Chương 23
Giải nghĩa lịch sử &
Tâm thần của một viên cố vấn Mỹ trong chiến tranh
Mỗi thời đại đều có dấu ấn riêng của mình, muốn mang lại cho lịch sử một giá trị nhân bản tốt đẹp hơn. Con người luôn kêu gọi lịch sử phải được viết lại bằng phương pháp mới, được xây dựng thông qua quá trình phá bỏ ngay chính khái niệm lịch sử… Mỗi vì sao vào mỗi thời điểm đều có quá trình qua những vụ nổ big bang khác nhau, đến những chùm sao với những tia quang hợp của sự pha trộn với các âm thanh cùng ánh sáng thật thú vị. Thậm chí có tiếng nói như giống lên hồi chuông báo tử của lịch sử, như vào thập niên 1990, nhiều lời cáo chung cho lịch sử thế giới được phát biểu mà nổi bật nhất là tuyên bố của giáo sư người Mỹ gốc Nhật Francis Fukuyama: “Hồi kết của lịch sử". Nhưng sự kết thúc của một giai đoạn lịch sử lại là một sự mở đầu cho một giai đoạn mới.
Cũng trong cuộc phỏng vấn Tướng Nguyễn Khánh, nguyên Quốc Trưởng của miền Nam, vào cuối đời Ông đã khẳng định có người bảo Ông Trí Quang là Cộng sản .v.v… nhưng có điều chắc chắn theo Tướng Khánh nhà sư này là CIA. Vị nguyên lãnh tụ miền Nam này tiết lộ chính Ông có lần mời các Ông Thượng tọa Tâm Châu, Trí Quang, Thiện Minh… và nói các ông rằng nhờ tranh đấu mà nay đi xe Mercedes, ở biệt thự, có nữ đệ tử theo hầu ngày đêm… sự thực là như thế đó!
Trong vòng mười năm trở lại đây, nhiều đầu sách về lịch sử ở các nước phương Tây bắt đầu xuất hiện với những từ khóa như “giải nghĩa” (Making Sense), “ký ức” (Historical Memory), hay "liên văn hoá" và “liên ngành” (Intercultural, Interdiscipline), trong đó có cả các nghiên cứu về lịch sử Việt Nam.
GS Jorn Rusen ghi nhận "một làn sóng toàn cầu" của các công trình nghiên cứu viết sử theo hướng mới này, "tìm hiểu quá trình xây dựng bản sắc cá nhân và tập thể thông qua ký ức, ứng dụng và chức năng trong văn hóa, xã hội và chính trị của phép kể chuyện quá khứ, và các kết cấu tâm lý của quá trình ghi nhớ, ức chế và hồi tưởng". Nhưng ký ức lịch sử vẫn luôn hàm chứa đầy những bi kịch tính trong cảm giác thường nghiệm và con người xây dựng đạo đức trên nền tảng cảm tính hơn là trên bình diện của lý trí trí năng, do đó dễ trên lầm lạc. Một ký giả, một phóng viên trên chiến trường trước cái chết của tha nhân, nói chung có sự huỷ diệt của giống nòi, họ sinh lòng trắc ẩn liền đưa ra những nhận định cảm xúc mà đúng ra nó chỉ mới là một phần của sự thật hay có khi không phải là như thế hoặc chỉ là một nửa của sự thật.
Trong quan điểm về ký ức của lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam, một thời qua những loa tuyên truyền của Cộng sản cũng như ngay cả của các phóng viên Phương Tây, trận Ấp Bắc, Cai Lậy phe miền Nam đã hoàn toàn thất bại, nhưng thực tế khác hẳn hoàn toàn. Sau đây là lời kể của một Viên Tướng, lúc chỉ huy trận đánh là Sĩ quan cấp Tá, Ông viết: ‘Vào đầu tháng Giêng năm 1963, tại Ấp Bắc, một làng nhỏ hẻo lánh, dân cư thưa thớt, với nhiều kinh rạch chằng chịt, thuộc tỉnh Định Tường, cách Sài Gòn khoảng 40 dặm về phía Tây Nam, đã xảy ra một cuộc giao chiến dữ dội giữa quân đội Việt Nam Cộng Hoà và Việt Cộng, mà địa hình, địa vật tại nơi này đã giúp địch quân có nhiều ưu thế trong việc phòng thủ. Nơi đây cũng là ngoại vi tiếp cận của khu vực mà Cộng Sản gọi là mật khu Ba Bèo. Trích lời Tướng Lý Tòng Bá.
