Chương 42
Chiến tranh,
Lịch sử như giành sự im lặng hơn với mọi thời đại.
Những âm vang vọng từ các Thánh đường còn lại trên khắp mọi miền đất nước như lời cầu kinh cho các linh hồn ‘từ vực sâu con cầu xin Chúa Chúa ơi… Từ vực sâu con cầu xin chúa nhơn lành’… Tất cả vẫn trong hy vọng sẽ không còn trên đất nước nhỏ bé đáng thương này cảnh ‘trời u ám chiến tranh điêu tàn’…
Tiếng máy bay trực thăng cùng các loại không kích khác luôn quần thảo bên trên bầu trời tạo nên những âm thanh thời chiến thật hỗn độn kinh hoàng. Nhưng tiếng rít kia với trước đó là tiếng départ, không người dân nào không hoảng sợ, các Thầy Cô giáo chui vội xuống gầm bàn, học sinh cũng thế và trong kinh hãi mọi người trong các thành phố nhỏ sau khi nghe loại âm thanh pháo kích vô tội vạ của Việt cộng vào thành phố này: chết chóc đau thương hòa trong máu và nước mắt lại diễn ra tái tục từng giây phút trong mỗi ngày…
Tiếng xe cứu thương vào thuở ban đầu của cuộc chiến, người dân trông ngóng và chua xót cho thân phận của những chiến sĩ nằm trên những chiếc xe ca không biết sống chết như thế nào từ chiến trường mang về. Nhiều thường dân quanh các quân y viện dã chiến có khi lại tò mò chạy đến cổng bệnh viện để chứng kiến tận mắt, họ xem cái chết vì dường như không bao giờ họ tin con người có thể chết oan uổng và nhanh chóng thật như vậy. Nhưng khi cuộc chiến leo thang tột cùng của sự gian ác với quân xâm lược miền Bắc đổ vào Nam trong sự nôn nóng của các lãnh tụ miền Bắc muốn chiến thắng bằng mọi giá. Họ đã làm những điều tệ hại nhất với dân mình kể cả ngay với đồng đội: tiếng than khóc nấc lên theo lời kể của những người lính bộ đội bị cùm chân với các cổ pháo khi gặp phải những tình huống họ có thể thoát hiểm nguy nhưng đành núp mình hứng pháo từ những chiếc trực thăng oanh kích trên đầu. Có thể họ thoát chết nhưng chân bị cùm vào khẩu pháo nên phải chết như chuyện của tam đoạn luận: làm người phải chết, với sự ra đi quá ngỡ ngàng trong thân phận sinh ra dưới sự thống trị của bọn bạo tàn.
Âm thanh từ thành phố nhỏ quê hương không còn thuần tiếng gọi ‘xôi đây’ mỗi sáng. Trong tiếng xôi mặn, bắp nóng và hột vịt lộn đây… cùng tiếng hủ tíu gỏ về đêm, nay có kèm theo nhịp tim thật hồi họp của mỗi người trong thành phố nhỏ, cho dù vẫn trong nụ cười của kẻ mua, người bán với chút hy vọng ngày hôm ấy sẽ không bị pháo kích phải bỏ chạy hay đêm về khuya đã đến giờ giới nghiêm phải lận đận mang về.
Không như ở các thành phố lớn, hầu hết các tỉnh lỵ tại miền Nam vào thời chiến tranh đều giới nghiêm, một sự im ắng đáng sợ. Mọi âm thanh của thời bình, sự mô phỏng âm thanh hãy còn đó nhưng là những âm thanh ai cũng biết chắc sau đó là kẻ chết, người bị thương tật đau thương – âm thanh không chỉ còn ngữ nghĩa thuần túy trong phân tích ngôn ngữ, nó là hình ảnh sa đọa của con người trong chiến tranh. Nó là một chuỗi âm thanh cùng cuồng nộ đến muôn muôn đời với những thường dân vô tội. Song tại các thành phố lớn nhiều người vẫn ngụy tín hay dị ứng với từ chiến tranh vẫn còn đó những đêm màu hồng, những quán nhảy, những âm thanh của sự ăn chơi sa đọa bên giòng chảy kêu than vọng lại từ tiếng hát rên rỉ than khóc cho cuộc chiến của nữ ca sĩ Khánh Ly tại Queen Bee với giọng hát nhừa nhựa, kết quả của rượu và thuốc lá, tiếng hát có thể đi vào trái tim thính giả, đặc biệt là về nhạc Trịnh Công Sơn.
Tại những club như Au Baccara, Queen Bee, người ta ngồi nghe nhạc, uống bia 33 là một trong những nhãn hiệu hàng đầu hay Coca Cola. Họ cũng có thể đứng lên để nhảy, mặc dù một số club với không gian rất hạn chế. Một thái độ như chạy thoát hay lơ đi một cách thơ ngây trong ngụy tín rằng họ không cần biết chiến tranh là gì thuộc thành phần giới trẻ giàu có hoặc tầng lớp hãnh tiến nhờ chiến tranh. Họ khiêu vũ, nhảy nhót, ngay cả tại một vài đại học tại Sài Gòn một số sinh viên năm nhất được sinh viên lớn cầm tay và dạy điệu foxtrot cùng các thể loại khác để làm liều thuốc chống chán, cô đơn để quên đi ngoài kia không xa lắm đang là chiến tranh.
