Chương 37
Những Anh Hùng thời đại
Hội chứng rối loạn hoảng loạn rất phổ biến trong chiến tranh, đây là chứng lo âu bộc phát từng cơn dữ dội, tái đi tái lại nhưng không giới hạn vào bất kỳ tình huống đặc biệt nào nên thường không đoán trước được. Thật vậy, với cơn vắng ý thức chỉ xảy ra trong vòng ½ đến 10 giây, cơn này vụt qua rất nhanh, chủ thể không biết được mà do những người chung quanh phát hiện. Lúc lên cơn mắt người bệnh đờ đẫn nhìn vào khoảng không, da tái nhợt, sắc mặt biến đổi nhanh chóng, người bệnh có thể chắp lưỡi vài cái, nhai nuốt vài lần, đánh rơi đồ vật đang cầm ở tay hoặc chữ viết trở nên nguệch ngoạc. Song, cơn vắng ý thức có thể xuất hiện nhiều lần trong ngày và hay xảy ra khi người bệnh xúc động, có hiện tượng giựt nhãn cầu, giật mi mắt, giật nhẹ các chi trên .
Với cơn nhỏ giựt cơ thường xảy ra ở hai chi trên và biểu hiện bằng sự vụng về các hành vi. Trong trường hợp giật cơ xảy ra ở hai chi dưới, người bệnh thường ngã khụy xuống mà không mất ý thức. Cơn co giật thường xảy ra buổi sáng sau khi thức dậy và dù không biết rõ nguyên nhân, các cơn co giật cơ có thể gặp trong một số bệnh cảnh như tăng urê huyết, suy gan, bệnh Creutzfeldt Jacob, bệnh thể Lafora. Nhiều nạn nhân sau thời gian dài bị giam giữ đã điên thật và cả cán bộ cai tù cũng trong khủng hoảng, quả cái gọi “thiên đường trần thế” đã cùng nhau biến con người thành những kẻ điên - thế giới không chỉ là một trò đùa – le monde come un jeu - như tác giả nào đó đã viết, mà con người Việt Nam thật sự đang bị lùa vào thế giới đầy ma trận của những kẻ không bình thường lãnh đạo đất nước.
Tổng thống Thiệu hạ lệnh rút bỏ 2 Quân Khu - một địa điểm chiến lược mà mỗi người Việt Nam khi học địa lý đều biết: ai nắm được Tây Nguyên sẽ làm chủ cả Đông Dương. Ông đã nhận lệnh từ đâu ? - Ðể gây nên một sự tan rã, hỗn loạn cuả cả một lực lượng quân đội to lớn, hùng mạnh trong khi tất cả đang sẵn sàng chiến đấu để sống còn. Sự tan rã hỗn loạn này kéo theo sự hỗn loạn tràn ngập cuả hàng triệu dân chúng đổ vào Quân Khu 3, bao quanh Thủ Ðô Sài Gòn. Quân Cộng sản chẳng cần đánh, mà cứ như đi vào chỗ không có người. Nên khi gặp sự quyết chiến cuả Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH, với sự tăng cường cuả một số đơn vị bạn, mà Bộ Tư Lệnh Hành Quân cuả Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng đã phải tung ra 2 Sư Ðoàn thiện chiến để hòng nhân đà thắng lợi, đánh tan Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, dưới sự chỉ huy cuả vị Tướng Trẻ Lê Minh Ðảo, nhưng không thắng nổi. Sau cùng Văn Tiến Dũng phải tung thêm 2 Sư Ðoàn nữa vào mặt trận này, là 4 Sư Ðoàn tất cả, lấy 4 đánh 1, trong thế thuận lợi hoàn toàn về phương diện tinh thần quân sĩ đang lên. Vậy mà Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH chỉ chịu rời bỏ trận tuyến khi có lệnh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 kiêm Vùng 3 Chiến Thuật. Vị Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 không muốn trông thấy Sư Ðoàn 18 Bộ Binh VNCH anh dũng, kiên cường bị tiêu diệt trước thế trận bất quân bình, địch đông gấp 4 và có thể tăng gấp 5, gấp 6 nếu cần, vũ khí đạn được, xe tăng, pháo binh được cộng sản quốc tế đổ vào như mưa bão, quyết đánh chiếm Sài Gòn như đã định.
Tướng Homer Smith, Tùy Viên Quốc Phòng Mỹ tại sài Gòn, ngày 13 đã gửi cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ ca ngợi ý chí và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Sau 5 ngày theo dõi cuộc chiến Xuân Lộc, Tướng Smith đã nói : “ Sự chiến đấu anh hùng và dũng cảm của quân đội Nam Việt Nam. kể cả Ðịa Phương Quân Tỉnh Long Khánh, đã cho người ta thấy rõ tinh thần và khả năng chiến đấu của những người lính này giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều..” Ðó là chưa nói đến các chiến sĩ Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tại chiến trường Xuân Lộc.
