Chương 33
Chim còn có tổ…
Con ngựa thồ màu trắng kéo theo sau một khung củi có hai bánh xe bằng gỗ về sau văn minh hơn thay đổi bằng vỏ cao su như lốp xe ô tô, ngồi trên đó cũng êm khi di chuyển, tên vẫn là xe ngựa. Đó là phương tiện giao thông đường bộ phần lớn giữa các vùng nông thôn Việt Nam trong thời hoà bình. Những giếng nước cũng thay đổi với điều kiện tốt hơn có tay quay cùng đường sá được tráng nhựa hoặc ít ra cũng được san ủi có trải đá. Quanh các làng với những cái giếng nói lên sự sung túc của mỗi gia đình, thường các dây trầu bám theo thân cây cau, những hàng cau như giàn chào hai bên lối nhỏ từ con lộ dẫn vào mỗi gia đình. Bao giờ quanh giếng cũng là những hàng cây tươi tốt, có cả những luống rau sạch tại đây trong cách canh tác tự cung tự cấp của nông thôn Việt Nam. Các loại rau đều rất thơm ngon: dấp cá, rau diếp, húng đủ loại, rau răm, có cả cây chanh, bụi ớt, lá hành…
Không ai nghĩ trong khoảnh khắc cảnh yên bình ấy tiêu điều ra tro hết. Trên trời từng phi đội máy bay phóng tốc độ nhanh chóng hạ thấp xuống rải hàng loạt tấn bom xuống khắp thôn làng. Bom rơi đến đâu bùng lên trong ánh lửa bốc cháy rồi tiếng nổ vang dội, kẻ sống người chết khiếp đảm kinh hoàng…
Một người đàn ông trung niên sống sót đứng bên đống đổ nát, tro tàn, gạch vụn của ngôi nhà. Ông vẫn còn nụ cười không phải cười gượng, ông hiểu rằng đó là hậu quả tất yếu trong chiến tranh vì vừa có một tiểu đoàn cộng sản Bắc Việt chuyển quân ngang qua vùng này. Khi được hỏi ông có biết bom của Mỹ hay của Việt Nam Cộng Hoà? Ông cũng chỉ cười và bảo không biết của ai! Ông chỉ cho phóng viên chiến trường xem cái hố bom thật sâu tạo thành một vũng nước có thể thả cá thành ao nhà… ông lại cười ‘người Á Đông hay có chuyện tái ông thất mã’. Không ai hiểu ông lại có thể sống sót khi cả cái móng sân nhà cũng bay lên… Những viên gạch lại được bắt đầu sắp xếp lại cho dù những trận mưa bom có tiếp theo. Người dân chỉ niệm “cầu trời cho các ổng đừng qua đây”. Ổng đây là Việt cộng.
Cũng trong làng vừa bị dội bom, có ba chị em, người chị cả gần tám mươi đã không còn nữa kể cả cái xác thân của bà, những mảnh bom đã mang theo cùng. Ngôn ngữ duy nhất với những người còn lại trước sự đổ nát, họ chỉ còn mấy từ: Bom đó. Bom đó. Bom thả. Bom rơi…
Sau trận chịu bom lần đầu và có lẽ mãi đến lần cuối khi chiến tranh chấm dứt, cảnh tượng nhà cửa đổ nát, cây trái ngã rụi đến chết cháy. Một người phụ nữ khóc: ‘Tôi nói các ông hay, con chim còn có tổ, con người có mái tranh chui ra chui vào, còn giờ đây hoang tàn đổ nát biết ăn ở nơi đâu, mảnh bom đầy người biết làm gì để kiếm sống khi tuổi đã cao. Không còn gì để ăn. Không còn gì để bán. Không thể làm gì được nữa. Con người trở nên bất lực nhưng phải sống đó là sự khốn nạn của con người. Nhưng từ đó các nhà văn, các triết gia… có đề tài để viết mà triết lý khỏi khốn cùng. Giữa căn nhà là một đống chén bát, xoang chảo đã vỡ nát ra từng mảnh tung toé… còn cái gì để nấu để ăn… Vài đôi dép cũng không buồn bị bom cắt đôi hay nát ra thành mảnh, các đống gạch vụn phần lớn của các gia đình vẫn còn.
