TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương 38
Những kỳ tích xây dựng của Hoa Kỳ tại Việt Nam


Ngày nay vào cuối thế kỷ hai mươi sang đầu thế kỷ hai mươi mốt, trên những con đường quốc lộ xuyên khắp miền Nam Việt Nam, sự đi lại thông thoáng đó là nhờ những công trình vô cùng quý giá về hạ tầng mà người Mỹ đã để lại nơi đây sau khi cuộc chiến chấm dứt. Một cuộc chiến tranh kỳ lạ: quân Ðội miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng và kiên cường, mặc dầu họ luôn luôn phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, không được chiến đấu trong những điều kiện đầy đủ, dễ dàng như quân đội Đồng minh. Đúng như thế . Quân Ðội Hoa Kỳ chỉ chiến đấu khi nắm chắc được yếu tố “Vượt trội về hoả lực - Superiority of Firepower”. Họ chỉ chiến đấu tại Việt Nam trong thời gian ngắn hạn rồi thay nhau về nước. Như thế không bị dồn vào sự căng thẳng quá độ về thể chất cũng như tinh thần. Còn quân đội VNCH thì ngược lại, phải chiến đấu liên tục, không ngưng nghỉ. Sức chịu đựng cuả binh sĩ VNCH thật sự khủng khiếp đến thế nào, với bao áp lực tâm lý dồn nén khi ra chiến trường.
Ngoài ra, khi chiến đấu cũng như lúc đóng quân trong đồn lũy, người chiến binh Hoa Kỳ luôn luôn được bảo vệ bằng những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, cả về tấn công, phòng thủ cũng như yểm trợ. Người chiến binh VNCH không có được như vậy! Mạng sống của binh sĩ Việt Nam rất là mỏng manh. Trong khi phải xả thân chiến đấu bảo vệ đất nước, bảo vệ mạng sống cuả chính mình, họ vẫn lo nghĩ về gia đình, những người thân yêu phải sống ra sao ? Liệu có đang kẹt trong vùng lửa đạn, chết chóc hay không ? Về điểm này, người chiến binh Hoa Kỳ an tâm, tinh thần ổn định, thoải mái hơn rất nhiều.
Vào cuối năm 1964, miền Nam Việt Nam vẫn thiếu cơ sở hạ tầng xã hội, kinh tế, chính trị. Trong khi đó cuộc nổi dậy của cái gọi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, mà thực chất là quân đội từ miền Bắc xâm nhập vào miền Nam, đã thực hiện các vụ tấn công ngày càng thâm độc kiểm soát các khu vực lớn ở nông thôn.
Tổng Thống Mỹ Lyndon Johnson cũng không chỉ đơn giản có thể tăng quân lực để đẩy lùi kháng chiến. Với công chúng, chưa có một “cuộc chiến của Mỹ” nổ ra ở Việt Nam. Và không ai, kể cả Johnson, muốn nhận trách nhiệm gây chiến. Vì những lý do chủ yếu liên quan chính trị trong nước, Tổng Thống hành động thận trọng trong cả năm 1964, kéo dài thời gian chờ cho một giải pháp bất ngờ xuất hiện nhưng chẳng thấy giải pháp nào. Trong nỗ lực cứu nguy tình hình ở Việt Nam và giữ uy tín cho Mỹ, chính phủ bắt đầu lặng lẽ hành động trong nửa cuối năm 1964 như tăng sự có mặt trực tiếp của Mỹ ở miền Nam. Đây chính là lý do người Việt sau những chết chóc đau thương được hưởng những gì còn lại sau chiến tranh. Đúng là vào thời điểm đó không thể đổ quân ào ạt và tất nhiên không dễ cho việc chủ động để gửi hàng ngàn quân Mỹ. Các chuyên gia hậu cần quân đội nhận thức rằng không có đủ cơ sở hạ tầng hầu hỗ trợ chừng đó quân.
Nói tóm lại, không thể mở cuộc chiến quy mô lớn tại Việt Nam – nếu đường xá không đủ, không doanh trại, kho hàng, sân bay cũng thiếu. Chính quyền Mỹ quyết định mở rộng hợp đồng tư với liên minh xây dựng – gồm công ty Raymond International và Morrison-Knudsen. Hai hãng này nhanh chóng mời thêm nhóm khác – J.A. Jones và Brown & Root – để lập ra RMK-BRJ. Và tập đoàn tư nhân khổng lồ này nhanh chóng biến đổi miền Nam với sân bay, bến cảng, kho hàng.v.v... Người dân miền Nam trong đó có Nađa tận mắt chứng kiến những “kỳ tích xây dựng của thập kỷ”.
Trên các nơi hẻo lánh rất dễ dàng cho việc bắn tỉa của quân du kích Việt cộng từ đèo Hải Vân, Cù Mông, Đèo Cả , Ngoạn Mục, B’Lao, Prenn… xuất hiện xa xa nhiều đoàn quân Mỹ mở đường bảo vệ an ninh và trong sự năng nổ đầy trách nhiệm những công nhân dân sự Hoa Kỳ làm việc cật lực nhanh chóng hoàn thành những tuyến đường xuyên quốc gia như huyết mạch để bảo vệ chế độ tự do của miền Nam.
