Thông thường cái được nói ra của con người là những gì con người khao khát mà khó thực hiện được, những gì ông Lodge trấn an Washington rằng “các tướng lãnh không có tham vọng gì cho cá nhân.” Đó chính là cái bi kịch của miền Nam Việt Nam suốt từ thời đó cho đến khi sụp đổ vào năm 1975.
Tình hình bất ổn sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ dẫn tới Nguyễn Khánh đảo chánh, như bao cuộc nổi dậy khác, đó là nội bộ các tướng lãnh tranh dành quyền lực với nhau đầy những tham vọng chính trị. Ngay từ ngày 4 tháng 11, chỉ ba ngày sau đảo chánh, một phúc trình của CIA dẫn từ một nguồn thân cận với tướng Trần Văn Minh cho biết “Các tướng lãnh đang cãi lộn với nhau và nếu không giải quyết trong vòng vài ngày nữa thì một số đơn vị có thể làm một cuộc đảo chánh mới”. Một vấn đề gây tranh cãi nhất giữa các tướng lãnh là việc giết hai anh em ông Diệm. Một báo cáo của Lu Conein, nhân viên CIA có những quan hệ mật thiết nhất với giới tướng lãnh Việt Nam, nói rằng việc giết ông Diệm đã làm vỡ sự đoàn kết giữa các tướng lãnh trong nhóm đảo chánh bởi vì hầu hết những người tham gia này không muốn cái chết của ông Diệm; và một số tướng lãnh tham gia vào sau này, đặc biệt là tướng Nguyễn Khánh chỉ đồng ý với điều kiện rằng ông Diệm phải được đi lưu vong. Một vấn đề nữa cũng tạo ra sự chia rẽ là việc thăng cấp nhanh chóng cho một số những sĩ quan sau cuộc đảo chánh.
Tình trạng mâu thuẫn bên trong đã dẫn đến sự tê liệt trong các hoạch định chiến tranh như hành quân và tảo thanh chống lại các cuộc tấn công của Việt Cộng. Vào tháng 12, 1963 trong một điện tín gởi về cho Ngoại trưởng Dean Rusk, Đại sứ Lodge viết: “Tôi cảm thấy thật khó hiểu về một tình trạng thiếu ý chí trong tiến trình tiến hành cuộc chiến. Các thành viên trong Hội Đồng Quân nhân đều đưa ra cho tôi những câu trả lời thật sáng sủa và tươi đẹp, và nói lên tất cả những gì cần phải nói. Thế nhưng hầu như không có gì xảy ra cả.”
Trong khi đó, được tăng cường về nhân lực và vũ khí từ miền Bắc sau hội nghị trung ương 9, Việt Cộng đã tổ chức một loạt những cuộc tấn công vào các cơ sở kiểm soát dân chúng mà ông Diệm và ông Nhu lập ra, đặc biệt là hệ thống các Ấp Chiến Lược và họ đã tái lập được sự hiện diện tại một số vùng mà trước đó họ đã bị đẩy ra khỏi. Một báo cáo về tình hình vào tháng 3, 1965 của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị quân đội Mỹ bắt được đã khoe khoang về những tiến bộ đạt như sau: “Tám mươi phần trăm các ấp chiến lược mà đế quốc Mỹ vẫn coi là ‘xương sống của chiến tranh đặc biệt’ đã bị tiêu hủy và hầu hết dân chúng và đất đai vùng quê nay đã được giải phóng.”
Mỹ Viện Trợ thời Nguyễn khánh, vào năm 1964, chủ trương chung của chính giới Hoa Kỳ - bao gồm cả tân tổng thống Lyndon Johnson - là cần phải ngăn chặn làn sóng đỏ tại Việt Nam. Tinh thần chiến tranh lạnh lúc đó đã ăn sâu vào giới cầm quyền Mỹ.
Cả Dân Chủ lẫn Cộng Hòa đặt nặng vào sự cứng rắn và coi mọi chuyện nhượng bộ như là một dấu hiệu của yếu kém, hèn nhát. Hoa Kỳ phải tiếp tục cho các đối thủ Cộng Sản thấy sức mạnh của ý chí mình trong việc bảo vệ Thế Giới Tự Do, nên một thái độ kiên quyết tại Việt Nam sẽ làm nhụt đi những khuynh hướng bên trong Liên Sô muốn làm những cuộc phiêu lưu về chính trị và quân sự trên phạm vi toàn cầu. Nhất là kiềm chế khuynh hướng bành trướng của Trung Quốc vốn được coi là hung hăng và thiếu thận trọng hơn là Liên Sô.
Để chứng tỏ quyết tâm củng cố lực lượng Việt Nam, Johnson chọn tướng William Westmoreland, một sỹ quan Dù đã từng tham dự chiến tranh Triều Tiên để thay thế tướng Harkins bị coi như là không có đủ hữu hiệu. Trong vòng chín tháng sau đó Mỹ tăng cường lực lượng quân sự tại Việt Nam từ 16.300 lên 23.400 và tăng viện trở kinh tế cho Việt Nam thêm 50 triệu đô la. Nhưng tướng Nguyễn Khánh đã thất bại trong việc dùng viện trợ. Có một sự rối loạn hoạt động của các tướng lĩnh khi chưa được chuẩn bị kịp nhưng nhờ thời cơ đảm trách vai trò lãnh đạo quốc gia.