Trong thời điểm này, theo lời viên chỉ huy chi đoàn 5/1 thiết vận xa M113, đại uý Hà Mai Việt ‘tôi đang hành quân tại Đồng Soài thuộc vùng 3 chiến thuật thì vào lúc nửa đêm ngày 2-1-1963 được lệnh khẩn di chuyển về Ấp Bắc để tăng cường cho lực lượng hành quân đang bị địch quân áp lực nặng. Chi đoàn 5/1 được đặt dưới quyền điều động của đại tá tư lệnh sư đoàn 7 Bộ binh kể từ ngày 3-1-1963…
Nhân dịp này, chúng tôi nhận thấy, theo binh thuyết, kế hoạch hành quân tiên khởi của trận Ấp Bắc khả thi, nhưng trên thực tế lại có những khuyết điểm mà các đơn vị trưởng thường gặp như địch tình không xác thực, không có ưu tiên không yểm. Điểm sai trái nhất là không thống nhất chỉ huy, nếu không muốn nói là việc điều quân khá phức tạp. Ngoài ra chúng tôi cũng nhận thấy trận Ấp Bắc chỉ là một biến cố quân sự thông thường, mặc dầu đây là lần đầu tiên toàn bộ một tiểu đoàn Bộ binh được trực thăng vận đến điểm tập trung. Sau nữa, chúng tôi không thấy có điều gì quan hệ đến mức độ giới truyền thông Hoa Kỳ phải đem ra mổ xẻ để lượng giá chiến tranh Việt Nam.’
Ông Lý Tòng Bá thuật lại tiếp về thái độ tâm trạng, đúng hơn là tâm lý thần kinh chiến tranh của một viên sĩ quan cố vấn Đồng minh ‘Trong khi tôi đang thế ngồi chồm hổm, đẩy mạnh lưng vào thành hố để tim bớt đập mạnh thì anh đại uý cố vấn J. Scanlon mất tinh thần, bò quanh bò quẩn trước mặt tôi… trông ngơ ngác như một con bê lạc bầy. Theo tôi, nếu cảnh đó được Neil Shehan chứng kiến và viết đầy đủ lại trong quyển "The Bright Shining Lie" của anh ta thì chắc anh ta đáng lãnh giải “Nobel” ở Thụy Điển chứ không phải giải Pulitzer mà anh ta nhận ở Mỹ’.
Đó là hình ảnh của một ông cố vấn quân sự Hoa Kỳ được trang bị đến tận chân răng, còn những thường dân Việt Nam thì ngơ ngác không hiểu đây là nghiệp oan của chính Ông Bà Cha Mẹ hay Tổ Tiên mình đã để lại từ muôn kiếp trước vì nay từ cuộc sống an bình đến cái chết rất gần, từ đoàn tụ đến ly tán không mấy chốc. Một người vợ bồng bế cháu bé trong nước mắt vừa hối hả ra khỏi vùng lửa đạn và thốt lên với sự xót xa, người như chết điếng nhưng chân còn phải chạy ‘cha con đã chết…’ bên cạnh có bà lão như trơ người ra không khóc, quanh họ đầy tiếng bi thương. Người phụ nữ cao niên đang cắn răng chịu đựng, bà đang suy nghĩ hết Tàu, đến Tây, đến Nhật, nay đến Mỹ Nga… trước mắt bà quá khứ là một sự kinh qua bằng chính mạng sống của mình và người thân: nhân danh, nhân danh…những ai càng nhân danh hoà bình hầu như càng tạo chiến tranh, càng lắm từ hoa mỹ trong sự giải phóng con người chỉ càng làm cho con người phát triển trái với tự nhiên, thay vì giải phóng con người đã biến tha nhân trở thành nô lệ của cái gọi là giải phóng, dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này có thể nói là từ mẹ ru con đến mẹ ôm xác người.
