ yếu. Ta rất khó lòng nghe hết những lời kể của các nạn nhân loại nầy. Thường gặp trong bệnh động kinh. Đặc điểm của loại nầy là họ rất thích kể về quá khứ của mình một cách say sưa và cứ lập đi lập lại như thế.       
Tư duy kiên định, các nạn nhân mang chứng nầy luôn luôn lập lại một chủ đề nhất định, biểu hiện rõ trong khi nói chuyện hoặc trả lời thầy thuốc. Gặp trong chứng hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt, loạn tâm thần phản ứng nhân cách bệnh do sự cảnh giác quá cao trước sự chụp mũ bất cứ lúc nào của phe bên này hoặc bên kia, nỗi ám ảnh về sự giam giữ, tra tấn lâu dài, khiến ông nhất cử, nhất động đều không biết, không nghe, không thấy. Họ thường trở nên trầm cảm, ít nói, lủi thủi, ẩn thân một mình. Những hình thức phát ngôn như nói một mình, nạn nhân nói lẩm bẩm một mình, nội dung không liên quan đến hoàn cảnh.
Nói tay đôi, nạn nhân loại nầy thường nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng hay đang tranh luận với ảo thanh, gặp trong tâm thần phân liệt hoặc loạn tâm thần phản ứng. Họ thường ngồi thiền và nói chuyện với một nhân vật hoang tưởng nào đó không ai biết, anh cho biết đang theo Đạo Tiên và mỗi lần ngồi toạ thiền là nói chuyện với thần tiên mà không ai biết rõ là gì.
Trả lời gián tiếp, hỏi một đàng, nạn nhân trả lời một nẻo, không chú ý đến nội dung câu hỏi, gặp trong tâm thần phân liệt. Những nạn nhân trúng phải mìn hoặc đại pháo rơi gần và phát nổ,  nhưng may mắn thoát chết, sau đó bị chứng ù tai, mắt mờ, tâm thần nghễnh ngãng, nghe một đàng hiểu một nẻo, hỏi việc nầy trả lởi thế khác... Đặc biệt lúc nào cũng có câu đệm: -Thế à...thế à...  
Không nói có nhiều nguyên nhân do hoang tưởng và ảo giác chi phối, do hiện tượng phủ định (trạng thái căng trương lực), do liệt cơ năng cơ quan phát âm (loạn thần kinh hysteria), do hoạt động tâm thần nghèo nàn (tâm thần sa sút), do hoạt động tâm thần bị rối loạn nặng (trạng thái lú lẫn). Cụ thể có những người trong chiến  tranh sau những lần suýt chết, họ như những cái xác không hồn, như người bị câm, suốt ngày anh không nói gì hết cả, cũng đi làm việc như các anh em khác, song ai muốn chọc ghẹo gì họ không trả lời gì với nét mặt bình thản, nếu không nói là vẫn vui, giữ hoà khí với mọi người.
Có những trường hợp nạn nhân hãy còn rất trẻ nhưng mang chứng trầm nhược, không nhận ra vợ con cũng không nói năng gì cả khi trực tiếp đối thoại với người thân... Những người này lại mang thêm chứng ảo thanh thường hay nhảy vào các đền, chùa hay chạy ra giữa đường la hát, cho đến khi có người thân đưa họ về gia đình. Khi tỉnh lại có ai hỏi thăm họ chỉ bảo gỏn gọn trong mấy từ: -có Thần thánh gọi tôi làm như vậy. Sau một thời gian dài sống trong vùng có xảy ra những cuộc đánh nhau thường xuyên, chứng kiến sự ra đi của nhiều người thân, trước sự mất mát có khi ngay cả chính bản thân họ trở nên trầm cảm, ít nói dần dần rồi im lặng hẳn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy trên nét mặt vẫn còn vui vẻ với mọi người.
Nói lập lại, nạn nhân luôn luôn lập đi lập lại một số chữ hay một câu, không ai hỏi cũng cứ nói. Họ thường luôn nói giữa chỗ đông người, cũng như những lúc một mình: -Ối trời ơi lâu quá đau thương, đầy mất mát, ôi khổ quá... ôi trời ơi là trời... Mẹ ơi là Mẹ. Chiến tranh là chiến tranh. Có người suốt ngày chỉ có mấy từ: nghiệp báo, nghiệp báo... chết, chết, trời ơi là trời...
