Chương 10
Phobia, phobia…
Sự sợ hãi tạo nên bản lĩnh của dân tộc này
Con người trước lúc chết dù chỉ là một thoáng nhanh của ý thức trước khi từ giả thế giới này, họ nhớ đến người thân vợ chồng, cha mẹ, con cái trong ám ảnh nhớ lại. Ngoài ra với những nạn nhân bị thương tích do chiến tranh nhưng chưa chết, nhiều người luôn luôn phải nhớ trái với ý muốn của mình như tên họ, quê quán, tuổi của nhiều người, cũng như những thuật ngữ khác nhau. Các cụ cao niên ngoài bảy mươi có con cái chết trận, họ thường xuyên đọc lại tên, họ của mình, bao nhiêu tuổi, tên các con, tên vợ là gì... họ nhắc thường xuyên trong ám ảnh để khỏi bị mất trí nhớ... Một đôi khi có ai gọi, vì chưa thích nghi kịp nên trả lời ngay chính những điều đang nghĩ. Hoặc họ thường lần hạt vì đó là cách vừa cầu nguyện vừa khiến trí óc mình làm việc, ngoài ra có người còn tin rằng mỗi bài kinh là một sự tiễn đưa người thân siêu thoát.
Thời gian trong chiến tranh cũng nặng về yếu tố tâm lý nhiều hơn, thời gian tâm lý đến và đi theo chủ quan như cái chết và sự sống rất cận kề bên nhau. Con người trong chiến tranh hầu như không sống được với thời gian thực. Nạn nhân có thể đang vui mừng nhưng nhanh chóng biến đổi sang lo sợ, buồn khổ trong ám ảnh cảm thụ. Họ sợ và điều này đã có nhiều vô số trường hợp đã xảy ra, đó là con cái dù còn rất trẻ nhưng chết trước cha mẹ, ông bà…
Phobia, phobia… đối với người dân Việt Nam thời chiến tranh cũng như hoà bình sự sợ hãi tạo nên bản lĩnh của dân tộc này. Chính sự sợ hãi đã làm cho mỗi cá nhân trưởng thành và nhiều trường hợp ngược lại. Không ai biết rõ nó từ đâu đến, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sống bên một nước quá lớn luôn rình rập đe doạ tấn công, lòng tị hiềm ghen ghét như bẩm sinh của con người nằm nơi chính anh em mình. Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù nạn nhân biết tính chất vô lý và tìm cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại.
Ngay từ đầu sau khi quyết định chinh phục miền Nam, chính quyền Hà Nội đã tích cực can thiệp vào tình hình bên Lào, ủng hộ cho lực lượng Pathet Lào chống lại chính quyền Hoàng gia Lào. Cuộc đảo chính hụt của đại úy Khong Le và sau đó sự phản công của các lực lượng cánh hữu thân Mỹ do hoàng thân Boun Oum và tướng Phoumi Nosavan lãnh đạo đã tạo ra cơ hội cho Hà Nội can thiệp nhiều hơn vào nội tình của Lào.
Trong chiến tranh các nạn nhân sau cơn khủng hoảng suýt chết, họ thường có triệu chứng suy luận bệnh lý như luôn luôn nói về một chủ đề nhất định và thường là đi vào những cái vụn vặt, bí hiểm, xa rời thực tế, những vấn đề triết học siêu hình. Thường gặp trong tâm thần phân liệt. Họ nói về quân vương, về Nho giáo, song khi đi vào triết học không ai hiểu được họ muốn nói gì. Hoặc họ nói về một chuyến bay định mệnh nào đó họ biết được hay kinh qua trong sự hiểm nghèo. Họ thường hiểu ngược lại những gì mà người đối thoại đang nói như trở nên nghi ngờ mọi trường hợp xấu có thể xảy ra, nên luôn đặt ngược mọi vấn đề và có khi hiểu ngược lại mới yên tâm. Có khi lại hiểu khác ý chân thành của người khác khiến nhiều người bất bình nhưng thông cảm cho hoàn cảnh là nạn nhân của chiến tranh.