Tiếng nhảy nhót của thứ nhạc hippie nhập từ các phong trào giới trẻ từ bên ngoài cùng tiếng phóng xe của những loại động cơ hai bánh đời mới được chế tạo hàng loạt qua công nghệ láp ráp dây chuyền như được chuyển ngay vào cuộc sống một thứ cảm giác của tự do. Và trên bầu trời vào ban đêm trong không gian tịch mịch về khuya có đầy tiếng gầm rú của máy bay trực trăng với những âm thanh gầm rú giả tạo khiến cho đối phương mất tinh thần mà vốn những kẻ làm những việc lén lút vào ban đêm đều thường mang theo niềm sợ hãi, tiếng đạn pháo, tiếng sát hại từ âm thanh của sự uất nghẹn trong cái chết tức tử: tất cả về cả hai phía đều có âm thanh thật dễ sợ của ma quỷ. Người dân lành đành phải hứng chịu sau mỗi đêm và sự sống của ngày hôm sau cũng như những ngày kế tiếp quả là nhờ phép mầu nào đó mà còn tồn tại. Điệp khúc này như quá quen thuộc với mọi người dân trong chiến tranh, thế giới hình thành thế giới và lịch sử như giành sự im lặng hơn với mọi thời đại.
Tiếng than nấc của bao bạn trẻ đang trên đường học vấn phải vào quân đội, tiếng than về sự tàn nhẫn của chiến tranh và trong khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc đời, kẻ được tiếp tục miễn dịch vì lý do học vấn hoặc gia cảnh như biểu trưng của sự nhân đạo trước sự tồn tại của giống nòi, người vào chiến trường như thần chết sắp gọi. Đó là tâm trạng chung của giới trẻ một thời lúc chiến tranh tại miền Nam. Còn tại miền Bắc, không có một biệt đãi nào, tất cả đều vào chiến trường với khẩu hiệu chỉ rõ cái chết ‘sinh Bắc tử Nam’. Nhưng chỉ khác nhau ở hai miền, thanh niên miền Nam có quyền suy nghĩ và nói ra những gì muốn nói, còn trai trẻ miền Bắc chỉ có quyền phát biểu những gì đảng, chính quyền đã đưa ra.
Ngày 1/4/1975, văn phòng DAO được lệnh tiến hành kế hoạch di tản sang Mỹ khoảng 35.000 người Việt Nam có liên hệ mật thiết với Mỹ trong cuộc chiến. Do tình hình thúc đẩy, nhịp độ công tác di tản tăng từ 12 giờ mỗi ngày lên 24 giờ mỗi ngày kể từ 3/4/1975. Ngày 1/4/1975, tính bí mật của kế hoạch bị đổ vỡ với tai nạn của chiếc C-5A Galaxy chở mấy trăm trẻ em mồ côi Việt Nam di tản sang Mỹ rơi xuống ngay sau khi vừa cất cánh, tăng thêm màu ảm đạm cho cái tang chung của cả một miền Nam mắc nạn và gây hoang mang rất nhiều trong mọi tầng lớp dân chúng.
Tại miền Trung Việt Nam, sự tàn sát dân lành trên tỉnh lộ 7: một biểu hiện của hội chứng gia đình trong chiến tranh.
Con đường 14 nối liền Pleiku với Ban Mê Thuột đã bị cắt đứt nên phải dùng đường số 7 nối liền Pleiku với Phú Bổn và Tuy Hoà. Nhưng khốn nỗi vì phải xuyên qua một địa hình hiểm trở và vì bị bỏ hoang lâu ngày, với lại hai Sư đoàn 10 và 320 của địch đang gờm sẵn, thoái lộ 7 đích thực là một tử lộ. Không chỉ riêng đối với người lính chiến Quân Đoàn II mà còn đối với cả những thường dân và thê tróc tử phọc đi theo họ (khoảng 450.000 người).
Con số khổng lồ này nói lên một thực trạng tâm lý Việt Nam có từ ngàn đời, đó là tình cảm đại gia đình sống chết với nhau ở trong bất cứ tình huống nào nhưng lại vật cản trong những cuộc điều binh. Nó càng tăng cao khi thú dữ xuất hiện quanh nhà mỗi đêm, ở đây là sự hoảng loạn do nỗi kinh hoàng cộng sản sẽ trả thù – hình ảnh nấm mồ tập thể tại Huế năm 1968 chưa phai nét trong tâm tư người dân Nam Việt Nam - cuộc rút quân thành một cuộc di tản lếch thếch lê đi giữa những tiếng khóc trẻ em xen lẫn tiếng kêu lạc bầy đoàn, một thứ hỗn mang não nùng, kỳ dị…
Hàng ngàn chiếc quân xa, thiết vận xa, xe đò chở khách bị dồn cục trên suốt một đoạn đuờng dài 8 kilômét trước một chiếc cầu rêu phong, gẫy đổ, nằm ở cửa ngõ phía tây thị xã Hậu Bổn. Hàng chục ngàn cổ súng cộng sản gườm sẵn trên những điểm cao hai bên đường xối xả nhả đạn xuống mục tiêu là nửa triệu sinh linh mắc nạn, không phân biệt quân dân, nam nữ, già trẻ, biến đoàn người di tản tan xác trong khoảnh khắc với một bãi tha ma máu và nước mắt.
Tổng kết về con đường tử lộ số 7 như sau: 75% của 45.000 quân rút lui bị tử trận hay mất tích; 60% của 450.000 thường dân di tản bị sát hại. Một con số đọc qua thì nhanh nhưng hậu quả của nó sẽ hằn sâu vết đau thương mãi mãi trên dân tộc này.
***