Mất vận động, mất động tác - akinesia: gặp trong trạng thái bất động ở loạn thần kinh hysteria tâm thần phân liệt. Các quan chức chính quyền sau một thời gian lâu dài tại vị dưới những nhà lãnh đạo toàn trị sẽ quen trên những con đường mòn, nếu không nói lâu ngày sẽ tàn lụi giống như người bị bán thân bất toại phải nằm liệt đại tiểu tiện ngay tại chỗ nằm, vẫn ăn uống bình thường luôn có mùi khó chịu trong một thời gian dài, nhưng chính nạn nhân vẫn không hay biết và xem như mọi sự vẫn bình thường. Các viên chức trước khi về hưu thường mất vận động trong lãnh vực trí năng qua sự cống hiến của cá nhân. Và chuyện ‘càng cao niên càng nhiều kinh nghiệm, hay càng già càng dẻo càng dai’, tất cả chỉ là thứ tri thức thường nghiệm.
Chính phủ Nguyễn Khánh đã không đạt được những tiến bộ mà chính quyền Johnson kỳ vọng. Với sự ủng hộ của Mỹ, chính quyền Nguyễn Khánh đưa ra một kế hoạch đầy tham vọng mang chính quyền xuống đến tận cấp xã. Nhưng giữa chính sách lập ra và việc thực hiện là một khoảng cách lớn. Sự suy yếu của chính quyền quốc gia kể từ sau sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm đã dẫn tới việc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam kiểm soát được nhiều vùng quê rộng lớn. Trong khi đó tại những vùng còn do chính phủ quốc gia kiểm soát thì lại bị trở ngại bởi việc không những thiếu những công chức có khả năng mà còn vì sự kiện là những nơi có người giỏi thì bị ràng buộc bởi một tình trạng mà theo một báo cáo của một quan chức Mỹ về Washington là “những khái niệm lỗi thời, những chỉ thị và thể thức làm việc quan liêu cộng thêm với việc không có đủ tài nguyên tại chỗ”. Về quân sự, mặc dầu gia tăng động viên, nhưng tỷ lệ đào ngũ cao có nghĩa là quân đội Việt Nam vẫn không làm sao tăng cường lên đủ quân số dự kiến. Mặc dầu quân đội có đạt được một số chiến thắng đáng kể vào năm 1964, nhưng vẫn không làm sao lấy lại được thế chủ động.
Thượng bất chính, hạ tất loạn – cái không chính danh ở đây là ngay những người lãnh đạo không có một quốc sách rõ ràng khi cầm quyền, tất cả mang tính đối ứng nhất thời, nên đã đưa miền Nam vào tình trạng thật bất ổn trong vấn đề hết sức tế nhị của dân tộc này và sẽ còn tồn tại luôn mãi. Vấn đề tôn giáo. Vì cả hai tôn giáo đáng kính trọng này du nhập vào đây từ cái tâm bao dung của người dân Việt, nhưng không phải là cái bao dung thể về tinh thần khả dĩ đáp ứng một cách toàn diện những nhu cầu của người Việt Nam, nhất là khuynh hướng bên này xuất thế, bên kia lại nhập thế. Một khi đi vào cái Vô, khoảnh khắc nhìn lại không có cái Hữu, vì tất cả đều là những hữu thể tại thế, nên mới đòi bình đẳng này nọ. Còn bên nhập khoảnh khắc nhìn lại thấy Cái Có mọi thứ, nhưng “Người giàu có vào nước Trời khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim”. Cả hai vẫn còn những khác biệt với triết lý sống của người Việt: Biết đủ là đủ, biết nhàn thời nhàn. Một triết lý tự biết mình: chính mình với mình.
Cả hai phe Công giáo và Phật giáo tiếp tục động viên các tín đồ của mình và biểu tình chống lại một chính phủ mà cả hai phe đều không tin tưởng. Bên trong chính chính phủ Nguyễn Khánh cũng nổ ra những bất đồng lớn và một cuộc đảo chánh đã xảy ra vào tháng bảy nhưng thất bại. Trong khi đó, Hà Nội phản ứng một cách thách thức đối với những cảnh cáo của Mỹ. Những tài liệu của Cộng Sản cho thấy Lê Duẩn và đồng bọn không nghĩ rằng Johnson dám thực hiện những cảnh cáo đối với mình. Và họ hy vọng rằng tăng cường các hoạt động xâm lược tại miền Nam có thể dẫn đến một sự sụp đổ mau chóng của chính quyền miền Nam, buộc Mỹ phải bỏ rơi đồng minh của mình. Nhưng tất cả những nhà lãnh đạo Việt Nam vào thời bấy giờ quả là những người mù sờ voi vào giai đoạn này khi những phát minh về di truyền cũng như con người đã ra ngoài vũ trụ. Sự cố gắng của họ không ngoài việc cố bò lên khỏi mặt giếng, nhưng nếu có bò ngo ngoe lên được thì đạp những người khác xuống với những chiếc mũ to tướng để tha nhân ở đây là đồng bào ruột thịt của mình phải chết với những cái mũ oan khiên đều được trịnh trọng rước từ nước ngoài về quê hương: người dân bị quy chụp cái mũ chạy theo đế quốc Mỹ hoặc cái mũ theo Cộng sản. Tất cả đều xa lạ với truyền thống dân tộc này: Không theo ai cả. Người Việt có tục Bánh Chưng Bánh Giầy nói lên triết lý sống của dân tộc này, kính Trời yêu Người, trọng khoa học và sống nhân bản.
***