Rất nhiều trường hợp đi vào thế giới tư duy tự kỷ, nạn nhân thu hẹp vào thế giới tự kỷ của mình, tách rời với thực tế, luôn luôn nói đến những vấn đề của thế giới bên trong kỳ lạ của mình. Gặp trong tâm thần phân liệt. Họ nói về thế giới riêng của mình như những giấc mơ về những quần đảo thần tiên hoặc giấc mơ về thế giới tuổi thơ.
Cố vấn quân sự của Bắc Việt được thả dù xuống cùng với vũ khí và đạn dược của Liên Sô để giúp cho lực lượng của Khong Le chống lại quân đội cánh hữu. Trong khi đó các toán quân của Hà Nội được gởi sang Lào để bảo vệ cho con đường xâm nhập vào nam dọc theo triền phía tây của dẫy Trường Sơn trên đất Lào. Đó là tình hình chính trị, quân sự miền Bắc 1960-1962
Các tài liệu được chính miền Bắc tiết lộ sau 1975 cho thấy vào đầu năm 1961 Hà Nội đã gởi một số đơn vị bộ binh, pháo binh và công binh sang Lào. Các đơn vị này thuộc vào các lữ đoàn thuộc Quân Khu Tây Bắc và của Quân khu 4. Nói chung vào đầu năm 1961 có tất cả 12.000 quân Bắc Việt hiện diện tại Lào cả với tư cách là cố vấn quân sự cho các lực lượng Pathet Lào và Khong Le.
Đây là thứ hoang tưởng bị hại, phe cộng sản miền Bắc qua tư tưởng đấu tranh giai cấp luôn nghĩ rằng miền Nam đang bị bách hại, Mỹ xâm lược Việt Nam… Nhưng thật sự người miền Nam đang sống những giây phút thanh bình no ấm nhất suốt trong thời gian dài của lịch sử, mọi sự từ kiến trúc xây dựng đến đường phố đều đổi thay nhanh chóng trên Hòn ngọc Viễn Đông này. Miền Bắc luôn tạo cho chính mình những mối nghi ngờ rồi khẳng định đang có một mối thù dân tộc, kích động lòng yêu nước mà vốn trong quá trình dựng nước và giữ nước đã trở thành thứ di truyền bẩm sinh trong người Việt. Họ tạo ra thứ hình ảnh Hoa Kỳ và Đồng Minh đang mang tất cả những gì xấu xa nhất đến với dân tộc này. Ôi quả là những con người mãi ở nơi xó làng tiến vào địa đạo, xem trời bằng vung hay còn gọi là ‘ếch nằm đáy giếng’ nay được trang bị cho thứ học thuyết gọi là thần dược nên người nào cũng nhảy ra đóng vai cứu người, giống như dùng thuốc Nam mà chữa trị bệnh chó dại: hậu quả chờ đúng ba tháng mười ngày nạn nhân sủa tru như chó rồi chết.
Ngày 31 tháng giêng 1961, bộ chính trị đảng Lao Động họp tại Hà Nội và đưa ra một chỉ thị mới về chiến lược chinh phục miền Nam. Trong phần nhận định tình hình, bộ chính trị đảng Lao Động khẳng định miền Bắc đang từ từ có khả năng để tự bảo vệ cũng như là đóng vai trò căn cứ địa cho cuộc cách mạng giải phóng miền Nam. Đồng thời cách mạng tại miền Nam đang biến chuyển theo chiều hướng dẫn tới một cuộc tổng nổi dậy khiến cho khả năng tiến hành cuộc cách mạng một cách hòa bình bất bạo động không còn nữa.
