TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương 24
Tôn giáo-vấn đề nhạy cảm
luôn bị kích động trong chiến tranh

Tại miền Trung Việt Nam, các tin tức báo chí cũng như những báo cáo quân sự thời đó cho thấy quân đội Việt Nam Cộng Hòa trong tháng 10, 1963 cũng đạt được nhiều chiến thắng, các lực lượng quân đội ở tỉnh Quảng Tín có pháo binh yểm trợ đã đánh hầu như tan rã các tiểu đoàn chủ lực của Việt Cộng. Nhưng những biến động ở Huế sau vụ treo cờ nhân ngày Phật đản, biến cố này tiếp theo các sự việc khác trong một tiến trình có kế hoạch của người Mỹ để lật đổ Ông Diệm mà vốn cảm xúc về tôn giáo là vấn đền rất nhạy cảm với con người.
Cảm xúc là một quá trình hoạt động tâm thần biểu hiện thái độ con người đối với các kích thích bên ngoài, cũng như bên trong cơ thể, là thái độ của con người đối với sự diễn biến của thực tế, của môi trường sống.
Cảm xúc gắn liền với các hoạt động tâm thần khác như tri giác, tư duy... nó bắt nguồn từ các kích thích trên các giác quan và biểu hiện các đặc điểm nhân cách cùng môi trường xã hội.
Cơ sở giải phẩu của cảm xúc phần lớn ở vùng dưới vỏ não, chủ yếu là vùng gian não cho cảm xúc thấp và một phần ở vỏ não với cảm xúc cao.
Cơ chế sinh lý cảm xúc là cơ chế thần kinh. Còn các biến đổi thể dịch trong quá trình cảm xúc chỉ là những khâu trung gian. Mỗi cảm xúc đều có biến đổi trong cơ thể: mạch máu co thắt lại hay giãn nở ra, đường huyết tăng hay giảm, tim đập nhanh hay chậm.
Có nhiều cách phân loại cảm xúc: cảm xúc cao và cảm xúc thấp, cảm xúc âm tính và dương tính. Cảm xúc chia theo cường độ: khí sắc, ham thích, xung cảm.
Nói đến cảm xúc cần đề cập đến khái niệm về ngưỡng hưng phấn. Khi ngưỡng hưng phấn cao thì kích thích có cường độ mạnh mới gây được phản ứng cảm xúc nhẹ hoặc có khi không gây được phản ứng cảm xúc nào. Ngược lại khi ngưỡng hưng phấn thấp thì kích thích có cường độ nhẹ hoặc thông thường lại có thể gây những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.
Hypothymia là khí sắc buồn rầu, ủ rũ và là thành phần chủ yếu trong hội chứng trầm cảm, nạn nhân giảm cảm xúc, ít biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, ít hoạt động và trong sinh hoạt nhiều khi có sự bình thản đến đáng sợ. Các nạn nhân loại nầy có thể coi thường cảnh chết chóc trong chiến tranh, tới đâu hay tới đó, thờ ơ với tất cả, thường là người có kiểu thần kinh cân bằng chậm. Ai bảo sao làm vậy, không tiêu cực, cũng không sốt sắng. Họ quan niệm: nước chảy, bèo trôi, mặc cho số phận. Tất cả rồi sẽ qua đi, hết nắng đến mưa. Do đó lơ là với hoàn cảnh, ít kêu ca phàn nàn mà âm thầm chịu đựng hoặc ngược lại với sự hưng phấn khi phải dấn thân liều mạng khi phải làm những công việc rất khó khăn nhưng rất tích cực vì biết rằng cuộc đời sẽ có thêm dù chỉ là một chút ý nghĩa từ đó.
