Chương 29
Tại Miền Nam Việt Nam,
Tướng Nguyễn Khánh và Hiến Chương Vũng Tàu
Sự ra đi của một minh quân thường bao giờ việc chuyển tiếp quyền lực cũng trong êm thắm, nhưng với các nhà độc tài quân phiệt, bạo chúa các triều đại kế tiếp luôn trong xáo trộn, những bài học lịch sử còn ghi lại họ bị giết bởi người thân hay cận thần. Mọi sự khởi đầu quyền lực đều có mầm mống manh nha cho một thế lực mới vì ai cũng nghĩ trong sự đơn giản tôi có thể nắm quyền nếu có thời cơ. Cái bóng đen che lấp quyền lực cả khu rừng nay không còn là niềm đe doạ và sợ hãi nên các chú măng non tha hồ vươn lên không ngoài sự tranh giành để nắm quyền lực mà vốn đã bị ngự trị trước đó.
Sau khi lật đổ chính quyền Dương Văn Minh, ngày 8 tháng 2, 1964 tướng Nguyễn Khánh ra mắt một chính phủ mới do mình tự làm Thủ tướng.
Tướng Dương văn Minh vẫn được giữ làm Quốc Trưởng nhưng một số tướng lãnh khác bao gồm các tướng Trần văn Đôn, Lê văn Kim, Tôn thất Đính và Mai Hữu Xuân bị bắt giữ. Điều đặc biệt trong sự thành lập chính phủ, tướng Khánh đã đi theo sát những lời khuyên của Lodge. Viên Đại sứ Mỹ tại Miền Nam vào thời điểm này, chỉ khác miền Bắc, các chính thể miền Nam không treo hình các Tổng Thống Hoa Kỳ, còn bên kia vĩ tuyến 17 hình của các lãnh tụ Cộng sản Nga Tàu treo khắp nơi với một sự tôn sùng mà dân gian đều biết ‘Thương cha thương một, thương ông thương mười’. Theo tuần báo Time, số ra ngày 14 tháng 2, 1964, Khánh đã hỏi Lodge nên bổ nhiệm những ai vào trong nội các và được Lodge trả lời “Một quy luật quý của chính trị dù tại quốc gia nào chăng nữa là nên bao vào chứ đừng loại ra, làm sao để tất cả các thành phần trong cộng đồng đều có cơ hội tham dự”. Và với sự trợ giúp của Lodge, tướng Khánh đã mời vào trong chính phủ đại diện của tất cả các đảng phái chính trị, tôn giáo và địa phương có thế lực. Có thể nói chính phủ này là một tập hợp đại đoàn kết, bao gồm mọi thành phần tại miền Nam, nhưng rồi nó cũng giống như một rổ rau trộn chỉ làm khoái khẩu trong lúc khai vị, thật sự đã không mang lại được một kết quả tích cực như người ta mong muốn. Hậu quả quyền lực không chỉ là một sự gom vào nhưng phải loại ra qua sự sàng lọc tự nhiên với chọn lựa của các công dân, giữa các minh triết thật chuyên môn uy tín trong quản trị đất nước. Sự khác biệt trong quan điểm giữa các thành viên của nội các quá lớn để có thể làm việc chung được với nhau. Trong khi đó tướng Khánh lại không đủ khả năng hoặc uy tín để lãnh đạo chính phủ đi theo đường lối mà mình muốn. Hậu quả là chỉ một thời gian ngắn sau đó tranh chấp đã nổ ra bên trong nội bộ chính phủ với mỗi thành viên tìm cách bảo vệ cho quyền lợi của phe nhóm mình.
Giống như ông Diệm, và cũng giống như những tướng lãnh khác trong nhóm đảo chánh của tướng Minh, tướng Khánh chỉ có một chấp nhận giới hạn về việc dân chủ hóa chính trị Việt Nam. Hay nói khác đi bản chất này thuộc tất cả các lãnh tụ có mầm mống độc tài. Trước những chỉ trích của giới trí thức, tướng Khánh đã lên tiếng đả kích lại những “trí thức phòng trà” và hứa không để “những người này lợi dụng nhân dân và quân đội.” Trong một cuộc nói chuyện với một quan chức Mỹ của CIA, tướng Khánh nói tuy rằng Việt Nam có thể bắt đầu xây dựng những định chế của một nhà nước dân chủ nhưng “để đạt được một nền dân chủ toàn diện, chúng tôi còn phải mất nhiều thời gian có thể phải một hoặc hai thế hệ nữa.”