Chỉ với một lần và chỉ duy một lần, người dân bình thường trong các làng đã trở nên những nạn nhân tâm thần trong chiến tranh. Họ thật sự sợ hãi! Mỗi khi ra khỏi nhà với đôi mắt dớn dác, những bước chân trở lại trên cánh đồng đầy sự lo âu, dè chừng trong sự ám ảnh sắp có oanh tạc… dội bom.
Bên kia bờ đại dương, tận Hoa Thịnh Đốn hay Mát Cơ Va đến Bắc Kinh… nhiều lễ duyệt binh để biểu dương sức mạnh của các quốc gia, không mấy ai nhận thấy bên sau những nòng súng đang giương cao đó là những vật ăn thịt người, nó là những ổ nuốt chững đồng loại theo lệnh của quyền lực mà làm người ai cũng thích quyền lực. Nhưng tại Hoa Thịnh Đốn còn có những cuộc biểu tình nhằm đánh thức lương tri đồng loại ‘chớ giết người, chớ làm chứng dối..’ còn hầu như các Kinh đô kia đều say máu.
Một đoạn phim từ chiến trường còn ghi lại, một cán binh cộng sản miền Bắc bị thương, binh lính Hoa Kỳ vây quanh băng bó trong sự cảnh giác cao độ lại vừa đùa cợt với nòng súng đè cổ, còn anh Việt cộng kia đang không còn miếng vải quần che phần dưới với ‘nòng súng đang lúc hết đạn’… Chiến tranh là vậy con người bắn giết nhau cho đến không còn cái ‘nòng súng’ vẫn chưa tha.
Những đoàn xe convoy của Hoa Kỳ nối đuôi nhau di chuyển liên tục ngày đêm trên các tuyến đường xung yếu giữa các thành phố và nơi đóng quân của các lực lượng Đồng minh. Những người lính Mỹ mặc quân phục có áo giáp và được trang bị mọi thứ trên cơ thể mà đối phương gọi là được trang bị đến tận chân răng. Dân chúng cư ngụ hai bên đường thường bỏ cả công việc cho đến khi đoàn quân tiếp tế thật dài rời khỏi khoảng không gian nơi họ quan sát. Binh lính Mỹ lúc nào cũng vui vẻ trong cảnh giác, chỉ khi nào họ bị bắn sẻ hoặc có báo động từ xa, lúc đó họ mới giơ cao nòng súng, còn bình thường kẻ tháo các thùng đồ hộp trên những remorque thật dài và ném xuống cho các con trẻ đang chạy theo đoàn quân hậu cần và kêu ‘hello, hello’. Cả người Việt đã lớn tuổi cũng nhận được các loại đồ hộp khác nhau nếu chịu đưa tay hứng lấy những món quà xã giao phi lộ dọc đường này. Thế là mỗi lần có dịp những đoàn quân Mỹ xuất hiện, các con trẻ tha hồ nhặt quà ném xuống từ các xe hậu cần, nhưng có những học sinh nhất quyết lại không chịu nhặt những lon đồ hộp này vì một chút lòng tự trọng đúng hơn là ‘sự tự ái dân tộc’ nên các bạn trẻ này không nhận quà theo cách này. Quả là người Mỹ có kiểu cho trịch thượng của người giàu và người dân Việt chân chất được nhìn ngắm người da trắng như lần đầu tiên và có lẽ ‘may mắn’ nhờ chiến tranh mà họ được tiếp cận với giống dân này.
