Chương 26
Từ vong thân chính trị đến kinh tế.
Từ khi mang chủ nghĩa Mác Lê Nin về Việt Nam với chiêu bài giải phóng các dân tộc, trên bình diện tư tưởng ý thức hệ ở miền Bắc tất cả những nền triết lý được du nhập trước đó đều bị đánh đổ, đấu tố bởi những đảng viên Cộng sản, tưởng chừng như họ đã hiểu thấu đáo các qui luật phủ định của phủ định, nhưng thật ra ngay cả chữ triết học là gì, đã có mấy người biết nếu không nói, người bình dân thích đọc thành chữ ‘trít’ lý, nó vui và nghe thâm thúy. Riêng tại miền Nam thông thoáng hơn mọi thứ vẫn tồn tại và phát triển trừ chủ nghĩa Cộng sản.
Trên bình diện quốc tế sau thế chiến thứ hai, cả Mỹ lẫn Liên Sô đều tìm cách gây ảnh hưởng bằng cách chứng minh ưu thế của hệ thống chính trị mình. Trong bối cảnh này, cả Bắc lẫn Nam Việt Nam đều trở thành có một tầm quan trọng hơn nữa như là một nơi thử nghiệm cho ý thức hệ của cả Mỹ lẫn Liên Sô trong việc xây dựng một đất nước có kinh tế phát triển và hiện đại của chính các nước lớn, nhất là các loại vũ khí cũ cần có nơi tiêu thụ cũng như có chiến trường để thử nghiệm những phương tiện chiến tranh đời mới.
Trong sáu năm trời, từ 1955 đến 1961, chính quyền Eisenhower đã đổ vào cho chính quyền của ông Diệm một ngân khoản lên đến một tỷ đô la viện trợ cả kinh tế lẫn quân sự. Và đến những năm cuối của thập niên 1950, đã có đến 1500 người Mỹ làm việc tại Việt Nam và phái bộ Mỹ tại Sài Gòn là phái bộ ngoại giao lớn nhất của Mỹ trên thế giới.
Người dân chân chất ở các tỉnh miền Trung Việt Nam cũng đã quen con mắt với những chiếc xe jeep của các phái bộ Liên Hợp Quốc trong việc kiểm soát đình chiến sau Hiệp Định Genève, thỉnh thoảng trong ngày chạy qua các đường phố nhỏ. Nay đến Người Mỹ phần lớn trong giai đoạn này là các cố vấn dân sự, họ kín đáo hơn cho dù con số đã tăng gấp bội. Các khu nhà của phái bộ kiểm soát đình chiến trước đây cũng được các phái bộ dân sự Hoa Kỳ thuê lại, nên với người dân chân chất trong ánh mắt của họ không có gì thay đổi.
Viện trợ kinh tế của Mỹ phần lớn là viện trợ ngân sách qua chương trình gọi là “viện trợ thương mại hóa” -commercial import program. Trong buổi điều trần trước Thượng Viện Hoa Kỳ về viện trợ cho Việt Nam vào năm 1959, một viên chức viện trợ Mỹ đã giải thích mục tiêu của chương trình này là giúp Việt Nam bù đắp thiếu hụt trong ngân sách cũng như trong cán cân ngoại thương bằng cách bỏ đô la vào tài trợ cho ngân sách Việt Nam nhưng đồng thời tránh tạo ra một tình trạng lạm phát phi mã nếu đổ khối ngoại tệ này trực tiếp vào nền kinh tế đang yếu đuối vì chiến tranh.
Trên tất cả mọi yếu tố khác, viện trợ Mỹ đã đóng một vai trò then chốt giúp cho miền Nam tồn tại trong những năm đầu xây dựng sau hiệp định Genève. Và đến cuối thập niên 1950 thì so sánh với miền Bắc, miền Nam phồn thịnh hơn nhiều. Tại Sài Gòn, một quan sát viên nước ngoài viết, các cửa hàng và các chợ búa tràn ngập hàng tiêu dùng, đường phố đầy những loại xe scooter mới cũng như các xe hơi đắt tiền. Một nền kinh tế biến dạng kiểu chiến tranh với những nhu yếu phẩm tuôn ra ngoài từ những kho hàng viện trợ của người Mỹ: miền Nam bắt đầu rơi vào chủ nghĩa tiêu thụ thời chiến tranh.
Tại nông thôn miền Nam, người dân trong giai đoạn này hầu như không còn chuyện ăn độn nữa, vốn lương thực chính là khoai lang, khoai mì… rau độn có khi phải dùng cả đọt dứa -một thứ cây dùng làm hàng rào và có thể chịu đựng trong nắng hạn. Những đọt rau lang luộc chấm nước mắm, ôi thật tuyệt vời với người nông dân nhưng phải hết sức dè sẻn vì một khi ngon miệng thời vụ mùa sẽ không kết quả.