Quốc hội Hoa kỳ đồng ý chi 100 triệu đôla cho các dự án xây dựng năm 1965 và sang năm sau, tổ hợp đổi tên thành The Vietnam Builders. Đến cuối năm 1965, số lượng quân Mỹ tăng lên 184.000, và hơn 120 con tàu chở thiết bị chiến tranh thả neo gần Sài Gòn suốt nhiều tháng vì không đủ chỗ dỡ hàng. Một nhóm điều tra quốc hội năm 1966 bất mãn kết luận: “Năng lực cảng của Việt Nam là yếu tố chính ảnh hưởng tới mức độ trợ giúp – cả kinh tế và quân sự - mà Mỹ có thể dành cho Việt Nam.”
Từ đó, nhịp độ xây dựng các dự án quân sự tăng tốc từ 1966 cho đến suốt một năm rưỡi tiếp theo. Trong thời gian ngắn ngủi đó, tổ hợp đã bỏ ra 670 triệu đôla – so với 130 triệu của suốt bốn năm trước đó. Hậu cứ Long Bình, bến Tân Cảng, sân bay Tân Sơn Nhất, và các căn cứ quân sự khổng lồ ở Vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng đã tiêu tốn 790 triệu đôla khi hoàn thành. Đặc biệt, với năm dự án này, dù tốn kém, cũng chỉ chiếm chưa đầy một nửa tổng chi phí xây dựng mà Mỹ muốn có để phòng thủ miền Nam. Cho đến khi mãn hạn hợp đồng, Vietnam Builders đã đầu tư gần hai tỉ đôla trải dài khắp miền Nam. Họ đã biến miền Nam thành nơi đủ sức đón nhận sự có mặt quy mô của Mỹ, để có 536.000 lính vào cuối năm 1968.
Đến năm 1968, cuộc chiến đã in dấu lên Việt Nam. Một cuộc chiến lớn hơn có nghĩa là sự tàn phá cũng lớn hơn. Cũng có nghĩa là tham nhũng gia tăng, kinh tế bị bóp méo, xã hội biến động, khủng hoảng đến hốt hoảng từ chiến tranh mà mọi tiên tri đều có thể đoán được: con người cận kề cái chết như một trò đùa tàn nhẫn. Hậu quả trước mắt của nó là dòng người tỵ nạn đổ về các thành phố hay có khi họ chạy loanh quanh những nơi gọi là khu an toàn. Các nhà lãnh đạo cuộc chiến còn chút lương tri thật sự bị sốc khi thấy cuộc chiến tàn phá nông thôn, thúc đẩy dòng tị nạn khổng lồ (khoảng bốn triệu trong năm 1968) đổ dồn vào vùng đô thị, vào các trại tị nạn dọc vùng biển.
Chiến tranh cũng làm 100.000 thường dân thương vong mỗi năm. Dịch bệnh tăng vọt; dịch tả tăng từ hàng trăm lên đến 20.000 vụ. Khoảng từ 30.000 đến 50.000 người cụt chân tay chờ được lắp chân giả. Và chính phủ Sài Gòn chỉ dành chưa đầy 1% ngân sách cho dịch vụ y tế.
Sự méo mó kinh tế cũng gây hậu quả khủng khiếp. Sự có mặt mở rộng của Mỹ và chương trình viện trợ quân sự gây sốt lạm phát. Chi phí đời sống tăng 74% vào quý hai năm 1966. Một năm sau, giá cả tăng 190% so với mức của 1965, làm Đại sứ Mỹ phải tuyên bố “vấn đề kinh tế nay là ưu tiên hàng đầu”. Chính thể Sài Gòn không thể nuôi chính mình, thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ.
Mặc dầu sự kiện Tết Mậu Thân đã làm cho phe miền Bắc tổn thất nặng nề, nhưng bên trong Tổng Hành dinh điều khiển cuộc chiến Việt Nam, nó đã bị xé toạc sự đồng thuận ở Washington, cuộc chiến thực ra từ trước đã phá vỡ mục tiêu lớn hơn của Mỹ tại Việt Nam – tạo dựng một quốc gia hiện đại, tự chủ phía dưới vĩ tuyến 17. Quả là một tệ hại to lớn đó là chưa bao giờ Hoa Kỳ đạt tới điểm thuộc phạm vi chiến lược, đó là chính thể Sài Gòn có thể tự mình tồn tại mà không nhờ viện trợ Mỹ.
Đến năm 1968, miền Nam cũng chẳng ở vị trí khá hơn các năm trước để có thể tuyên bố không cần viện trợ Mỹ. Có thể nói, khi đó miền Nam còn yếu thế hơn trước.
Có một tâm lý bất an luôn xảy đến cho dân tộc này nhưng nói thật công bình người Mỹ đã xây dựng một nền tảng bình an muôn thuở cho đến khi nào con người vẫn còn di chuyển trên đất nước này cũng như lớn hơn trong phạm vi toàn cầu. Tổ hợp VietNam Builders cũng đã xây dựng rất nhiều cho Việt Nam - Xa lộ Sài Gòn Biên Hòa, khu công nghiệp Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Biên hòa, Cam Ranh, Chu Lai, Non Nước và các sân bay khắp nước Việt Nam, các đường sá, cơ sở hạ tầng mà cho đến nay Việt Nam vẫn sử dụng.

***