Chỉ sau hơn một tháng tình trạng phân hóa bên trong chính phủ Nguyễn Khánh đã nổ ra công khai. Ngày 4 tháng 4, 1964, bộ trưởng Nội Vụ Hà Thúc Ký từ chức vì bất đồng quan điểm với Thủ tướng Nguyễn Khánh. Tướng Lâm Văn Phát được bổ nhiệm thay thế ông Hà Thúc Ký. Ngày 11 tháng 7, ông Nguyễn Tôn Hoàn cùng một số chính trị gia và nhân sỹ khác thành lập một Lực Lượng Quốc Gia Thống Nhất.
Càng đi sâu vào năm 1964, tình hình chính trị xã hội nói chung càng ngày càng rối loạn. ‘Hãy đoàn kết bạn hữu lại và chia rẽ kẻ thù ra’, chính quyền Nguyễn Khánh thay thế một loạt những quan chức địa phương, tỉnh trưởng, quận trưởng, trong đó có một số người trước đó đã bị chính quyền Dương Văn Minh thay thế vì trung thành với ông Diệm nay được phục hồi chức vụ. Việc phục hồi chức vụ cho những người này đã lại tạo ra một phong trào phản đối về phía những người Phật Giáo tranh đấu tố cáo rằng chính phủ Nguyễn Khánh muốn quay trở về đường lối đàn áp Phật Giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm trước. Thế rồi trước sự đồn đại, chính quyền Nguyễn Khánh đã phải nhượng bộ, nhưng sự nhượng bộ này đã tạo ra một phản ứng mạnh mẽ của Công giáo. Nếu ngày 23 tháng 5, 1965, Phật Giáo tổ chức lễ Phật Đản tại Bến Bạch Đằng để biểu dương lực lượng với hàng vạn người tham dự và hàng chục xe hoa đi diễn hành trên các đường phố thì ngày 7 tháng 6, 1964 hai mươi chín họ đạo Hố Nai và các vùng phụ cận cùng với hàng vạn giáo dân thành phố Sài Gòn Chợ Lớn cũng biểu tình để biểu dương lực lượng. Các giáo dân chăng biểu ngữ “Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng để đàn áp Công giáo”; “Mỵ dân là phản bội Dân chủ”; “Ủng hộ cuộc tranh đấu của Công giáo miền Trung”.
Tình hình chính trị xã hội trở nên rối loạn hơn khi vào ngày 16 tháng 8, Hội Đồng Quân Sự Cách Mạng của các tướng lãnh họp tại Vũng Tàu bầu cử tướng Khánh làm chủ tịch Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng, kiêm Quốc trưởng và Thủ tướng nước Việt Nam Cộng Hòa và đưa ra một hiến chương mới gọi là Hiến Chương Vũng Tàu nhằm thể chế hóa quyền lực của giới quân nhân. Theo Hiến chương này, chủ tịch Hội đồng Quân Nhân lãnh quyền Quốc trưởng và có nhiều quyền hạn đặc biệt. Bên cạnh chủ tịch có một Quốc Hội lâm thời gồm 100 hội viên dân sự và 50 hội viên quân sự do Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ định. Tuy nhiên Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng vẫn nắm vai trò cơ quan quyền lực tối cao của cả nước.
Việc đưa ra Hiến chương Vũng Tàu lập tức tạo ra một phản ứng chống đối mạnh mẽ không những trong các giới chính trị mà còn cả từ phía các sinh viên học sinh. Ngày 19 tháng 8, 1964 một số đông đảo sinh viên tập trung tại trụ sở Tổng Hội sinh viên đường Duy Tân cũng như tại một số trường học khác để thảo luận về thái độ đối với hiến chương mới này.
Ngày 22 tháng 8, sinh viên học sinh kéo đến biểu tình đông đảo trước phủ thủ tướng, đưa kiến nghị phản đối Hiến Chương Vũng Tàu và đòi gặp thủ tướng Khánh, yêu cầu thành lập một chính phủ trong sạch trẻ trung và các tướng lãnh trở lại nhiệm vụ quân sự của mình. Ngày hôm sau sinh viên học sinh tiếp tục biểu tình. Đến đài phát thanh đòi cải chánh tin sinh viên gặp thủ tướng Nguyễn Khánh để ủng hộ Hiến chương Vũng Tàu. Không được thỏa mãn sinh viên tràn vào đập phá đài phát thanh. Sau đó họ tiếp tục biểu tình qua trường J.J. Rousseau kêu gọi học sinh trường này xuống đường tranh đấu rồi đến bộ Thông Tin đòi bãi bỏ kiểm duyệt và loan tin chính xác. Trong khi đó, các nhóm chính trị cũng nhảy vào chống đối.
