TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương 27
Những mâu thuẩn nội tại từ
1954 của chính quyền Hà Nội


Giới lãnh đạo Việt Minh bắt đầu xuất hiện tại Hà Nội chỉ vài ngày sau khi quân đội Pháp rút ra khỏi thành phố này. Nhưng sự trở về này được thực hiện một cách âm thầm hầu như là lén lút vậy. Đúng như tôn chỉ của những người Cộng sản bao giờ cũng là cướp chính quyền, hà tất chính quyền ấy không do dân bầu.
Ngày 12 tháng 10, 1954 Võ Nguyên Giáp xuất hiện, đi thanh tra doanh trại quân đội Pháp để lại và đến thăm nhà máy điện Yên Phụ. Vài ngày sau, báo chí Việt Minh, loan báo, một phiên họp chính phủ được tổ chức tại Bắc Bộ Phủ do chính Hồ Chí Minh chủ tọa.
Ngày 17 tháng 10, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Việt Minh sau gần mười năm hiện hữu mới chính thức được coi như là có mặt trên trường quốc tế khi tổ chức đón chuyến viếng thăm của thủ tướng Ấn Ðộ Jawaharlal Nehru, dừng lại đây trên đường sang Bắc Kinh.
Nội tình Hà Nội những năm1963 – 1964, hơn ai hết Hồ Chí Minh biết thuộc cấp của mình đã hủ hoá những ai và Lê Duẩn có bao nhiêu vợ cũng như Lê Đức Thọ cưỡng bức phụ nữ Nam bộ như thế nào trong tính hoang dâm vô độ. Tất nhiên những con người quỷ quyệt khi ngồi chung với nhau bên chín lạng kẻ mười cân, chúng đều biết rõ nhau nhưng vốn loài tầm gởi từ ngoại bang, nên luôn dựa trên mâu thuẩn mà tương sinh. Chính Lê Duẩn luôn nghĩ rằng “Ta giỏi hơn bác Hồ”, cũng là chuyện bình thường hay tại miền Nam với các tướng Minh, Kim, Đôn, Đính… cũng đều nghĩ ta giỏi hơn Ông Diệm, Ông Nhu, nếu không giỏi hơn thì giết cho xong, diệt cho gọn và họ đã giết... ‘sát tướng thành tướng, sát Phật thành Phật’. Điển hình của tình trạng thất thế của Hồ chí Minh trong giai đoạn này khi tại hội nghị trung ương lần thứ chín của đảng Lao Động vào cuối năm 1963, hội nghị quyết định tăng cường xâm nhập ào ạt vào miền Nam, Lê Đức Thọ đã ngăn chặn không cho Hồ chí Minh lên tiếng như thế nào, chuyện không cho Hồ phát biểu đã truyền ra đến mọi cán bộ đảng viên miền Bắc và trở thành một dư luận cảm thông và thương kính ‘lãnh tụ vĩ đại’ này.
Tướng Nguyễn Chí Thanh cũng được nêu lên như người có bản lĩnh tài ba để thay Ông Hồ. Lại một phong trào tuyên truyền cho lãnh tụ vĩ đại qua cái phản tuyên truyền ‘Hồ Chí Minh muôn vàn kính mến của chúng ta bận đồ lụa gụ, chủ trì hội nghị, mà quay mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên phải hứng lấy những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, thì Lê đức Thọ lễ phép chặn lại: “Bác hãy để cho anh em người ta nói đã mà!” Người ta đếm lão Hồ đưa tay đến mấy lần, lần nào Lê Đức Thọ cũng can ngăn. Cuối cùng ông Hồ cũng được phát biểu cho hội nghị nghe mấy câu cadao bằng tiếng khóc:
-Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét bồ hòn cũng méo". Quả là nước mắt của những con cá sấu mẹ và bầy đoàn cá sấu con… Chỉ một đoạn văn được trích dẫn sau đây đủ nói lên tư cách, bản chất của các nhà lãnh đạo cộng sản miền Bắc mà đứng đầu là Hồ Chí Minh: 
‘Chí sĩ Phan Bội Châu bị mật thám Pháp đón bắt ngày 15 tháng Sáu 1925 giữa cuộc du hành bí mật tại Thượng Hải. Năm 1928, Nam Ðồng Thư Xã tại Hà Nội phát hành một tài liệu nêu rõ Lý Thụy và Lâm Ðức Thụ đã báo cho mật thám Pháp về chuyến đi bí mật của cụ Phan để lãnh một khoản tiền rất lớn. Thuở đó Lý Thụy chỉ được biết đến như một nhân viên của tổ chức Viễn Ðông Vụ thuộc Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản hoạt động tại Quảng Châu, vì mãi 15 năm sau Lý Thụy mới đổi tên thành Hồ Chí Minh để xuất hiện trước công chúng. Riêng việc Hồ Chí Minh lúc mang tên Nguyễn Ái Quốc cung cấp tài liệu cho mật thám Pháp khiến hàng trăm người yêu nước bị bắt ở cả trong nước lẫn tại Thái Lan, Trung Hoa thì chính Hà Huy Tập với tư cách tổng bí thư Cộng Ðảng Ðông Dương thuở đó đã ghi rõ chi tiết và còn ước định cả con số nạn nhân trong bản báo cáo gửi Ðệ Tam Quốc Tế ngày 20 tháng Tư 1935.), là những mũi dao găm đâm lén trong bóng tối hạ sát các phần tử kiên quyết’.
Dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn, chính quyền miền Bắc quay sang một chiều hướng mới sáp lại gần hơn với Trung Cộng và đi theo ý thức hệ của Mao chứ không còn đứng giữa hai bên nữa. Với quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh trở nên chặt chẽ hơn, chính quyền Hà Nội đã lên tiếng chỉ trích gay gắt Moscow vì đã ký hiệp định chấm dứt thử nghiệm vũ khí hạch nhân với Mỹ và chính sách “sống chung hòa bình” của Khrushchev mà Hà Nội gọi là “đầu hàng đế quốc tư bản”.
Từ những lời nói kích bác chống đối nhau trở thành những từ hoa mỹ đầy hữu nghị, quả là những thuật ngữ phát sinh do ảo giác, nghề làm chính trị có lẽ phải nói nhiều, và nói nhiều dù hay đến mấy mà ‘không kịp uốn lưỡi bảy lần…’ nên không thể không vấp, khi có dịp sống chung với các chính khách chúng ta sẽ gặp không ít vị nói nhiều hầu như nói suốt ngày nhất là mỗi khi mở trúng “đài”. Các lý luận mà họ đưa ra đều quanh vấn đề yêu nước, thương đồng loại nhưng tất cả mang tính hoang tưởng là khi nói như vậy họ hy vọng sẽ biến đổi được con người. Thậm chí khi bị phe bên kia nhốt vào tù họ càng nói nhiều, đến cả việc tập họp tù để tổ chức huấn luyện tuyên truyền, cho dù bị nhốt riêng cùm kẹp.
Trong chính trị chúng ta sẽ gặp một số người tư duy lải nhải, họ nói thì thầm gì trong miệng không ai biết, có thể họ chửi bới chế độ hiện hữu, nhưng hầu như sẽ không phát hiện điều gì vì cũng không ai biết họ đang nói những gì, cũng có thể họ đang giả điên để qua ải trước kẻ thống trị bạo tàn.
Còn người dân, các nạn nhân chiến tranh người nào cũng ít nhiều mắc chứng lo âu và sợ bị theo dõi, bị báo cáo, mật vụ sẽ ám sát. Trải qua nhiều năm chịu đựng trong chiến tranh, hy vọng sớm thoát ra khỏi cảnh hoang tàn đổ nát, nhiều người thân có con em chết trên chiến trường hay không có một thông tin nào từ ngày ra đi, khiến họ trở nên thất vọng về con người nhiều khi đến tuyệt vọng, trầm trọng đến chỗ lúc nào cũng mang theo mình nỗi ám ảnh bị hại và hoang tưởng ai cũng có thể giết người.
Không có nạn nhân chiến tranh nào mà không mắc chứng sợ hãi, lo âu, bối rối. Không có một đất nước nào dưới sự cai  trị của các tập đoàn quân phiệt mà không có sự răn đe, hù doạ… hết khám xét cá nhân đến khám xét nhà cửa ruộng vườn, thậm chí đào cả các giếng nước, ao hồ vì có chuyện thật chôn giấu vũ khí ngụy trang những nơi đó kể cả ngụy tạo để chụp mũ trả thù.v.v… Quả là một thứ nhà nước khủng bố trong thời chiến, nhất là tại miền Bắc từ tù trong đến tù ngoài xã hội mà các cán bộ Việt cộng được đào tạo trong sự phát huy hết cái ác trong mỗi con người. Con người đến chỗ văn minh càng đưa nhau đến gần cái thiện còn chủ nghĩa vô sản Mác Lê với đặc thù của nó phát huy hết sự ác trong mỗi cá nhân như thước đo cho sự tiến bộ để vào đoàn, đảng CS.
Những con người bị hại, bị mang ra bắn đều có sự nhân danh cho một chính nghĩa nào đó, mà nếu không có những thứ triết học đã được nặn ra, có thể con người sẽ ít giết người hơn, vì con người sẽ cảm thấy sợ hãi khi không có cái bảo kê để nhân danh nó mà giết đồng loại hầu khỏi phải áy náy lương tâm. Triết học trong trường hợp này nó là sự đi đường đến cái Ác, con người đã ngụy tín trong sự nhân danh để làm điều phi nghĩa, bất nhân.

***