Chương 21
‘We’ve got to conduct ourselves like men’
-Chúng ta phải hành động xứng đáng
như những người đàn ông
Các thanh niên trai tráng trong những làng xa xôi và khắp các tỉnh thành thuộc miền Nam đến tuổi động viên đều phải vào quân ngũ, bao cuộc tảo hôn cũng như cưới vợ kiểu chạy tang, mọi thứ gởi lại phía sau và người thanh niên phải ra chiến trường. Tất nhiên có nhiều trường hợp trong sự rủi ro nào đó mà thanh niên kia sẽ không bao giờ trở lại nhưng hầu hết họ cũng có những lần gặp nhau về sau dù cho thời gian đó không được lâu dài với cuộc đời binh nghiệp trên chiến trường. Tại miền Nam các văn phòng tuyển mộ binh sĩ được lập nên khắp nơi và có tiền tưởng thưởng cho những đội nào tuyển mộ được nhiều, thậm chí xảy ra những chuyện phải làm lại khai sinh đôn tuổi lên để được nhận vào quân ngũ theo đúng luật động viên. Các bạn hữu của Nađa từ thuở hàn vi, ở bậc tiểu học, trung học… phần lớn đều đến tuổi phải vào quân ngủ, còn chàng may mắn được hoãn dịch vì lý do học vấn.
Riêng với thanh niên nam nữ miền Bắc, chỉ trực tiếp chứng kiến những chú bộ đội còn quá trẻ chết trên chiến trường hay qua những cuộc phỏng vấn các tù binh, mọi người đều biết rằng ‘cứu cánh đã biện minh cho phương tiện’ và thân phận con người sinh ra trong các chế độ quân phiệt này một khi đôi tay cầm súng được là có thể ra chiến trường trong cái gọi chiến tranh hóa toàn dân, tất cả già trẻ lớn bé đều phải ra trận mạc.
Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, công cụ trá hình mà Hà Nội dùng để xâm lược. Mặt Trận này được thành lập vào ngày 20 tháng 12, 1960, nhưng phải đến ngày 29 tháng giêng 1961 Thông Tấn Xã Việt Nam của Hà Nội và Tân Hoa Xã của Bắc Kinh mới loan tin. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy vì Hà Nội còn phải chờ đợi báo cáo của Lê Duẩn về hội nghị và tuyên ngôn Mạc Tư Khoa và sự chấp nhận của hai bên quan thầy trong chính sách này của Hà Nội. Với sự can thiệp sâu đậm thêm của Mỹ vào miền Nam và sự ủng hộ của Liên Sô và Trung Cộng với chính sách của miền Bắc, cuộc chiến Việt Nam bắt đầu đi vào giai đoạn quốc tế hóa.
Đại Hội lần thứ ba của đảng Lao Động Việt Nam khai mạc tại Hà Nội vào ngày 5 tháng 9, 1960. Theo cuốn Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thì đại hội này đánh dấu một mốc lớn trên con đường đấu tranh cách mạng của Việt Nam.
Trong báo cáo chính trị của Lê Duẩn “cách mạng Việt Nam ở giai đoạn này có hai nhiệm vụ chiến lược: thực hiện cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc và hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân qua việc lật đổ chế độ thực dân và phong kiến tại miền Nam.” Theo Lê Duẩn hai nhiệm vụ này gắn chặt với nhau và ảnh hưởng lẫn nhau với mục tiêu tối hậu là thống nhất đất nước.
Người dân miền Bắc trước áp lực ngày càng nặng nề ‘hạt gạo phải cắn làm tư’- cho hậu phương miền Bắc, chiến trường miền Nam, Lào và Cam Bốt, để trở thành một hậu cần vững chắc cho công cuộc xâm lăng miền Nam. Tâm trạng của người dân qui về trong các mối ám ảnh sợ: cái đói khát và khủng bố từ cán bộ Cộng sản như luôn theo rình rập mỗi con người.
Ám ảnh sợ xã hội là sự sợ hãi rõ rệt và kéo dài trước các biến cố ngoài xã hội thường kèm theo sự lúng túng xấu hổ. Nó thường bắt đầu khi thất bại trên chính trường cùng sự hoang mang ở hậu phương, nhất là rơi vào chuyện tù tội do nghi oan, chụp mũ, sự sợ hãi khi bao sự theo dõi bên mình để buộc tội, nên chủ thể trong trường hợp như vậy cố tránh né các tình thế xã hội và tự cô lập. Ám ảnh sợ xã hội còn thể hiện qua việc sợ xuất hiện nơi công cộng, phát biểu trước nhiều người, kèm theo sự tự ty mặc cảm, đánh giá thấp chính mình, sợ bị phê bình, đỏ mặt, run, tim đập nhanh, vã mồ hôi, buồn nôn hay mắc tiểu cũng có thể là những biểu hiện của ám ảnh sợ xã hội. Trong trường hợp nặng có thể kèm theo cơn hoảng loạn, dù cho đó là những người dân lam lũ quen chịu đựng.