Học sinh hay dừng xe hai bên đường khi đến trường cùng cư dân quan sát không biết trong suy nghĩ của những binh sĩ kia có nghĩ rằng họ đến đây để bảo vệ chế độ tự do hay chỉ làm tròn bổn phận trong nghĩa vụ quân dịch của một công dân Hoa Kỳ. Họ tin điều sau đúng hơn trong mọi cách lập luận của mỗi người lính Mỹ khi đến đây. Chuyện quân đội Đồng Minh đến đây để đánh nhau với Việt Cộng, đó là chúng ta Mỹ Việt có mẫu số chung cùng nhau tự vệ để giữ những quyền cơ bản của con người mà dưới chế độc cộng sản con người sẽ không có gì cả, những ai đã từng sống dưới chế độ cộng sản gọi là thời Việt Minh trong thời gian trước đó vào giai đoạn này đã có tuổi và đều nhận ra như vậy.
Gia đình Nađa cũng thuộc những người cộng tác ở miền Nam, những cố vấn Mỹ vẫn đến liên tục để tham khảo ý kiến, nhưng thật sự họ chỉ muốn biết để phân loại các thành phần từ dân chúng đến các nhân vật từ tầm cở địa phương đến trung ương hơn là cùng nhau đưa ra các kế sách để bình định xã hội, cao hơn trong phạm vi chiến lược để đưa cuộc chiến đến thắng lợi, nhất là tính không kế tục của người Mỹ khi họ luôn thay đổi những người có trách nhiệm trong vai trò nào đó đến một người khác trong một nhiệm kỳ phục vụ mới và thường những con người mới này phải bắt đầu từ mọi thứ. Nghĩa là những năm người Mỹ hiện diện tại chiến trường Việt Nam, tình báo của họ mang tính khai thác và đối phó nhiều hơn. Nó không mang yếu tố tinh thần nền tảng để có sự chính danh cho cuộc chiến, tinh thần đó có thể thay đổi trên tinh thần thực dụng nếu quyền lợi của Mỹ trong cục diện toàn cầu thay đổi, hà tất cuộc chiến cũng phải đổi thay. Như vậy cuộc chiến đó không thể gọi là thắng thua theo kiểu ai diệt được đối phương trên chiến trường nhiều nhất sẽ chiến thắng vì ở đây ngay việc khởi đi cho sự bắt đầu có cuộc chiến với người lãnh đạo đoàn quân viễn chinh, một khi chỉ cần có cái lý để lên đường với người lãnh đạo đã là chiến thắng: một là nó giải quyết được lòng nhiệt thành của giới trẻ có môi trường huấn luyện thành những con người kiên cường để bảo vệ quốc gia khi cần. Thực chất của cuộc chiến với người lãnh đạo sẽ không làm cho quốc gia bị ngủ quên và chẳng may dân tộc nào trở thành nạn nhân trong cánh tay dài của quyền lực và biết sử dụng quyền lực của các ‘quân vương’ này thì dân tộc ấy phải gánh chịu. Giải thích theo thuyết nhân quả thì âu cũng là cái nghiệp của bao đời từ tiền kiếp cha ông dân tộc ấy đã gieo mà nay con cháu phải gánh chịu.