Tình hình xáo trộn trở nên căng thẳng nhất vào những ngày cuối tháng tám với những tin đồn đại đủ thứ về phá Chùa, phá Nhà Thờ Đức Bà khiến Phật tử đổ đến canh gác các chùa chiền trong khi tín đồ Công giáo cũng chuẩn bị giáo mác gậy gộc chuẩn bị bảo vệ nhà thờ và những cơ sở khác của họ. Linh mục Hoàng Quỳnh, chủ tịch Ủy Ban Tranh Đấu Công giáo gởi thơ đến cho Thủ tướng Nguyễn Khánh, trách chính phủ đã không quan tâm bảo vệ cho Công giáo và yêu cầu chính quyền phải điều tra các vụ đàn áp Công giáo nếu không “Công giáo sẽ tự vệ và không chịu trách nhiệm về hậu quả”.
Trước tình trạng đó, tướng Khánh và các tướng lãnh quân đội phải nhượng bộ. Ngày 26 tháng 8, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng ra thông cáo hủy bỏ Hiến Chương Vũng Tàu, hứa hẹn sẽ bầu Nguyên thủ quốc gia và ủy nhiệm Nguyên thủ thực hiện chế độ Dân Chủ; quân đội sẽ trở về vị trí chiến đấu. Trong khi chờ đợi, ủy nhiệm chính phủ tạm thời điều khiển quốc gia.
Mặc dầu vậy, tình trạng xáo trộn vẫn tiếp tục kéo dài với các cuộc xô xát đặc biệt là giữa những người Công giáo và Phật giáo thường xuyên xảy ra. Trong thời gian thành phần chính phủ thay đổi luôn luôn với các người đại diện cho các đảng phái hoặc tôn giáo như Nguyễn Tấn Hồng, Bùi Tường Huân, Nghiêm Xuân Hồng lần lượt từ chức. Một cuộc đảo chánh hụt do các tướng Dương văn Đức và Lâm văn Phát tổ chức làm cho tình hình còn rối ren thêm nữa.
Chính phủ Nguyễn Khánh từ chức vào ngày 26 tháng 10, 1964 được thay thế bằng một chính phủ dân sự. Nhưng tình hình không vì thế mà ổn định hơn. Trên đường bị đưa đi lưu vong dưới danh nghĩa Đại sứ lưu động, trong tiết lộ vào dịp cuối đời trong một cuộc phỏng vấn Tướng Nguyễn Khánh cho biết rằng người Mỹ đã tiễn Ông ra đi trong nhật lệnh: quân đội Hoa Kỳ phải ứng trực với lệnh sẽ nổ súng vào bất cứ đơn vị nào trung thành với Tướng Khánh mà đứng lên chống lại sự ra đi của Ông.
Bên kia vĩ tuyến 17, bản chất của Hồ Chí Minh với các nạn nhân là người Việt: Karl Marx từng phát biểu: “Chỉ có loài thú mới xoay lưng trước những đau đớn của đồng loại để chăm sóc cho bộ lông của riêng mình.” Khi nói với Chu Ân Lai về cuộc chiến vừa phát động tại miền Nam họ Hồ đã khẳng định: “Ðừng nói phải đánh 5 năm, 10 năm. Dù có 20 năm, 30 năm, thậm chí 50 năm cũng phải đánh.” Ba tháng sau đó, Hồ Chí Minh đã chỉ thị về phương cách tiến hành cuộc chiến tại miền Nam: “Ta vừa tiêu diệt, vừa tuyên truyền.” Và, đêm 26 tháng Giêng 1968, Hồ Chí Minh ngồi tại Bắc Kinh cùng bí thư Vũ Kỳ, khi nhận báo cáo từ Võ Nguyên Giáp cho biết đã đánh khắp miền Nam thì ánh mắt rực sáng niềm vui. (Bài viết của Vũ Kỳ được đọc ngày 11 tháng Tư 2001 tại trường Cán Bộ Giáo Dục Quản Lý Hà Nội.) Không kể những nạn nhân bị tàn sát tại Huế và khắp miền Nam, chỉ riêng số tử vong của miền Bắc theo Võ Nguyên Giáp là hơn 300 ngàn cán binh. Nhưng, trận đánh 1968 ngập ngụa máu xương và hủy hoại không biết bao nhiêu tổ ấm gia đình đã trở thành nguồn cảm hứng cho Hồ Chí Minh cầm bút làm thơ:
Ðã lâu chưa làm bài thơ nào
Ðến nay thử làm xem ra sao
Lục mãi giấy tờ vẫn chưa thấy
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao.
Quả là sự cự kỳ gian ác của một lãnh tụ cộng sản với dân tộc mình thể hiện qua dòng sám hối Chế Lan Viên lúc sắp từ giã cuộc đời:
Mậu Thân, hai ngàn người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có ba mươi
Ai trách nhiệm về cái chết hai ngàn người đó?
Tôi?
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận trở về
sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
...
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm
Mà tôi xấu hổ.
...
Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu! Một nửa!
...
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi: Người có lỗi!
***