Từ sự ám ảnh sợ xã hội đến ám ảnh sợ đặc thù, đến những gì có tính chuyên biệt, còn được gọi là ám ảnh sợ đơn thuần, ám ảnh sợ riêng lẽ hoặc ám ảnh sợ duy nhất, là rối loạn lo âu thường gặp nhất. Đó là những ám ảnh sợ chỉ xảy ra trong những tình huống như sợ rắn, thằn lằn, áo công an, sợ chiếc xe đạp thồ của ông cán nào đó đang trên đường đi tới hay đã khuất dạng… Trong trường hợp các rối loạn này đạt đến mức độ hoang tưởng lúc đó chẩn đoán sẽ là rối loạn hoang tưởng.
Ngoài ra với ám ảnh sợ bị biến dạng cơ thể như ở mặt nếu trúng phải bom mìn, da cháy bỏng không còn nhận diện ra con người, được gọi là ám ảnh sợ biến dạng. Khi bị nặng gọi là rối loạn hoang tưởng nghi bệnh.
Trong cái vô thường của sợ hãi, nạn nhân chiến tranh để có thể tồn tại trong chiến tranh như ngoài chiến trường, họ luôn trong sự kiên định: dù thế nào cũng phải vượt qua, chúng ta phải sống.
***
Vào năm 1963 có một báo cáo của phái đoàn cố vấn quân sự Hoa Kỳ về Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 cho thấy số thiệt hại của quân đội VNCH đã tăng vọt trong khi không có một sự tăng gia tương đương về phía Việt cộng, sau khi có cuộc đảo chánh và Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại.
Chính quyền Johnson vào tháng 3/1964 với Nghị quyết NSAM kêu gọi Việt Nam đặt đất nước mình trong tình trạng chiến tranh, ra lệnh tổng động viên để tăng cường đáng kể các lực lượng vũ trang. Trong vòng chín tháng sau đó số “cố vấn” quân sự Hoa Kỳ đã tăng từ 16.200 lên 23.300 và khối lượng viện trợ kinh tế cũng tăng thêm 50 triệu đô la. Tháng tư 1964, Johnson thông báo với đại sứ Lodge “Về phần tôi, tôi thấy ông cần phải có tất cả những gì ông cần có để giúp cho chính phủ Việt Nam thực hiện trách nhiệm của họ và tôi bảo đảm với ông rằng tôi sẽ hành động ngay để loại trừ hoặc gỡ bỏ những trở ngại hoặc giới hạn dù nó xảy ra ở đâu.”
Vào cuối năm 1963 đầu 1964, chính giới Mỹ đã bắt đầu nhận thức được rằng tầm mức của những thay đổi lớn trong tình hình thế giới đã bắt đầu tạo ra những vết rạn nứt trong các giả thuyết làm căn bản cho các chính sách đối phó với Cộng Sản quốc tế trong chiến tranh lạnh, đặc biệt là tình trạng tranh chấp càng ngày càng hiện rõ giữa Liên Sô và Trung Cộng đã chứng tỏ sự sai lầm trong giả thuyết rằng Hoa Kỳ phải đối phó với một khối Cộng Sản đồng nhất với một kế hoạch nhất quán để nhuộm đỏ toàn thế giới.
Theo tài liệu National Security Council Action Memorandum (NSAM) số 237 ngày 27 tháng 11, 1963 trong đó khẳng định rằng “mục tiêu chính của Hoa Kỳ” là trợ giúp cho “nhân dân và chính phủ miền Nam Việt Nam chiến thắng trong cuộc chiến đấu chống lại âm mưu lật đổ của cộng sản được điều khiển và trợ giúp từ bên ngoài”.
Chính Johnson cũng thấy rõ những nguy cơ của việc leo thang. Đã có lần ông tâm sự với người bạn và cũng là người thầy chính trị của mình, Thượng nghị sỹ Richard Russell của Georgia rằng “Rơi vào một cuộc chiến tranh thì thật là quá dễ. Nhưng muốn rút ra khỏi một khi mình đã rơi vào thì thật là khó khăn.” Đúng là ‘tiến khó một mà rút khó mười’ như một qui luật trong binh pháp.
Nhưng Johnson không phải là người chấp nhận được sự thất bại. Ông không thích gì khi thấy Hoa Kỳ bị sa lầy tại Việt Nam, song một khi đã mắc kẹt rồi ông kết luận rằng “chúng ta phải hành động xứng đáng như những người đàn ông”. Nhưng thế giới này dường như chỉ có những người đàn bà thật sự mà không có những người đàn ông đích thật.
***