Chương 19
Ảo thị khổng lồ -macropsia
Ảo thị khổng lồ -macropsia; ảo thị nhỏ đi -microsia; và có thể là ảo thị tự thấy mình –autoscopia.
Sự kiện vịnh Bắc Bộ, ngày 2/8/1964, Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ báo cáo với Washington là khu trục hạm USS Maddox bị ba hải tốc đĩnh Bắc Việt tấn công ở hải phận quốc tế thuộc vịnh Bắc Bộ. Hai ngày sau, ngày 4/8/1964, vào nửa đêm, Washington lại nhận được báo cáo thứ hai là một hải tốc đĩnh cộng sản vừa tấn công vào hai khu trục hạm USS maddox và Turner ở cách bờ biển Bắc Việt 55 dặm. Ngày 5/8/1964, vào lúc 11giờ sáng, để trả đũa, 64 khu trục cơ Hải quân H.K. giội bom xuống thành phố Vinh của Bắc Việt, mở đầu cho kế hoạch hành quân 37- 64 mà cũng là sự tham dự không có tuyên chiến của H.K. vào cuộc chiến tranh Việt Nam thứ hai. Hai ngày sau, ngày 7/8/1964, “Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ” được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua với một đa số kỷ lục (Hạ Nghị Viện: 416 – 0, Thương Nghị Viện: 88 – 2).
Vào đầu tháng giêng 1965, các tướng miền Nam đã lãnh đạo đất nước đến bờ vực thẳm, Hoa Kỳ không thể bỏ mặc cho phe miền Bắc thôn tính miền Nam. Chiến dịch ‘Rolling Thunder’ ra đời với mục tiêu mở rộng cuộc chiến ra miền Bắc. Đây quả là giai đoạn sinh tử của miền Nam, nên chính phủ Mỹ đã bỏ qua giai đọan còn dè dặt với cuộc chiến và đã đưa ra các quyết định rõ rệt về sự tham chiến tại Việt Nam.
Ngày 8/3/1965, hai tiểu đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng, mở đầu cho sự tham chiến bằng bộ binh của Mỹ tại Việt Nam. Cho đến hết nhiệm Kỳ của Tổng Thống Johnson (ngày 20/1/1969), sự leo thang quân sự của Hoa Kỳ như sau: 82.000 quân cho đến cuối tháng 4/1965; 120.000 quân cho đến cuối tháng 8/1965; 184.000 quân cho đến cuối 1965; 300.000 quân cho đến tháng 6/1966 và trên 500.000 quân cho đến cuối năm 1967.
Nguyên cớ để người Mỹ vào một cách có chính nghĩa, ngày 7/2/65 các lực lượng miền Bắc đã tấn công vào căn cứ của lính Mỹ ở Pleiku và giết chết 9 lính Mỹ và làm hư hỏng nhiều trực thăng. Ngay sau đó đã có các cuộc oanh kích mãnh liệt vào miền Bắc. Những cuộc oanh tạc thường xuyên sau đó đã vượt xa những cuộc không tập có tính cách giới hạn của việc trả đũa, song với sự lãnh đạo của các tướng miền Nam chính phủ ngày càng co dần lại trong ốc đảo chung quanh các thành thị lớn mà thôi.
Lần đầu tiên bom Napalm được mang ra sử dụng để gia tăng mức tàn phá khi oanh tạc. Trong tháng 4/1965, các phi công Hoa Kỳ và Việt Nam đã thực hiện 3600 phi vụ ném bom vào miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến trên không khốc liệt trường kỳ cho đến khi chấm dứt mười năm sau đó.
Bom Napalm nhớ Kim Phúc, trẻ em và chiến tranh qua hình ảnh Kim Phúc là một điển hình. Bé gái Kim Phúc vừa chạy vừa khóc la, không mảnh áo che thân vì bom napalm. Lửa bám trên thân người phía sau lưng em như cây đuốc. Khi vết thương trên thân thể cô bé chưa lành, đám cường hào địa phương đã lợi dụng vết thương chiến tranh của nạn nhân cho mục tiêu chính trị và quyền lợi của họ. Vẫn chưa yên, nhà cầm quyền Hà Nội qua Thủ tướng không do dân bầu, Phạm Văn Đồng đã vuốt ve cô bé bằng nhiều hình thức mỵ dân khác nhau. Nhưng rồi chân tướng của sự dối trá và bản chất chế độ tàn độc cũng lộ ra. Cô gái Kim Phúc đã gián tiếp tố cáo, lột trần bộ mặt thật khi chạy trốn từ Cuba, đi tìm tự do, tỵ nạn, định cư cùng gia đình tại Canada.