Chiến lược hành động như vậy là gia tăng đấu tranh cả quân sự lẫn chính trị cho đến khi hai bên đạt tầm quan trọng ngang nhau. Căn cứ vào những khác biệt trong tương quan lực lượng tại các vùng khác nhau, chỉ thị này của bộ chính trị đảng Lao Động ra lệnh rằng tại những vùng rừng núi đấu tranh bằng quân sự được đặt nặng; tại những vùng đồng bằng đấu tranh chính trị và quân sự phải đi song song với nhau; trong khi tại các thành thị, trọng tâm phải đặt vào đấu tranh chính trị.
Từ tư duy tượng trưng đến tư duy trừu tượng, đó là loại ám ảnh không kèm theo nội dung làm cho nạn nhân lo sợ. Đó là loại suy nghĩ vẫn vơ, ám ảnh tính toán, ám ảnh suy luận, ám ảnh nhớ lại. Họ có những giấc mơ từ những tiếng nổ kinh hoàng thật gần sát với chính họ, rồi bị ám ảnh thường la lớn vào ban đêm, hoặc họ nhớ lại những sự tra tấn dã man đã phải chịu nhục hình trong thời gian hỏi cung, hoặc những trường hợp còn sống sót sau khi đạp phải mìn. Những cái xác bị phanh thây, thịt xương văng tung toé, mùi tanh của thịt bị cháy khắc cùng thuốc đạn như luôn quanh quẩn bên người họ cho dù trong đời chỉ có một lần chứng kiến.
Và nạn nhân của những kế hoạch không tưởng trong ám ảnh tính toán, họ có thể đi và đếm những cây cỏ chung quanh như những xác người đang hiện ra trước mắt, hoặc nghe đâu đó âm thanh rền vang của đại bác của bất cứ loại tiếng nổ nào, họ liền liên tưởng sẽ có người chết và đang cố đếm khoảng chừng bao nhiêu xác người. Họ có thể ở tuổi trung niên, đã già, họ thường xuyên lẩm nhẩm và đếm đi bao nhiêu bước từ cổng trại định cư này đến trại định cư kia có bao nhiêu cây cối, lá cờ, những hàng rào kẽm gai.v.v.
Ám ảnh suy luận, nạn nhân bắt buộc phải suy nghĩ vì sao xảy ra chiến tranh, chuyện gì sẽ xảy ra nếu như con người được sống trong hoà bình... các nạn nhân luôn trong ám ảnh cuộc chiến tranh này sẽ đến bao giờ mới kết thúc, với Đồng Minh rồi sẽ có một ngày họ về nước nhưng giữa người Việt với nhau trong thứ ý thức hệ ngoại lai với cha mẹ cũng là kẻ thù khi không cùng quan điểm, nên chuyện đấu tố người thân như một thái độ của cuộc sống. Một cuộc chiến không còn mang ý nghĩa giải phóng con người nhưng đã trở thành nội chiến với cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt… Những con người từ chiến khu kia, phần lớn là những thành phần bất hảo trong xã hội, bị truy nã rồi chạy vào rừng như truyện Thủy Hử với những con người từ Lương Sơn Bạc. Vậy liệu số người tốt có đủ để cầm cương với những con ngựa bất kham vốn được chiêu dụ từ những thành phần có bản chất hình sự cướp giựt rất thích hợp cho việc đánh cướp chớp nhoáng của du kích, nó lại càng thích hợp hơn khi lao mình vào đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, không tình người mà bản chất hình sự rất thích hợp trong vai trò nầy, nên đất nước rồi sẽ còn kéo dài trong chiến tranh.
Chiến lược đấu tranh đối với miền Nam này được Lê Duẩn nhấn mạnh thêm trong một lá thư gởi các lãnh đạo Cộng Sản tại miền Nam ngày 7 tháng 2, 1961. Theo Lê Duẩn, cuộc đấu tranh tại miền Nam trong thời điểm đó không thể đi theo đường lối đấu tranh của Trung Quốc, lấy nông thôn bao vây thành thị để kết thúc bằng một chiến dịch quân sự giải phóng toàn quốc mà là những cuộc nổi dậy riêng rẽ nhưng có phối hợp với mục tiêu thiết lập những căn cứ địa, nhấn mạnh đến du kích chiến và xây dựng cơ sở chuẩn bị cho một cuộc tổng nổi dậy trong giai đoạn chót. Yếu tố quan trọng nhất, theo Lê Duẩn là sử dụng đấu tranh chính trị được trợ giúp bởi đấu tranh quân sự tạo ra uy thế đối với quần chúng.