Đúng thật là có chuyện công an mật vụ dưới thời Tổng thống ngô Đình Diệm theo dõi bao vây các Chùa, mỗi sáng sớm hay giữa đêm khuya khắp các Chùa lớn tại miền Trung như Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Hội An, Thừa Thiên…những người phụ nữ thường đóng vai kẻ bán hàng rong hay đi chợ về và ném lương thực tiếp tế cho quý Thầy, những người nữ này phần lớn lại là các phu nhân của các viên chức thuộc chính quyền địa phương và từ thâm sâu đều có tâm Phật và và tôn kính Ngài. Nên có thể nói được rằng khi đụng đến vấn đề nhạy cảm thuộc tâm linh mà CIA Mỹ đã cố tình khai thác phá hoại khi Vị Tổng Thống đi theo lập trường dân tộc không cho Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam, và từ mỗi gia đình Việt Nam vốn theo truyền thống Phật giáo đã có sự bất bình ngấm ngầm với chính chế độ đang ra sức bảo vệ cái tự do trong đó có tự do tôn giáo mà chắc chắn rằng dưới sự cai trị của Cộng sản, theo Mác tôn giáo là ‘thuốc phiện của nhân dân’ nên cái tự do tôn giáo hiện có tại miền Nam sẽ bị đánh mất và tất cả vì sự sự kích động thù hằn cho các mục tiêu chính trị mà quên đi sự sống còn của chính tôn giáo mình và tất cả các tôn giáo chân chính khác.
Những tin đồn dồn dập trong dân chúng rỉ tai nhau khắp miền Trung Việt Nam, như nào Phật Bà Quan Âm hiện ra ở nơi này nơi nọ, những dòng suối những con nước chữa lành bao chứng bệnh cho con người, người dân vốn có truyền thống kính Phật khi nhận những thông tin đó liền tìm đến các Chùa gần nhất, thậm chí có lòng mong ước được đến tận nơi có phép lạ như lời truyền. Tất cả những thông tin đều nhằm củng cố lòng tin tôn giáo và tìm kiếm một sự đổi thay và đó là sự ra đi của nhà Ngô vốn trước con mắt mọi người dân miền Trung là Thiên Chúa Giáo đang trị vì. Trong chuyện này quả là người Mỹ có bật đèn xanh việc chuẩn bị thay thế Ông Diệm nếu Nhà Ngô không chịu đi theo quỹ đạo của người Mỹ, nhưng những gì xảy ra giữa người Việt với nhau quả là một thứ đố kỵ tiềm ẩn từ bên trong những người dân với nhiều định kiến mà những người lạm dụng thế gian chung quanh nhà Ngô đã mang lại không ít những quyền lợi ưu tiên cho người Thiên Chúa Giáo tại miền Trung. Lực lượng Thiên Chúa Giáo mới được xem là chống cộng còn những thành phần khác trừ đảng phái như Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt… ngoài ra đều là những công dân chống cộng loại hai. Thực tế cấp tỉnh, quận những vai trò quan trọng đều nằm trong tay những người có cùng tôn giáo với Ông Ngô Đình Cẩn… cho dù Ông Cẩn có đứng ra trực tiếp trùng tu các Chùa chiền ở Huế nhưng khó mà chứng minh được tấm lòng thành của họ Ngô với người dân trong vấn đề tôn giáo này. Cánh cửa tử của Nhà Ngô đã mở ra ngay tại lối vào sân nhà Ông Ngô Đình Cẩn.
Và bên kia đại dương, phần lớn là những nhà không tưởng trong cái lý tưởng mang lại tự do dân chủ cho các dân tộc, với cách thể hiện của lối chơi kiểu cao bồi vùng Texas nhiều hơn là cách của những vị Tổng Thống lập quốc Hoa Kỳ đã dựng nên, ít ra trên bình diện lý thuyết về nhân quyền và dân quyền cho các xã hội dân sự. Những khuyến cáo của phái đoàn Taylor-McNamara được Kennedy chấp nhận vào ngày 5 - 10 - 1963 và được Mỹ áp dụng coi như là căn bản của chính sách đối với chính phủ của ông Diệm. Trong những tuần sau đó, chính quyền Kennedy bắt đầu thực hiện chính sách làm “những áp lực chọn lựa” đối với chính phủ ông Diệm.