Một trường hợp khác, người đàn ông trung niên kia, quê ở Hà Nam, thất thểu tìm cha đã chết trên chiến trường miền Nam. Anh ta nghe mẹ kể lại lúc vừa tròn ba tháng tuổi, bố đã ra chiến trường và không bao giờ trở lại. Cầm trên tay những lá thư giấy đã ngả màu, bên cạnh anh là nhiều người tâm thần khác đang đào xới. Hy vọng. Rồi lấp lại một cách tuyệt vọng trên những vùng đất mà họ được bắn tin có người thân đã mất. Người con tìm cha này tên là Trần văn Thể, 44 tuổi, mưu sinh tại Sài Gòn.
Một gia đình gồm toàn con trẻ là nạn nhân của chiến tranh. Ông bà nay đã chết nhưng các con hiện vẫn còn sống tại miền Trung Việt Nam. Cuộc sống với những người con còn lại này chỉ là một sự tồn tại gần như là đời sống thảo mộc. Họ luôn trong nỗi ám ảnh về bom đạn. Ngày kia, sự kinh hoàng đổ xuống trên đầu mỗi người, khi trái đạn pháo kích do Việt cộng bắn vào thành phố rơi trúng ngay nhà họ nhằm ngay bữa cơm chiều. Từ đó gia đình tan nát kẻ chết đã chôn, riêng với người còn sống mỗi người một bịnh trạng của hội chứng thần kinh chiến tranh Việt Nam.
Nhiều gia đình miền Bắc có con em vào xâm chiếm miền Nam, mấy anh em đều chết hết. Bề ngoài các gia đình đó phải tỏ ra “hồ hởi”, nhưng trong thâm tâm không người nào, không gia đình nào không hằn sâu vết thương chiến tranh với bao đau thương mất mát, chỉ có điều không thể nói thật, phải nói láo để mà sống. Quả là một thứ bệnh lý thần kinh trong người dân thời chiến tranh, với hội chứng lâm sàng là nói sảng, nói khoác, thói ba hoa phóng đại, nói hùa theo không cần suy nghĩ. Tôi phải vỗ tay để chứng tỏ tôi không bị què cụt cánh tay!
Ảo giác thính giác đó là thứ ảo thanh có thể xảy ra liên tục hoặc từng thời gian, có loại ảo thanh bình phẩm, loại ảo thanh mệnh lệnh như ra lệnh cho người bệnh lao vào ô tô, nhảy xuống ao, đi trốn, đi tìm... Ảo thanh ảnh hưởng đến cảm xúc làm người bệnh lo lắng, buồn rầu, giận giữ, vui vẻ, phấn khởi... Tuỳ nội dung ảo thanh mà người bệnh có thể phản ứng bằng cách bịt tai, lắng nghe, trả lời với ảo thanh, hoặc có hành vi chạy trốn, tự sát hay tấn công người khác.
Ảo thanh rất hay gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và có thể là một triệu chứng khởi đầu của bệnh nầy. Ngoài ra ảo thanh còn gặp trong các bệnh loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già, loạn tâm thần do tổn thương ở não bộ.
Ở miền Trung Việt Nam, lúc nào trên các quốc lộ chúng ta cũng gặp những người quát tháo, chửi mắng chung chung chó mèo.v.v.. miệng cũng không ngớt réo vang lên các từ: bắn bắn... giết giết… Với họ có lẽ không la lối xem như là đã hết. Cái chết thật sự đã chấm dứt một kiếp người? Và họ không bao giờ muốn thế dù cho sự ra đi có lên Thiên đường hay vinh dự được gặp Cụ Các Mác Lê Nin hầu như có một sự thật ở đây của con người trước lúc lìa đời là không ai muốn chết và câu nói đó có lẽ là thật thà nhất của con người khi sinh ra làm người và từ giả kiếp người.
Khi những khu tái định cư được thành lập, con người không còn ngăn cách bởi những lũy tre làng, họ gần gũi nhau hơn, nên trai mới lớn và gái mới trưởng thành có dịp gần nhau hơn, nhất là trong thời tao loạn, do đó có nhiều cuộc hôn nhân thật sự ngoài dự tính, người lớn tuổi sinh thêm con cái nhiều hơn vì tất cả nông dân được tập trung vào đây không có việc gì làm ngoài chuyện quanh quẩn trong gia đình, họ cũng không có những cuộc vui để giải trí ngoài chuyện làm công việc di truyền giống nòi. Đúng là quy luật bù trừ tự nhiên với những mất mát trên chiến trường.
