TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang
Chương 11
Những xung động giết người



Những hành vi xung động của các nhà lãnh đạo Nam Bắc ngày càng quyết liệt, gây nên sự chém giết, sát hại giữa hai bên ngày càng tăng cao.
Chiến dịch tố cộng đã làm tổn hại nặng hạ tầng cơ sở của cộng sản tại miền Nam, nhưng nó được thực hiện một cách tàn bạo và nhiều trường hợp lợi dụng trả thù cá nhân, bắt đầu gây nên những bất mãn ngấm ngầm trong dân chúng, nhất là tại nông thôn. Nhiều người không phải là Cộng Sản nhưng trước kia đi theo Việt Minh, hoặc từng là cộng sản nhưng không còn hoạt động và đã bỏ đảng cũng bị quấy rầy, bắt giữ hoặc đôi khi thủ tiêu. Tại một số nơi những gia đình có thân nhân đi tập kết ra Bắc hay thân nhân dính líu với cộng sản cũng bị chính quyền theo dõi và làm khó dễ. Tại mỗi vùng, dân làng có thể bị bắt giữ chỉ vì đã đi đến một khu vực có du kích quân. Đặc biệt dân chúng than oán trong chuyện tình nghi đã hoạt động cho bên này hay bên kia, những vụ bắt sâu đi làm lao động không công như sửa đường xá, xây dựng các công trình công cộng.
Với người dân nạn nhân của chiến tranh trong cảm xúc không ổn định, nạn nhân dễ chuyển từ cảm xúc nầy đến cảm xúc khác một cách nhanh chóng, từ vui chuyển sang buồn, từ khóc sang cười, từ lạc quan sang bi quan. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể não bộ, các trạng thái suy nhược. Nhiều người trong làng trước sự thay đổi quá bất ngờ từ tình huống này sang tình huống khác chỉ toàn đau thương, tâm thần họ cũng trở nên thật bi quan bất thường, đôi khi hiền hoà nhưng bất chợt nổi cơn rất hung dữ. Họ sẽ gây gổ với bất cứ ai nếu có sự xích mích mà toàn là người thân láng giềng. Có người phải lãnh lấy những phát đạn hay quả lựu đạn bung khỏi chốt cũng từ những nạn nhân chiến tranh như họ.
Để đối phó Cộng sản tung ra một chiến dịch khủng bố ngược lại, đó là chiến dịch “trừ gian” này bắt đầu phát động vào đầu năm 1957 sau nghị quyết của Bộ chính trị đảng cộng sản tại Hà Nội cho phép các địa phương được dùng bạo động chống lại. Các lực lượng Cộng sản trong giai đoạn này tránh đụng độ với các lực lượng của chính phủ miền Nam, song tập trung vào việc ám sát một cách có hệ thống những viên chức địa phương cũng như tất cả những ai bị coi là có thể làm trở ngại cho phong trào cộng sản. Họ thành lập các ban ám sát đặc biệt chừng một chục người chỉ chuyên làm chuyện khủng bố khắp các tỉnh thành. Họ chủ trương giết các viên chức chính quyền miền Nam nào được lòng dân và để lại những nhân vật gọi là ‘ác ôn’ để có thể tiếp tục tuyên truyền dân chúng thù hận lại chế độ và họ khủng bố, hành quyết luôn những người không có quan hệ gì với chính quyền để tạo ra sợ hãi cũng như là gây nghi ngờ giữa những người quốc gia với nhau.
Làng mạc Việt Nam trở thành một bãi chiến trường, khắp nơi hằng ngày từ các thôn xóm đều có tiếng khóc than chết chóc. Không làng này cũng kế bên có người tử trận hoặc trúng đạn hay đạp phải mìn… Các hoạt động khủng bố của Việt Cộng gia tăng dần trong năm 1957 và 1958. Mùa thu năm 1957, chỉ riêng trong một tháng 22 hương chức và các quan chức địa phương của chính phủ miền Nam bị Việt Cộng giết hay bị thương, 6 xã trưởng bị giết. Trong quý bốn của năm 1957 xảy ra 140 vụ tấn công vũ trang hoặc khủng bố cộng với khoảng 50 vụ đụng độ giữa các lực lượng quân đội quốc gia và du kích Việt Cộng.
Trong giai đoạn này, các lực lượng Cộng Sản tập trung hoạt động tại các tỉnh miền Nam và Tây Nam đặc biệt là vùng dọc theo biên giới với Cam Bốt nơi mà địa thế rừng núi hiểm yếu dễ ẩn trốn và phục kích. Đến cuối năm 1957 sang đầu năm 1958, các vụ khủng bố đã bắt đầu lan đến các tỉnh khác ở miền Nam, ngay cả tại khu vực nông thôn chung quanh các thành phố như Tân An, Cần Thơ, Mỹ Tho, Sóc Trăng, Rạch Giá và Cà Mau.