Tại những khu phố của những người có lợi tức cao, người ta bắt đầu xây những căn nhà kiểu mới, và thượng nghị sỹ Gale McGee của bang Wyoming thì đề nghị với Thương Viện Hoa Kỳ rằng Mỹ nên dùng miền Nam Việt Nam như là một điển hình cho thấy “thành quả tốt đẹp của những cố gắng của chúng ta giúp đỡ những dân tộc khác để họ có thể tự vực lên được”. Nói đúng ra người Mỹ chỉ giúp những ai đi trong quỹ đạo của họ cho dù đó là Cộng sản, thậm chí kẻ đối nghịch với họ trước đó. Và các dân tộc sẽ học được điều từ thực tiễn lịch sử này: Nước Mỹ không có bạn hay thù.
Nhưng viện trợ Mỹ cũng để lại một số hậu quả tai hại của nó. Mặc dầu viện trợ Mỹ giúp miền Nam Việt Nam tránh được một sự sụp đổ về kinh tế trong những năm độc lập đầu tiên cũng như là cung cấp cho dân chúng Sài Gòn và các thành thị một mức sống tương đối đầy đủ. Nhưng chương trình viện trợ thương mại hóa tự nó cũng có một số nhược điểm lớn. Nó tạo ra bao lãng phí khi các nhà nhập cảng đặt hàng quá nhiều, không tiêu thụ hết. Ngoài ra nó còn phát sinh những cơ hội to lớn cho tham nhũng và làm giàu một cách bất chính. Nhưng có lẽ nhược điểm lớn nhất của chương trình này là nó giữ cho dân thành thị miền Nam có một mức sống cao giả tạo trong khi không đóng góp bao nhiêu trong việc phát triển kinh tế cũng như không cải thiện được bao nhiêu đời sống tại nông thôn, nơi mà 90% dân miền Nam sinh sống.
Một Dân biểu trong số nhiều Nghị sĩ cũng vậy, họ được Ông Ngô Đình Nhu gọi và cho một môn bài được phép xuất cảng lông vịt chẳng hạn, thế là bỗng chốc trở thành triệu phú, trên một đất nước độc quyền đảng trị sẽ không biết có bao nhiêu cái cho, trong đó có sự hàm nghĩa kinh tài cho đảng và chính nó cũng là những hạt mầm làm huỷ hoại quốc gia trong lãnh vực kinh tế, cũng như đối với nhân cách cá nhân khi các vị này trong tuổi già thuật lại về một thời đã qua: Vào lúc đó những năm 1960 chưa có vũ sexy như cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ hai mươi mốt, nhưng đến chỗ năm mươi phần trăm, giới hạn cuối cùng thì Cụ nào dù đạo mạo đến mấy trong ánh đèn màu hồng chập choạng hầu như đều cuối khom người để nhìn cho rõ.
Cho đến cuối năm 1957, có đến khoảng hai phần ba số hàng nhập cảng qua chương trình viện trợ thương mại hóa là hàng tiêu thụ và hầu hết viện trợ Mỹ bị phung phí qua những mặt hàng xa xỉ chứ không đi vào kỹ nghệ hoặc nông nghiệp. Thành ra viện trợ Mỹ, tuy rằng giúp đỡ miền Nam tồn tại được về kinh tế nhưng đã không giúp được bao nhiêu trong việc tạo cơ sở cho một nền kinh tế độc lập thật sự.
Năm 1957, ông Diệm đưa ra kế hoạch năm năm phát triển kinh tế đầu tiên, trong đó dự trù đầu tư vào nền kinh tế tổng cộng 500 triệu đô la trong đó 285,7 triệu đô la là do viện trợ, bao gồm viện trợ Mỹ và Pháp cộng với bồi thường chiến tranh của Nhật. Trong số này chỉ có 50 triệu đô la là dành cho việc kỹ nghệ hóa, 88 triệu đô la dành cho nông nghiệp và trên 232 triệu đô la cho xây dựng hạ tầng cơ sở như điện lực, đường sá, hỏa xa... Kỹ nghệ hóa như vậy bị coi là thứ yếu và không được chính phủ coi trọng. Mặc dầu vậy, một số ngành công nghiệp cũng đã được xây dựng và phát triển tỷ như kỹ nghệ dệt mà đến năm 1960 đã cắt giảm được số vải nhập cảng đến 50%. Các đầu tư khác vào công nghiệp bao gồm nhà máy xi măng tại Hà Tiên, hai nhà máy giấy tại Biên Hòa, nhà máy làm chai thủy tinh tại Khánh Hội v.v... Thật vậy, chỉ với một vài nhà máy đã làm cho miền Nam khởi sắc của một nền kinh tế trên đường phát triển.