Trong lúc đó tại Quân Khu 4, ở miền Tây, Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, một Tướng giỏi, với Tướng Tư Lệnh Phó Lê Văn Hưng, người hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, có trong tay 3 Sư Ðoàn Bộ Binh thiện chiến và các lực lượng Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh, Ðịa Phương Quân, các đơn vị yểm trợ chiến đấu rất hùng hậu, tinh thần rất cao, sẵn sàng chờ địch tiến đánh Quân Khu 4 cuả 2 Tướng này. Khi Tổng Thống Dương Văn Minh, với tư cách Tổng Tư Lệnh lúc đó, bị chỉ huy bởi Thượng Toạ Thích Trí Quang và ngay cả từ Hà Nội qua trung gian cuả người em ruột Dương Văn Minh, Sĩ quan cao cấp cộng sản là Dương Văn Nhựt hạ lệnh cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà buông súng đầu hàng cộng sản vô điều kiện để bàn giao cho cộng sản, hi vọng kiếm cho bản thân và bè lũ, chỗ đứng chỗ ngồi mà cộng sản sẽ dành cho trong chính quyền “Cách Mạng giải phóng” với cái gọi Chính phủ Hoà Giải Hoà hợp Dân tộc, thì Tướng Nguyễn Khoa Nam đã họp các Sĩ Quan có trách nhiệm chỉ huy dưới quyền, và ra lệnh: anh em tuỳ nghi lo liệu về phần mình, trước tình thế chúng ta bị bắt buộc phải đầu hàng. Kế hoạch chiến đấu để tự cứu mình và bảo vệ vùng lãnh thổ trách nhiệm của chúng ta đã không thi hành được như anh em đã có thể biết...Sau đó, Tướng Nguyễn Khoa Nam, trong bộ quần áo tác chiến, mũ sắt 2 lớp đã vào Văn Phòng Tư Lệnh, ngồi xuống ghế của mình, nhìn lại lần cuối tấm bản đồ Tổ Quốc trên tường rồi rút súng bắn vào đầu tự sát. Chắc chắn là trước khi bóp cò cho viên đạn xuyên qua đầu, vị Tướng đáng kính phục này đã nói những gì với Tổ Quốc, với đồng bào, với chiến hữu cuả ông. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn, anh hùng tử thủ An Lộc mấy năm trước, trở về căn cứ chỉ huy phụ, nói với người vợ thân yêu “Em ở lại nuôi con, anh phải ra đi vì thân làm Tướng không thể sống nhục như thế này…” -Người vợ thân yêu nói với ông “Anh Hưng ! Cho em chết theo với ! Tất cả chúng ta và các con cùng chết với nhau!”; Tướng Hưng đã thuyết phục người vợ : Không được ! Cha Mẹ không có quyền giết con. Em phải sống để nuôi dạy con nên người để trả thù nhà và cùng với thế hệ mai sau lấy lại Ðất Nước này ! Em phải sống dù phải chấp nhận hi sinh, khó khăn, gian khổ. Người vợ thương yêu và can trường của vị Tướng anh hùng này nói trong nước mắt : Em nghe lời mình với hai điều kiện : Nếu cộng sản bắt em phải xa lìa các con hay chúng làm nhục em thì em có quyền tự sát ! Tướng Hưng bằng lòng, nắm lấy tay vợ rồi chào từ biệt vợ con cùng một vài Sĩ Quan, Binh Sĩ đã có mặt từ trước tại đây để dự định liên lạc với các đơn vị thi hành kế hoạch chiến đấu cứu mình, cứu Quân Khu 4, của hai Tướng Nam và Hưng, rồi vào phòng riêng, gạt đi lời yêu cầu của người vợ xin được chứng kiến tận mắt sự ra đi của chồng. Tướng Hưng đóng cửa lại, và một phát súng nổ… Tướng Lê Văn Hưng đã ra đi vĩnh viễn cùng với Tướng Tư Lệnh Nguyễn Khoa Nam, để lại cho Lịch Sử dân tộc Việt Nam những tấm gương bất khuất sáng ngời, như những tấm gương bất khuất cuả Cha Ông ngày trước, cuả những thời đại Lý Thường Kiệt phá quân ngoại xâm Nhà Tống, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn đại phá quân Mông Cổ vv…
Hai Tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưngđã cùng một số Tướng Lãnh khác như Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ và nhiều Sĩ Quan cao cấp khác cuả Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà đã chết theo vận nước. Các Ông không muốn bị bắt làm tù binh hay đầu hàng giặc để lại ô danh cho hậu thế. Các ông cũng không muốn bỏ quân lính mà chạy lấy thân để rồi ra nước ngoài. Quả thật với người dân Việt vào mỗi thời khác nhau đều có địa linh nhân kiệt.
***