Cuộc đời quả là một sự chấm hết theo một cách nhìn bi quan nào đó từ chiến tranh, cái chết luôn cận kề với mọi người, nó không tha cho một ai: một sự chấm hết; nhiều người có thêm vợ bé nhất là những phụ nữ cần người nâng đỡ đêm hôm, nhiều người hãy còn rất trẻ nhưng chồng đã tử trận hoặc muốn kết hôn nhưng không còn thanh niên trong khu láng giềng một khi tất cả đều bị động viên ra chiến trường.
Ngoài ra còn rất nhiều người mua vui qua ngày cho quên chiến tranh bằng những ly rượu giải sầu, lắm kẻ say nhè, khuôn mặt đỏ lên lúc nào cũng hô hào, cũng la lối, và vỗ tay như biểu hiện của các triệu chứng về tâm thần, nó là thứ ảo thanh, mọi thứ ngôn từ trong họ phát ra để luôn chứng tỏ rằng: ta hãy còn vui say với cuộc đời. Có người quát tháo và chửi mắng người thân, nhưng rồi mọi sự như không có gì xảy ra, nó như một làn gió thoảng qua khi hữu thể chứng tỏ để tự nhận biết mình: tôi hãy còn sống với.
Bên cạnh đó đầy những khuôn mặt trầm ngâm như luôn mang theo tiếng nói từ bên trong: hãy giết đi, hãy bắn giết, hãy trả thù, dã man, dã man. Tất cả trong chứng ảo thanh như có tiếng gọi đâu đây của sự chết, như thần linh đang vẫy gọi.
Ngoài ra trong chiến tranh rất thường xảy ra chứng ảo giác thị giác và đôi khi kết hợp với ảo thanh. Nội dung của ảo thị rất đa dạng như thấy ngọn lửa, thấy đom đóm, thấy khói, sương mù, thấy hình ảnh sinh vật mờ mờ hay rõ rệt. Kích thước của sự vật có thể lớn lên, đó là ảo thị khổng lồ -macropsia; ảo thị nhỏ đi microsia; và có thể là ảo thị tự thấy mình -autoscopia.
Nội dung của ảo thị có thể làm người bệnh say mê, nhìn ngắm một cách thích thú hoặc ngơ ngác, bàng hoàng, sợ hãi... hoặc biến tha nhân thành những nỗi kinh hoàng như trong ảo giác của chính mình. Ảo thị hay gặp trong các bệnh tâm thần cấp như loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc, đôi khi trong tâm thần phân liệt, loạn thần kinh hysteria.
Người dân vẫn sợ mật vụ, cảnh sát chìm, lúc nào cũng rình rập, khủng bố dọa nạt kết tội nhất là thứ ảo giác lệch lạc từ tư tưởng đấu tranh giai cấp, những ai không cùng trên tảng băng giai cấp đều là kẻ thù đầy tội lỗi. Và trên cái nhìn bất bình thường nầy đã dẫn bao người bị chết oan khiên.
Những người làm an ninh dưới chế độ nào cũng thường với khuôn mặt hầm hầm, sát khí tìm cách hãm hại mọi người, trong họ như đầy sự ảo thị, tất cả lời nói đến hành vi của các bên khi nhìn về nhau đều là giả dối, như với Cộng sản thì người miền Nam là tàn dư của tư bản bốc lột, tội lỗi, nên không thể có một âm thanh, màu sắc, huơng vị tốt từ giai cấp này được.
Trong những cái xác chết của phe miền Bắc vào giai đoạn này sau mỗi đêm thường là các đặc công lẻn vào thành phố, các đồn bót… những cái xác treo lủng lẳng trên các cây trụ đèn, họ cắt dây điện để chuẩn bị cho những đợt tấn công… họ chui vào các khu phi quân sự để cài đặt mìn… Tất cả trong những bộ quần áo cánh màu đen, hay phần lớn họ dùng sơn màu đen quét, bôi trên toàn thân để lẫn vào trong bóng đêm, hoặc có khi bị cháy đen do mìn hay chạm điện… Những cái chết sau mỗi đêm bỏ lại bao người thân yêu, tất cả thường không có sự chôn cất, ngoài sự đốt cháy và chỉ có đốt mới nhanh chóng mang lại vệ sinh cho môi trường đang thời chiến tranh, tránh dịch bệnh. Các thành phố, tỉnh lỵ thuộc miền Trung Việt Nam, công việc chôn cất thật tấp nập, thứ dịch vụ thịnh hành nhất vào thời chiến tranh trong một thành phố nhỏ nơi nào cũng thế và ngày càng nhiều hơn cùng tỷ lệ thuận với sự leo thang của cuộc chiến.
***