Chương 45
Chiến tranh có nhiều chữ nếu
và nếu nào cũng kéo theo xương máu, nước mắt.
Qủa thật không ai hiểu nổi biến cố nào đã làm thay đổi đời mình cũng như của cả một dân tộc, từ nguyên nhân gần đến nguyên nhân xa cho đến khi lương tâm chúng ta cùng thức tỉnh với nhận thức trong sự truy tìm một cách công bình và khách qua môn lịch sử đối chiếu. Cũng không thể từ nhiều tùy thể để kết luận đó là yếu tính của vấn đề, càng không thể từ nhiều nguyên nhân để đi đến kết luận đã có kết quả vì hà tất ngày nay khoa học đã chứng minh không cùng nguyên nhân sinh ra nhiều kết quả hay ngược lại các kết quả không cùng nguyên nhân.
Ngày 25-3-1975, Tổng Thống của miền Nam Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân khỏi thành phố Huế. Trong vòng mấy ngày vùng I chiến thuật trở nên rối loạn, hàng triệu người không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, vào dịp Tết Mậu Thân 1968, nên đã kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly cuả Trung Cộng và đại bác 130 ly cuả Liên Sô. Người dân các thành phố kể cả kinh đô Sài Gòn đều biết rằng có một cái gì đó thật kinh khủng của chiến tranh sắp đổ xuống trên khắp miền Nam nhưng sẽ không ai ngờ sự bi đát đến sau lại gấp bội lần cho đến khi gọi là hòa bình thật bi thảm xót xa hơn trước sự cai trị của kẻ chiến thắng.
Vị Tổng Thống của miền Nam ra lệnh tiếp: Không giữ được Huế thì cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt Việt Nam Cộng Hòa, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản… Với quyết định này Ông đã tin vào những mật ước, nhưng vốn trong lịch sử các mật ước thường chỉ là sự lường gạt lẫn nhau vì hà tất ‘không ai thắp đèn mà để dưới gầm giường’ như có lời từ Kinh Thánh. Có thể nói được rằng trong đời thường là sự lừa dối lẫn nhau và trên bình diện quốc gia sự gian dối giữa các dân tộc đó là sự hiện diện của các mật ước.
Tổng Thống Thiệu vẫn còn tin Mỹ cho đến đến giờ phút cuối, trong khi trước đó vào ngày 29-6-1973 Hạ Viện Hoa Kỳ đã biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lãnh thổ Đông Nam Á Châu. Dự luật này được lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21-9-1973. Kế theo đó, ngày 12-10-1973, lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc. Các tướng lĩnh miền Nam lúc này khủng hoảng trước sự phản bội của Đồng minh Hoa Kỳ.
Ngày 29-3-1975: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang hỗn loạn, mà chẳng tốn một viên đạn nào. Dân chúng tìm mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau thương trong máu và nước mắt… Kẻ bị kẹt lại Đà Nẵng, rồi bị buộc vào các trại tập trung, bao kẻ chết chìm trên biển… chạy, trốn chạy cộng sản và giành nhau leo lên tàu bằng mọi cách thật kinh hoàng: người già, trẻ con rơi xuống biển và chết không kịp cứu. Rồi hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương đã chĩa vào những con thuyền đang chuẩn bị ra khơi chạy trốn Cộng sản: tất cả các thuyền ra khỏi bờ là bị bắn ngay !
Những tù nhân đại hình, tiểu hình, hàng ngàn quân phạm tháo chạy ra khỏi các nhà lao trong sự bấn loạn, ai cũng có thân nhân, gia đình… ai cũng muốn chạy về gia đình trước xem sao!
Ngày 7-4-1975, Lê Đức Thọ - người cùng chia hai giải Nobel Hòa bình với Henry Kissinger nhưng đã từ chối không nhận, quả thật là khôi hài cho Ủy ban quyết định trao giải: Ông ta là kẻ giết người, gian ác, tráo trở vào hạng nhất ở Việt Nam, dân thường Hà Nội còn chút sáng suốt hơn quý ông Hàn Lâm Oslo, Thụy Điển đó là mỗi ngày đều có phân rải trên mộ Lê Đức Thọ, kể cả việc vừa mới chôn sáng hôm sau đã có thanh kiếm đâm cho hả dạ lòng dân ngay giữa mộ kẻ gian xảo… cuối cùng người thân phải tự bốc mộ mà chạy. Tên ủy viên Bộ Chính Trị cộng sản Hà Nội tới Tổng Hành Dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét tình hình và quyết định kế hoạch giết người cho giai đoạn chót cuả cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ Nam Việt Nam.
Tại Xuân Lộc Long Khánh, cách kinh đô miền Nam khoảng sáu chục kí lô mét đường chim bay, sư đoàn 18 bộ binh VN Cộng Hoà do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ bão cuả 2 sư đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài Gòn bằng cách phá vỡ phòng tuyến cuối cùng này. Một trung đoàn thuộc sư đoàn 5 bộ binh và lữ đoàn nhẩy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện. Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này 2 sư đoàn nữa là 4 sư đoàn tất cả để hòng dứt điểm càng sớm càng tốt. Quân đội VN Cộng Hoà chiến đấu dũng mãnh, oanh liệt, cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1, trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ.
Tướng Homer Smith, tùy viên Quốc Phòng Mỹ tại Sài Gòn, vào thời điểm này đã gửi 1 bức điện văn cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu can đảm, dũng mãnh tuyệt vời của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, dù những bất lợi đang đè nặng tên vai họ. Tướng Smith, sau khi theo dõi cuộc chiến đấu tại Xuân Lộc, đã nói: “Sự dũng cảm và chiến đấu anh hùng của quân chính phủ Miền Nam, kể cả Địa Phương Quân Tỉnh Long Khánh đã chứng tỏ họ chiến đấu giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều...”
Nhưng cuối cùng phòng tuyến Xuân Lộc rơi vào tay quân cộng sản, đông và hỏa lực mạnh gấp 4 lần, vào ngày 21 - 4 – 1975. Tin dữ này đã nhanh chóng truyền về Thủ Đô Sài Gòn và trong kinh hoàng những người miền Nam biết rằng miền Nam Tự Do sắp mất vào tay Cộng sản miền Bắc.
***