Tâm trạng buồn chán, một ấn tượng ảm đạm mơ hồ rằng thân thể đã đổi khác, như bị bỏ rơi, như mất mát một cái gì, không còn tự tin ở mình nữa. Đây là một thái độ trầm cảm trong dân chúng khi chiến tranh ngày càng leo thang và càng thêm nhiều người thân chết chóc trong hoảng loạn. Ngoài ra, trầm cảm nặng có thể đưa đến tự sát.
Các nạn nhân chịu đựng lâu dài trong áp lực của chiến tranh như con cái phải vào quân đội, vợ hay chồng chẳng may bị chết vì bom mìn hay pháo kích, họ ngày càng trở nên lầm lì, ít nói. Họ nhìn lại thân thể mình trở nên gầy mòn, già hẳn đi sau một thời gian nằm trong vùng lửa đạn... trọng lượng cũng sút đi thấy rõ nơi mỗi người, nhất là các nạn nhân có người thân ra đi liên tục sang thế giới bên kia.
Hình ảnh của những cụ ông, cụ bà trong các khu tái định cư, thật sự họ không thiếu thốn gì về lương thực, đó là điểm đặc biệt trong lúc chiến tranh và tình trạng lương thực của người dân miền Nam, hầu như không có ai bị chết đói nếu không nói là được ăn gạo ngon hơn cả thời bình – về sau này có giai đoạn gọi là kết thúc chiến tranh trong hòa bình nhưng dưới sự cai trị của Cộng sản, người dân miền Nam phải ăn bo bo. Nhưng nơi đây các cụ thường mắc các chứng trầm uất trong chiến tranh do các yếu tố ly biệt mỗi ngày như chồng chất trên dân tộc bao nhiêu cũng đồng thời với những cá nhân các công dân là nạn nhân, hậu quả của những kẻ thích làm chiến tranh. Thân hình thường co rút lại như một em bé lên mười với da bọc xương, những lúc bệnh nặng, trong cơn hấp hối, các cụ thường có biểu hiện từ tiềm thức như hai tay hay mân mê cơ thể mình, cũng như cúi người lên xuống nhìn đôi chân co rút teo hẳn lại... đôi mắt trầm buồn không nói gì cả.
Có những nạn nhân cơ thân phù lên, mặt mũi tay chân đều sưng to, khi bệnh quá nặng được chuyển đến các bệnh viện, gặp ai họ cũng chỉ vào đôi chân sưng to của mình, đôi mắt như trầm lắng cô đọng lại một cái gì đó chìm lắng những bất hạnh thật thâm sâu nầy không nói hết được.
Cũng có nhiều người do mất liên lạc với chồng con hay có tin bị mất tích ngoài chiến trường, họ luôn khóc lóc hay than vãn, buồn rầu và miệng luôn nói về chuyện tự sát, tự tử nhiều lần nhưng bị phát hiện, nên không thành. Ánh mắt thường nhìn lên như nhìn vào một cõi xa xăm trầm buồn.
Ngay các viên chức chính quyền tại địa phương phần lớn cũng trở nên trầm buồn với người dân. Hầu hết các viên chức có lý tưởng và hăng hái chống lại Cộng sản từ thời Tổng Thống Diệm đều bị ám sát, số còn lại về sau này dù có trẻ hơn nhưng cũng có thành phần thuộc trốn quân dịch do vậy tính chất quyết liệt trong cuộc chiến tự vệ của người miền Nam đã bị thụ động hóa bởi các thành phần tiêu cực như thế.