Đáp lập lại, đó là đối với mỗi câu hỏi khác nhau, người bệnh trả lời bằng một câu nhất định. Có những nạn nhân chiến tranh thường do bom mìn nên tuổi còn rất trẻ nhưng sau một thời gian bị tai nạn, anh trở nên trầm cảm, tính khí nóng nảy như đối với mọi câu họ chỉ trả lời ngắn gọn: -Không biết, không biết... ừ, ừ… hoặc tuỳ theo tôn giáo mà nạn nhân chỉ thốt lên vài từ nói lên sự nhẫn nại, chịu đựng: Mô Phật, Mô Phật… Lạy Giuse, Maria…Lạy Chúa tôi… con xin vâng.
Nhại lời, đây là hiện tượng về tâm lý học khi hai người bệnh không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi. Họ rất thích nghe người khác nói chuyện, thích đối thoại, nhưng mỗi khi ai đặt câu hỏi, nạn nhân không trả lời trực tiếp, song chỉ lập lại câu hỏi, có khi lập lại nhiều lần và có các câu nhấn mạnh ở đuôi: -Thế à... thế hả…
Cơn xung động lời nói, nạn nhân chiến tranh lầm lì suốt ngày không nói, nhưng thỉnh thoảng lại có một cơn xung động lời nói: nói một hồi lâu những câu vô nghĩa, tục tằn. Thường gặp trong tâm thần phân liệt. Mỗi khi có sự bốc đồng về chuyện gì thường nổi cơn chửi rủa các đối tượng mà họ căm thù một cách thậm tệ với những ngôn từ thật thô tục, có khi chỉ là một tràng chửi thề. Cũng có trường hợp khi thời tiết tăng nhiệt độ, vào những lúc đó, nếu có ai làm mích lòng điều gì, lập tức khiến nạn nhân sẽ lên cơn chửi bới thô tục, thậm chí nhiều lần đến ẩu đả.
Phân chia theo kết cấu ngôn ngữ, do rối loạn về kết âm và phát âm: như nói khó, nói thì thào, nói lắp, nói giọng mũi, nói giả giọng địa phương. Có thể họ thích nói nhiều, nhưng phát âm rất khó, có khi nói lắp, có thể bị bẩm sinh từ nhỏ một phần, đến khi bị tra tấn theo lời các nạn nhân nầy thuật lại: họ bị đánh chấn thương nơi thanh quản thường là bằng các bảng súng.
Rối loạn về ngữ pháp và lô gích của tư duy, biểu hiện qua lời nói như: ăn cơm thì bảo cơm ăn; ăn thịt - thịt ăn; lao động - động lao; cần lao – cao lần… họ nhìn mọi người như không ai còn gần gũi nữa, trở nên lạnh lùng với mọi người và nhiều khi vô cùng cộc cằn, thô lỗ với ngay các nạn nhân chiến tranh khác một cách hung dữ.
Có những người cộng tác với bên này, mai mốt lại bên kia, cuối cùng trở nên khủng hoảng. Họ co rút vì sợ hãi về sau dần dần xa cách mọi người.
Ngôn ngữ phân liệt, trong từng câu có thể dùng ngữ pháp mang ý nghĩa, nhưng giữa các câu không có liên hệ gì với nhau về ý nghĩa lô gích cả. Gặp trong tâm thần phân liệt. Họ thường mở đầu câu chuyện với những câu nhập đề ai cũng có thể hiểu được, song đến nội dung không ai biết nạn nhân nầy muốn nói gì, đến kết luận người ta có thể hiểu được như: Chiến tranh ơi bao giờ mới kết thúc, tranh chiến, tranh ăn, tranh giành, tị hiềm, đố kỵ … mà sinh chiến tranh. Thượng đế không chết thì Quỷ vương cũng khó mà chết... Thượng Đế đã chết!  Diêm vương không chết!