Nhưng quan trọng nhất trong các dự án của kế hoạch ngũ niên này là dự án khu công nghiệp hóa chất và khai thác than An Hòa Nông Sơn, trong đó ngoài việc khai thác than còn dự tính xây dựng một nhà máy phân bón sản xuất phân urea và ammonium sulphate và một nhà máy sản xuất khí đá. Tuy nhiên dự án này chưa được thực hiện xong thì tình hình an ninh suy thoái đã phải hủy bỏ.
Người ta thường nói ‘Văn hoá là những gì còn lại sau khi quên tất cả’, nhưng chiến tranh là những gì sau khi quên tất cả sẽ có những cái còn lại.
Với người dân thành thị, nói đúng hơn chỉ tại Sài Gòn, kinh đô của miền Nam, có cuộc sống xa hoa của phồn vinh nhờ viện trợ Mỹ. Song đời sống ở nông thôn người dân bị ảnh hưởng bởi quốc sách ấp chiến lược, vườn tược nhà cửa vốn là nguồn kinh tế tự cung tự cấp từ mỗi gia đình nay phải di dời vào những khu gọi là có an ninh, những lũy tre xanh rào quanh vườn vốn là nguồn nguyên liệu vô tận, từ cây măng để chế biến thực phẩm tươi và khô hằng ngày đến thân cây dùng làm nhà cửa… đun lửa nấu cơm, nay phải bị đốn sạch để dựng nên những hàng rào che chắn quanh làng. Tất nhiên trong giai đoạn này hầu như không có sự đền bù, nhiều viên chức địa phương cũng nhân cơ hội này làm điều tư lợi khiến tạo nên những sự bất mãn với chế độ Đệ Nhất Cộng Hoà tại miền Nam không ít.
Nađa chứng kiến lũy tre làng đã ăn sâu vào tiềm thức người nông dân Việt Nam, qua câu nói dân gian ‘tre già măng mọc’, nay họ bị đánh mất tất cả, mọi thứ oán hờn bất mãn cho dù trước quyền lợi bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lăng của Cộng sản, nhưng trong tâm thức của người dân vẫn là sự không hài lòng cho đến khi tất cả sự giận giữ đổ lên chế độ khi có ai đó châm ngòi vì con người vốn thích thù hận và trả thù. Hãy ném cho quần chúng một miếng mồi nếu muốn ổn định bên trong hoặc ‘hãy tạo chiến tranh bên ngoài để đoàn kết bên trong’...vẫn là những quy luật mang tính chiến thuật bình trị thiên hạ xưa nay.
Tất cả sự thất vọng của người dân miền Nam, nhất là sự đổ dầu thêm vào lửa của những thành phần thật kỳ lạ, đó là có những người càng ăn cơm quốc gia lại càng thờ ma Cộng sản. Ngày 26 tháng Tư 1960, một nhóm 18 nhân sỹ bao gồm nhiều vị cựu bộ trưởng các chính phủ trước cũng như chính phủ của ông Diệm họp nhau gởi một bức thơ ngỏ đến ông Diệm cảnh cáo ông là đã để mất sự ủng hộ của quần chúng:
“...Dân chúng không biết gì về một cuộc sống tốt hơn hoặc có tự do hơn dưới chế độ Cộng Hòa mà Ngài dựng lên. Một Hiến Pháp đã được soạn ra nhưng chỉ là hình thức; một Quốc Hội được bầu lên nhưng những bàn luận trong đó bao giờ cũng đi theo đúng con đường của chính phủ; những cuộc bầu cử phản dân chủ - tất cả những phương pháp và những “trò hề” sao chép từ những chế độ Cộng Sản độc tài... Các cuộc bắt bớ liên tiếp đã đầy chật các nhà tù... dư luận quần chúng và báo chí bị bịt miệng...”
Tất cả những diễn biến hoàn toàn bất lợi cho sự ổn định của miền Nam đã đưa đến sự thuận lợi cho Hà Nội trong mưu toan xâm lược miền Nam. Thế nhưng trong việc này Trung Cộng đã thất vọng, Hà Nội đã giữ thái độ trung lập trong cuộc tranh chấp Trung Ấn này và phải đến 1962 khi đại diện của Ấn trong Ủy Hội Quốc Tế đồng ý với Canada và đưa ra một phúc trình chỉ trích vai trò của Hà Nội trong việc tạo dựng lên cuộc nổi loạn ở miền Nam thì Hà Nội mới trở mặt và công khai ủng hộ Bắc Kinh, tố cáo Tân Dehli là toa rập với các nước phương Tây để tấn công Trung Quốc.
Từ chính trị đến chiến tranh, ở đây chính trị không còn theo ý nghĩa từ nguyên của Hy Lạp điều khiển các thị thành mà là điều chỉnh các quyền lợi, cũng không phải của một dân tộc nhưng tùy thuộc bè đảng, các tập đoàn chế tạo vũ khí này nọ.
***