Đây quả là xung động giết người, đột nhiên xuất hiện với những nguyên cớ như chống đường lối quốc tế cộng sản, phản bội giai cấp vô sản, chạy theo đế quốc… quả là những danh từ cùng tai họa từ đâu trên trời rớt xuống với dân tộc này… Các công dân bị mang ra bắn thường ngay trước sân nhà, hay có thể là nơi tập trung nào đó của làng. Nhân danh giải phóng con người, giải phóng dân tộc, những người cộng sản miền Bắc có những cơn khát, uống mãi vẫn không đã khát, đó là những cơn khát máu người, những ai chứng kiến hoặc là nạn nhân của những cảnh giết người man rợ này mới nhận ra sự khát máu của họ. Cái chết trở thành quá đơn giản với mỗi ai chẳng may với viên đạn nào đó từ sự nhân danh học thuyết Mác Lê, nhưng ở đây trong sự giết người của cộng sản Việt Nam, nó có sự khoái lạc – đó là điểm đặc biệt nạn nhân phải chết đi rồi không được chết, giữ cho con người còn sống trong giẫy giụa để trả thù, đến khi nào da bị thẻo ra từng miếng, tróc xương ra, có khi đã chết tự bao giờ nhưng những cán binh cộng sản vẫn chưa muốn tha trong tiếng hô hào đả đảo đế quốc Mỹ, ác ôn một cách man dại.
Trong chiến tranh những người miền Bắc còn phổ biến các toa thuốc việc nấu cao các hài nhi như một toa thuốc bổ thập toàn. Chuyện này rất phổ biến với các cán bộ cộng sản miền Bắc, nó được phổ biến khi họ vào Nam khi đất nước thống nhất, thế nhưng với hầu hết các gia đình miền Nam, đó quả là một điều kinh tởm.
Nơi đây tràn ngập ý thức u ám, nạn nhân chiến tranh vẫn còn năng lực định hướng về thời gian, không gian, về tình huống hiện hữu, nhưng người bệnh chỉ trả lời một cách chậm chạp. Nhiều người ý thức về gia đình vẫn còn mạnh mẽ, về quê hương, về nơi sinh ra và nơi gia đình vợ con đang tọa lạc, thế nhưng sự cô đơn qua nhiều năm tháng khi bị bắt buộc phải xa rời làng quê khiến họ trở nên trầm mặc, ít nói và hầu như không muốn trả lời, hoặc trả lời một cách nhát gừng hay thật chậm chạp. Nhất là trong hoàn cảnh hầu hết gia đình người Việt cả Nam Bắc trong những hoàn cảnh khác nhau đều chia ly trong nghiệt ngã.
Các cụ cao niên còn sống sót sau cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc hay những chiến binh còn sống nay trở về hậu phương, thường xuất hiện rất rõ hội chứng này: trầm mặc, ánh mắt như luôn nhìn về một cõi xa xăm nào đó, ít nói, rất chậm chạp, thỉnh thoảng chỉ hứng thú khi nói về một điểm son, hoặc nhiều nỗi đau đã trải qua. Các cụ mỗi người đều thích nói và nhớ rất rõ về một hay hai biến cố làm thay đổi đời mình trong quá khứ.
Người chiến binh miền Nam và các nạn nhân trong cuộc đấu tố ruộng đất ở miền Bắc phát biểu tâm sự có điểm giống nhau: những người kia đứng ra hành hạ hay cầm súng bắn họ đều là người Việt, nhưng họ ác sao mà ác thế, không biết từ tiền kiếp họ có gốc gác ở đâu, hành tinh nào mà nhập thể làm người trên đất Việt… Họ chứng kiến những lời van xin, những lời nói cuối cùng trước cái chết bất đắc kỳ tử và liên tưởng nếu có buổi chiều cuối cùng theo sách Khải Huyền trong ngày tận thế, không biết Đấng Tối Cao có thể hiện lòng nhân từ khác biệt, còn nơi đây, ai cũng nhân danh chính nghĩa nhưng hành xử toàn phi nghĩa.
Cho dù tuổi già nhưng với những nạn nhân này vẫn luôn ám ảnh về sự trả thù, có người đến lúc chết trong sự nhắm mắt vẫn trong những lời trối do sự trả thù mà họ phải lãnh cái chết. Thậm chí trước đó với nhiều người trong ám ảnh chết rồi vẫn chưa yên, nào còn sẽ phải bị đào mồ đào mã như đã có lời từ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: ‘Khi giặc tới...chẳng những là gia quyến của ta phải bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi, chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mã của cha mẹ ngươi cũng bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn...’ Song giờ đây nó còn kinh khủng hơn như kinh Vô Uý của nhà Phật: Không có gì tự huỷ bằng chính sự băng hoại từ bên trong. Và sự băng hoại này chính từ những người Việt rước họa vào cho dân tộc mình, với cái gọi đấu tranh giai cấp, nó không từ sự phân biệt giai tầng với Trung Quốc, Liên Xô… chẳng hạn. Nhưng với anh em trong một gia đình người Việt và phải tạo cho ra cái giai cấp cha như là địa chủ, giai cấp mẹ như là buôn bán… Họ đều bóc lột. Tất cả để có cái hận thù mà giết nhau dù anh em một nhà. Ở đây xét riêng trong sự đặc thù của mỗi dân tộc – Nó lại ngược hẳn định đề của Machiavel trong sách Quân Vương: Hãy biết tạo kẻ thù từ bên ngoài để đoàn kết bên trong.
Quả là nạn nhân các nước nhỏ không ngoài quy luật: nước này đánh nước kia, dân tộc này triệt hạ giống nòi nọ, triết lý có được giải thích trong những lý lẽ khác nhau nhưng không ngoài việc tự nguyện làm chư hầu cho tập đoàn thống trị để mang lại quyền lợi cho cá nhân cùng các quốc gia gọi là vĩ đại có gene di truyền từ Đại Hán.

***