Có tiếng nổ to trong một căn nhà nhỏ vào lúc nửa đêm tại khu tái định cư cho người dân thuộc vùng mất an ninh, láng giềng với những căn nhà tạm dựng lên san sát bên nhau chứng kiến, hai anh em ruột nằm ngủ trên giường bị tiếng nổ hất tung lên và các mảnh thịt cùng hai cái sọ văng tung tóe. Sau đó người ta được biết các cháu mới lớn chơi nghịch mang mìn về nhà, nhưng ở đây nổ ngay tại dưới gầm giường nên cũng có thể do có mối hận thù nào đó. Chiến tranh là vậy, không có đạo luật thật sự kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng vũ khí, mọi người nếu có nhu cầu đều có thể lén lút cất giấu vũ khí.
Người mẹ trong cơn hoảng loạn đã ngất lịm cho đến giây phút những mảnh thịt không biết của anh hay là em được đưa vào ráp với nhau miễn là có cái đầu. Gia đình này với hai đứa em còn sống sót sau vụ nổ cũng bị tâm thần, ông bố và bà mẹ dở sống dở chết trong quảng đời còn lại.
Các cư dân trong các khu tái định cư khi nghe tiếng động mạnh vào giữa khuya đều trong ám ảnh Việt cộng về làng, họ nghĩ đến con cái có thể bị gọi vào bưng biền mà không có ngày trở lại, họ cũng liên tưởng đến chốc nữa có thể có người bị ám sát vì có thân nhân phục vụ trong chế độ miền Nam, họ cũng bị ám ảnh bởi thứ tòa án nhân dân chỉ diễn ra trong chốc lát và nạn nhân bị bắn ngay tại chỗ… Tất cả đều trong thứ ảo tưởng thính giác của thần kinh thời chiến tranh.
Mặc dù khi di chuyển đến các khu tái định cư, họ được nhận trợ cấp mọi thứ từ tiền viện trợ của Đồng Minh, thế nhưng người dân nào cũng cảm thấy thiếu thốn về một thứ nào đó - Nó có mùi thơm hương vị thật đồng nội, Nó là mùi nơi chôn nhau cắt rốn – mùi của quê hương, quả là thứ ảo tưởng về vị giác của thời chiến tranh.
Người dân quê xứ Nađa dù được chuyển dần về tỉnh lỵ sau khi sư đoàn rút đi, nhưng tâm trạng chung lúc nào cũng lo lắng, sợ hãi, bị trấn áp… nên mọi bóng dáng của chiến tranh nếu thoáng qua họ đều liên tưởng đến một sự bất hạnh không may, chẳng lành nào đó của ảo tưởng cảm xúc thời chiến tranh.
Miền Nam nói chung và nông thôn thuở ấy không mọc lên nhiều học thuyết như Phương Tây nhưng phát sinh ra các giáo phái rất nhiều, đó là câu trả lời cho sự khủng hoảng niềm tin trong một cuộc chiến hầu như các công dân đều trong sợ hãi. Những người đồng bóng xuất hiện trong mọi ngõ ngách xóm làng khu phố, nghề bói toán chiêm tinh, thầy cúng rất thịnh hành, không ai cấm đoán, sự xuất hiện của các hiện tượng như một sự phản kháng từ chối chiến tranh trong một xã hội với những giá trị đặt trên nền tảng tôn trọng con người theo tính cách tự nhiên. Không ai cảnh giác rằng kẻ trộm đang rình rập và chuẩn bị vồ nát xương thịt họ qua sự nhân danh giải phóng họ.
Thời gian không còn đơn giản là một đường thẳng theo một chiều tuyến tính, ngay cả ánh sáng cũng đi theo đường cong, Kinh Thánh cũng được soi tỏ trong sự đối chiếu và các ngành khác cũng vậy, tất cả đã mang lại cho nhân loại một cái nhìn với nội dung từ các nền văn hóa khác nhau liên quan đến cách sống cách nghĩ cùng sự tôn trọng các quyền cơ bản của con người có nền tảng xác đáng hơn. Song ở đây và bây giờ cái đáng thương cho dân tộc này đó là những gì còn tồn tại của một thế giới cần giải quyết để chuyển sang các giá trị mới lại bốc cháy ở nơi đây. Một giai đoạn của toàn cầu hóa, xóa bớt khoảng cách trên bình diện chính trị và kinh tế nhưng tất nhiên khoảng cách trên bình diện văn hóa hãy còn là một sự tồn tại lâu dài.
Người dân lo âu cảm nhận có một nguy cơ khó tránh nhưng không định được đó là gì, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực truớc nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ tạo ra xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngợp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân. Có thể nói không một công dân nào trên khắp miền Trung Việt Nam mà không có sự bâng khuâng lo lắng về các hậu quả của chiến tranh. Lo âu về người thân của mình ra chiến trường sẽ không bao giờ có ngày trở lại, họ chờ mong đến ngày đi phép của con cháu, nhưng cuộc chiến ngày càng khốc liệt khiến sự đi phép vơi dần do nhu cầu của chiến trường. Con người cảm thấy hoàn toàn không còn làm chủ được chính mình trong chiến tranh, tất cả được phó mặc lời an ủi đầy sự thương tâm, nó là số phận. Các công dân hoàn toàn cảm thấy mình thấp hèn, bất lực bị lệ thuộc vào kẻ khác.
Chứng tim mạch và cao huyết áp rất nhiều nhưng hầu như sự chăm sóc y tế ban đầu hãy còn rất thấp vào thời ấy. Nguời dân chết vì chứng này rất nhiều gọi là bị phong hàn trúng gió.
Tất cả họ đều mang mặc cảm tâm lý chung hay rụt rè, khúm núm, một thưa hai dạ... Thậm chí ngay cả với các thanh niên vừa mới lớn, nhưng khoát áo dân quân hoặc du kích, những người già cũng cảm thấy đầy sự bất an, sợ hãi trong chiến tranh, họ gặp người lạ và bẫm thưa đến đáng thương.
Ngay trong làng Nađa có người vì sợ hãi quá mức mà nay nghiêng về bên này mai ngả bên kia. Một trái pháo, một quả bom thả nhầm hay một viên đạn trúng ngay đầu, chỉ vào lúc đó con người mới không còn nghiêng với ngả. Cái ‘ngã’ trong tiếng Việt chỉ cần sửa dấu nó là cái tôi đáng thương và cũng rất khả ố.
***