Đàng khác, biết dựng lên một kẻ thù bên ngoài để tạo sự đoàn kết bên trong hay ít ra một phát đạn bắn được nhiều con chim – chiến trường Việt Nam đã trở thành một nơi khoe súng đạn giữa các siêu cường, con người cần chợ búa, siêu thị để giải quyết hàng hóa cũng như cần có chiến tranh để giải quyết súng đạn dư thừa, đồng thời giới thiệu phô bày những loại vũ khí tối tân hơn trong bản chất con người luôn thích chinh phục và trừng phạt và thật sự nếu có tiếng kêu chống chiến tranh hay lời kêu gọi như Kinh Hòa Bình đi nữa cũng chỉ đủ ru nhẹ tính khí hung ác của con người. Theo dòng lịch sử những tiếng kêu ấy là người còn chút lương tri phải lên tiếng nhưng thực chất hầu như nếu không bán được vũ khí thì lấy đâu cúng Nhà thờ, cúng Chùa… Tôi thấy trên quê hương tôi, các thánh lễ Misa và ngày rằm các nhà sư đều kêu gọi cầu nguyện cho hòa bình, nhưng không có sự long trọng nào cao quý hơn khi sự đón tiếp diễn ra dành cho các ông tướng, ngay cấp tá cũng đã thấy khác xa với thường dân lắm rồi. Vậy đâu là những vị thần hòa bình và những ông thần chiến tranh. Thần hòa bình như một chiêu bài để tạo chính nghĩa vì con người không ai chịu nhận mình làm điều ác vì có kẻ trộm, tham nhũng cũng nói để nuôi cha mẹ già yếu mà đồng lương không đủ; còn thần chiến tranh đó mới là bộ mặt thật của con người, NÓ là sự sống hằng ngày trong ưu thắng liệt bại mà ngay những giây phút đầu tiên nó – con tinh trùng kia phải vượt trội hơn trong số cả tỷ con tinh trùng khác, phải chiến thắng mới chào đời.
Theo thời gian, những bí mật từ Liên Xô cũ trong chiến tranh Việt Nam dần được tiết lộ như về điều kiện làm việc của các chuyên gia Liên xô vào thời đó, ngoài bom đạn quân thù, trong số những nguy hiểm rình rập các chiến sĩ tên lửa Nga, theo như các cựu chiến binh hồi tưởng lại, còn có mối nguy số 1 là bệnh viêm phổi, ban ngày, nhiệt độ trong buồng điều khiển tên lửa lên tới 65 độ C. Sau mấy tiếng đồng hồ trực chiến trong buồng này, bước ra ngoài trời có nhiệt độ 25-30 độ C, những người con của xứ Nga hàn đới rất dễ bị ốm ngay tức khắc. Điểm ghi nhớ gần 6 nghìn rưởi chuyên gia và cố vấn quân sự Xô-viết đã giúp miền Bắc Việt Nam xâm lược miền Nam.
Ngay từ năm 1964, ở Liên Xô đã bắt đầu thành lập các đơn vị, mà trước hết là từ binh chủng tên lửa, giành cho “công tác miền Nam”, như cách gọi hồi đó. Theo qui tắc bảo mật, từ “Việt Nam” không hề được nhắc đến, nhưng tất cả đều hiểu rằng, những người được chọn vào các đơn vị này sẽ đi Việt Nam tham gia chiến đấu. Vào mùa xuân năm 1965, các chuyên gia quân sự Xô-viết đã đặt chân đến các vùng rừng rậm Việt Nam để lắp ráp các bệ đặt tên lửa đất đối không và tiến hành huấn luyện kỹ thuật cho các chiến sĩ Việt nam. Đại tá Ivanov, phục vụ ở Việt Nam những năm 1965-1966, đã nhớ lại và nói rằng “ Chúng tôi canh giữ bảo vệ bầu trời Việt Nam để các đồng chí Việt Nam có thể vươn tới chiến thắng trên mặt đất”. Đơn vị tên lửa nơi ông Ivanov làm chuyên gia đã bắn tan xác 24 máy bay Mỹ.
Nhờ có công tác của họ, chỉ vài phút sau khi phi đội pháo đài bay B-52, mỗi chiếc mang theo 30 tấn bom, cất cánh từ căn cứ Gu-am, ở Liên xô đã nhận được thông tin, và ngay lập tức, tin những tên cướp trời xuất phát cũng như dự đoán đường bay và hướng gây tội ác của chúng, được chuyển cho Bộ Tổng Tham mưu quân đội nhân dân Việt nam, để bố trí lưới lửa giăng bắt
*Radio “The Voice of Russia. Bài viết này được đăng vào Tháng Ba 5, 2007 lúc 6:44 sáng và tập tin được lưu ở Văn hóa. Bạn có thể theo dõi các phản hồi của bài viết này thông qua RSS 2.0 dòng thông tin.
***