Thoạt đầu những áp lực này có vẻ mang lại một sự nhượng bộ nào đó từ phía hai ông Diệm - Nhu. Ông Nhu bắn tiếng với Lodge rằng ông sẽ rút lui hoàn toàn khỏi chính trường nếu Mỹ cũng đưa ra khỏi Việt Nam một số những điệp viên mà hiện đang tiếp xúc với “những kẻ phản bội tiềm tàng”. Ông Nhu nói “Ai cũng biết mấy tên này là ai”. Đồng thời ông Diệm cũng gởi cả bà Nhu lẫn Tổng giám mục Ngô Đình Thục đi ngoại quốc.
Nhưng khi đại sứ Lodge đến gặp ông Diệm tại dinh Gia Long mọi chuyện trở nên khó khăn hơn. Trong cuộc gặp gỡ ông Lodge cho ông Diệm biết về sự chống đối gia tăng đối với chính phủ Việt Nam tại Mỹ. Đại sứ Lodge nói thêm rằng “Theo quan điểm cá nhân của tôi, nếu không có một sự thay đổi nào về chính sách thì việc cắt viện trợ là một chuyện rất có khả năng xảy ra. Theo hồi ký của Lodge, đây là lần đầu tiên ông nói thẳng với ông Diệm rằng ông Nhu cần phải ra đi “Ông Nhu cần phải làm một chuyến đi dài, ít nhất tới tháng chạp mới nên trở về, sau khi Quốc Hội Mỹ bỏ phiếu thông qua xong Ngân sách chuẩn chi.”
Những đe dọa của đại sứ Lodge cùng với những chỉ trích ông Nhu từ phía báo chí và quan chức Mỹ đã khiến cho việc ông Nhu phải rời Việt Nam trở thành một vấn đề thể diện quốc gia đối với ông Diệm. Ông Nhu đã nói ông sẵn sàng bỏ chức vụ và nếu để từ từ có thể ông sẽ chấp nhận. Nhưng nay trước đòi hỏi công khai của Mỹ, ông Diệm quyết định nhất quyết giữ ông Nhu lại. Theo Scigliano, một quan chức Việt Nam thân cận với ông Diệm cho biết, ông Diệm từ chối không để cho ông Nhu đi là vì “dân Việt Nam sẽ cho rằng Mỹ đã bắt được ông phải làm chuyện đó. Ông không muốn bị người ta coi như là bù nhìn hay là tay sai của Mỹ”. Trong hồi ký ông Lodge viết, ông Diệm trả lời rằng “Vấn đề không phải là ông Nhu mà là Mỹ. Nếu dư luận dân chúng Mỹ đúng như ngài nói, thì đó là công việc của ngài, thưa ngài đại sứ phải giải tỏa dư luận dân chúng Mỹ”. Trong suốt cuộc nói chuyện, Lodge nhận xét rằng, ông Diệm đã tỏ ra rất né tránh khi bị đặt cụ thể trước những đòi hỏi thay đổi của Mỹ, tuy rằng cuối cùng ông cũng hứa hẹn với Lodge rằng ông sẽ xét đến một cách nghiêm chỉnh đến tất cả những gì mà Lodge đưa ra.
Trước phản ứng đó của ông Diệm, chính quyền Kennedy bắt đầu áp dụng một số biện pháp dùng áp lực. Kennedy ra lệnh cắt ngân khoản viện trợ cho Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam và trì hoãn việc vận chuyển gạo, sữa, thuốc là những món hàng được nhập cảng từ Mỹ theo chương trình Viện trợ thương mại hóa -Commodity Import Program - CIP, và cho triệu hồi John Richardson, người cầm đầu cơ quan CIA tại Sài Gòn, một người mà cả người Mỹ lẫn người Việt tại Sài Gòn đều biết là rất thân cận với ông Nhu. Kennedy cũng ra chỉ thị cho Lodge là tuy rằng “tránh không tích cực khuyến khích một cuộc đảo chánh” nhưng hãy “cấp bách bí mật tìm cách nhận dạng và tiếp xúc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đại sứ với những thành phần có thể trở thành lãnh đạo thay thế chính quyền Ngô Đình Diệm.”