Quá trình nghiên cứu cũng ghi nhận tiến trình xâm nhập không gian văn hóa đại chúng như các kênh truyền hình chuyên về lịch sử như phim truyện Hollywood với các khái niệm "lịch sử" và "ký ức lịch sử", tức là cách nhìn lịch sử của mỗi cá nhân đương đại – các đạo diễn.
Khoảng trống vắng về lý thuyết cho các nghiên cứu ký ức lịch sử, cũng như dựa trên những thực chứng từ các biến cố lịch sử, những nạn nhân chiến tranh, chính là mục tiêu xây dựng cho các công trình của các Viện nghiên cứu cao cấp về nhân loại ở mọi nơi và ngay tại Essen, từ năm 1994 với mục tiêu "giải nghĩa lịch sử" -Historische Sinnbildung. Với sự khởi xướng của Giáo sư Jorn Rusen.
Các nhà nghiên cứu ghi nhận "bất kỳ khảo sát nào vào ký ức lịch sử trong bối cảnh văn hóa khác nhau đều không chỉ là nghiên cứu mang tính đột phá, mà còn là viên gạch cho cả một lý hệ thống lý thuyết bao quát hơn cho môn lịch sử".
"Bất kỳ phân tích nào đối với dù ngay cả một trạng thái đơn giản của ký ức lịch sử cũng chạm ngay vào các vấn đề lý thuyết và triết học cho môn lịch sử", GS Rusen viết.
Quá trình nghiên cứu cũng ghi nhận tiến trình xâm nhập không gian văn hóa đại chúng như các kênh truyền hình chuyên về lịch sử và phim truyện Hollywood của các khái niệm "lịch sử" và "ký ức lịch sử", tức là cách nhìn lịch sử của mỗi cá nhân đương đại tổng quan lịch sử - totalisation of totalisations.
Theo đó, nghiên cứu viết sử từ ký ức đòi hỏi cái nhìn đa ngành, "từ sử gia, chuyên gia nhân học, triết gia, các nhà xã hội học, tâm lý học và lý thuyết gia văn chương, cũng như các chuyên gia trong những ngành như truyền thông và nghiên cứu văn hóa cùng nhau khám phá các vấn đề như sau: Cái gì tạo ra ý và nghĩa (sense and meaning) cho lịch sử?". Nghĩa là phải đối chiếu lịch sử trong giá trị của hệ thống trong hệ thống với cái nhìn tổng quan toàn diện.
Khi mở rộng phạm vi học thuật thì khái niệm thời gian không còn đơn giản là một đường thẳng theo một chiều tuyến tính, mà là khái niệm chuyển tải nhiều nội dung khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau, liên quan đến hệ giá trị và nhân sinh quan riêng.
Do vậy, tuyên ngôn của giáo sư Jorn Rusen cũng kêu gọi thiết lập môi trường liên lạc liên văn hóa (intercultural communication), cũng là tên một ngành học thời nay, để xây dựng một mặt bằng chung cho học thuật trong thời đại toàn cầu hóa, vốn đã xóa bớt khoảng cách trên bình diện chính trị và kinh tế nhưng phần nào lại gia tăng khoảng cách trên bình diện văn hóa.
Và tất nhiên, trong các hệ thống ngành học có liên quan đến công trình này không thể thiếu các thành quả của ngành phân tâm học, vốn cũng từng xuất thân từ nước Đức, trong các nghiên cứu về không gian nhận thức tiềm ẩn và quá trình chuyển giao thông tin khoa học và phi khoa học trong ký ức lịch sử, mà đúng hơn là thiết lập môi trường liên văn hoá đến với môi trường vô văn hoá rồi trở về với văn hoá – mà vốn ‘văn hoá là những gì còn lại sau khi quên tất cả’. Lịch sử cũng vậy. ‘La culture, c’est ce qui rest quand on a tout oublié’.
***