Ngôn ngữ không liên quan, tư duy người bệnh lộn xộn, họ nói ra những từ rời rạc không có mối liên hệ gì với nhau và không có ý nghĩa gì cả. Thường gặp trong trạng thái mê sảng và lú lẫn như nhiều lúc tới bữa ăn họ không nhớ rõ mình đã ăn rồi hay chưa, họ luôn tính khoảng cách giữa cái chết của những người con và thời gian cuộc chiến đã kéo dài, nhưng phép tính trên bàn tay cứ lạc mãi có lẽ cho đến khi người khác sẽ đếm hộ giùm cho họ với bao nhiêu tuổi thọ.
Chơi chữ thể hiện trong lời nói của các nạn nhân chiến tranh, câu nầy tiếp câu khác theo vần. Ví dụ: Trời xanh ăn chanh... chiến tranh ăn nhanh, lanh chanh chết người… Gặp trong trạng thái hưng cảm và tâm thần phân liệt. Họ cũng thường hay đọc những câu đối để vịnh về đạo đức hoặc chê bai người nầy người nọ, trầm uất, các nạn nhân nầy cũng thích làm thơ nhưng thật sự là những câu vè.
Chơi ngữ pháp, nạn nhân đảo lộn và cắt xén một số thành phần trong mệnh đề. Họ đảo lộn các câu khẩu hiệu như với những câu truyền khẩu của Bút Tre: ‘Ngày xưa Đại tướng cầm quân, ngày nay Đại tướng cầm quần chị em…’
Một nhà văn lão thành của miền Nam – Uyên Thao có nhận định tổng quan về cuộc chiến ‘Ðã có không ít tài liệu ghi rõ hành động và ngôn ngữ của các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam từ văn kiện chính thức tới những dòng hồi ký, xác nhận mục tiêu chống xâm lăng chỉ là chiêu bài của đảng Cộng Sản với hai tác dụng chủ yếu cấp thiết. Trước hết, chiêu bài giúp che kín tung tích Cộng Sản đã được nhận rõ là đang khiến nhiều giới e dè, nghi ngại. Kế tiếp quan trọng hơn, chiêu bài có sức thu hút mạnh mẽ để thuyết phục và lôi cuốn quần chúng cùng dư luận trong nỗ lực duy trì và củng cố vị thế của đảng Cộng Sản. Chiêu bài chống xâm lăng đã giúp Cộng Sản Việt Nam khai thác sức mạnh đấu tranh của quần chúng để vượt qua mọi khó khăn đồng thời gặt hái sự tán trợ rộng rãi trong dư luận quốc tế để tăng cường uy lực. Tuy nhiên, không vì thế mà tính chất cuộc chiến Việt Nam có thể thay đổi từ giành đoạt quyền lực phe phái thành kháng chiến chống ngoại xâm.
Kết luận của những sử gia nhìn vấn đề qua các yếu tố hậu trường là Việt Nam đã trải 30 năm khói lửa dưới chiêu bài kháng chiến chống ngoại xâm, nhưng trên thực tế chỉ có cuộc chiến cốt nhục tương tàn do đảng Cộng Sản tiến hành vì mục tiêu tranh thủ và tăng cường quyền lực’.
‘Cũng thế, cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc không thể xảy ra nếu không vì mục tiêu mở rộng quyền thống trị của đảng Cộng Sản. Lý do giải phóng người dân miền Nam đang bị hành hạ, bóc lột dưới ách đô hộ Mỹ tàn ác dù ngay lúc này còn được nhắc lại đã không cần phải chứng minh về tính chất ngụy tạo. Cuộc chiến được Cộng Sản chuẩn bị ngay sau hiệp định Genève 1954 để khởi phát từ 1960 đã biểu hiện rõ mục tiêu theo đuổi. Sự trực tiếp can thiệp của quân đội Mỹ năm 1965 có thể đã được Cộng Sản Việt Nam đón nhận như một tin vui, một thắng lợi tương tự khi thực hiện được hành vi mở cửa đón quân Pháp đổ bộ vào miền Bắc năm 1946. Bởi sự xuất hiện của quân đội Mỹ đã giúp cơ hội phổ biến luận điệu phủ nhận hàng ngũ dân tộc đấu tranh không chấp nhận Cộng Sản tại miền Nam và tô điểm thêm cho chiêu bài chống xâm lăng những sắc màu hấp dẫn để thúc đẩy quần chúng và cuốn hút dư luận’.

***