Theo báo cáo Taylor-McNamara đã công khai bác bỏ việc khuyến khích một cuộc đảo chánh và những biện pháp áp lực như cắt giảm viện trợ là chỉ nhằm để buộc ông Diệm thay đổi chính sách. Nhưng chính quyền Kennedy không phải là hoàn toàn không có trách nhiệm trong cuộc đảo chánh như những người biện hộ cho Kennedy vẫn khẳng định. Chính Hilsman sau này cũng phải công nhận “một số những chuyện chúng ta làm quả là đã khuyến khích một cuộc đảo chánh; một số những biện pháp chúng ta đề ra có mục tiêu là để áp lực ông Diệm dù rằng chúng ta biết là chúng có thể khuyến khích đảo chánh.”
Ngày 5 tháng 10, với việc cắt giảm viện trợ được công bố, tướng Dương Văn Minh bắt liên lạc với Lu Conein, một nhân viên CIA vốn đã từng hoạt động tại Việt Nam từ những năm 1940 và đã từng cùng với Lansdale có công đưa ông Diệm lên. Tướng “big” Minh nhờ Conein chuyển đến đại sứ Lodge và chính phủ Mỹ yêu cầu Mỹ bảo đảm “chính phủ Hoa Kỳ sẽ không ngăn chặn một cuộc đảo chánh mà các tướng lãnh Việt Nam dự trù thực hiện chống lại ông Diệm và sẽ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam theo mức hiện nay một khi đảo chánh thành công”.
Khi được Conein thông báo về âm mưu của tướng Minh, Lodge đã gởi ngay một điện tín về cho Kennedy yêu cầu được phép trấn an Tướng Minh rằng Hoa Kỳ sẽ không tìm cách ngăn chặn một cuộc đảo chánh và Mỹ sẽ tiếp tục giữ nguyên mức độ viện trợ cho một chính phủ quốc gia nào khả dĩ có được sự ủng hộ của dân chúng và tiếp tục chống lại sự xâm lăng của Cộng Sản.
Trong bức điện tín trả lời vào ngày 9 tháng 10, Kennedy ra chỉ thị cho Lodge hãy tiếp tục tuân thủ những chỉ thị trước, tức là “tránh không tích cực khuyến khích một cuộc đảo chánh” nhưng hãy “cấp bách bí mật tìm cách nhận dạng và tiếp xúc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đại sứ với những thành phần có thể trở thành lãnh đạo thay thế chính quyền Ngô Đình Diệm.”
Nhận được điện tín của Kennedy với những dè dặt trong việc ủng hộ cuộc đảo chánh của nhóm Dương văn Minh, Lodge đã quyết định không để ý đến những dè đặt trên. Ngày hôm sau ngày 10 tháng 10, Lodge cho Conein thông báo với nhóm tướng lãnh đảo chánh rằng Hoa Kỳ sẽ không can thiệp để ngăn chặn cuộc đảo chánh cũng như sẽ tiếp tục viện trợ khi đảo chánh thành công. Với lời hứa đó, nhóm các tướng lãnh bắt đầu tích cực chuẩn bị.
Và những cuộc lừa đảo trong chính trị thể hiện qua những cuộc đảo chánh sẽ chỉ mang lại những hậu quả từ những sự lật đổ này đến thay thế khác cho đến một ngày toàn bộ cái nền của nó không còn gì nữa để đá đổ, rồi nhường chỗ cho một tầng lớp mới mà bạo lực chỉ mang lại bạo lực và những kẻ cai trị mới thường khi độc ác thậm tệ hơn rất nhiều.

***