Những người này thực chất không chịu nổi cuộc sống cơ cực trong quân đội, nên họ đã cố chạy chọt để lẩn trốn vào các vai trò được miễn giảm chế độ quân dịch tại miền Nam. Họ có cuộc sống co rút hơn là hiên ngang dấn thân trong cuộc chiến chống bạo tàn. Họ bẩm thưa rất nhanh nhưng không làm gì cả trong cuộc chiến mà cần sự đoàn kết, tổng hợp từ mọi tế bào của một cơ thân đang bị mối mọt trong toàn bộ hệ thống quốc gia.
Về kế hoạch quân sự, trong bức thư, Lê Duẩn nhấn mạnh đến tầm quan trọng chiến lược của vùng Tây Nguyên. Chính từ vùng này mà phát xuất mọi cuộc tấn công vào kẻ địch. Đây cũng là một vùng quan trọng với tư cách là một căn cứ địa để xây dựng và bảo vệ các lực lượng cách mạng. Các vùng quê và châu thổ ở gần vùng Tây Nguyên này là mục tiêu chiến lược chính, trong khi các thành thị có thể để đến sau chót. Sau cùng Lê Duẩn tiết lộ rằng trong năm 1961, trung ương đảng Lao Động sẽ giúp đỡ Liên Khu 5 và Nam Bộ thành lập 12 tiểu đoàn chủ lực và cung cấp đủ cán bộ cho Nam Bộ để thành lập thêm 7 tiểu đoàn nữa. Một tuần sau lá thư của Lê Duẩn, các lực lượng du kích Việt Cộng tại miền Nam được thống nhất dưới một bộ chỉ huy chung lấy tên là “Lực Lượng Vũ Trang Giải phóng miền Nam” hay “Giải phóng quân.”
Ngày 25 tháng 2, 1961, bộ chính trị đảng Lao Động Hà Nội thông qua kế hoạch cải tổ quân sự do Quân Ủy Trung Ương và Bộ Quốc phòng đưa ra. Kế hoạch này đưa ra bốn công tác chính. Thứ nhất, tăng cường sức mạnh quân sự bảo vệ miền Bắc, thành lập binh chủng phòng không, xây dựng cơ sở để thành lập hai quân chủng không quân và hải quân và hoàn tất việc chính quy hóa và hiện đại hóa quân đội nhân dân Việt Nam. Thứ hai xây dựng lực lượng vũ trang tại miền Nam. Du kích tại các huyện được tổ chức thành từng trung đội, tại các tỉnh được tổ chức thành đại đội và tiểu đoàn. Khoảng từ 10 đến 15 trung đoàn chủ lực cũng được thành lập có cả pháo binh và phòng không để chống lại thiết giáp và máy bay của địch. Công tác thứ ba là giúp Pathet Lào huấn luyện và tổ chức lực lượng quân sự cũng như thành lập những vùng giải phóng. Các lực lượng Bắc Việt được lệnh sẵn sàng sang Lào mỗi khi có nhu cầu. Công tác thứ tư là tổ chức một hệ thống thông tin liên lạc và chỉ huy quân sự tại miền Nam Việt Nam giúp cải thiện liên lạc từ Ban Chấp hành Trung Ương đến các tỉnh, huyện và đến tận các tổ đảng trong các làng xa xôi nhất.
Vào đầu năm 1961 Bộ Tổng Tham mưu quân đội miền Bắc ra quyết định cải tổ cơ cấu hoạt động của các đơn vị để bảo đảm sẵn sàng tiến ngay vào chiến trường miền Nam và Lào ngay sau khi nhận được lệnh hành quân. Đảm trách công việc huấn luyện binh sỹ gởi vào xâm nhập miền Nam, hầu hết những người này là những cán bộ binh sỹ gốc miền Nam hoặc Liên Khu 5 ra tập kết tại miền Bắc sau hiệp định Genève.
Tiếp theo Quân ủy hội trung ương, với sự đồng ý của trung ương đảng Lao Động và đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào ra lệnh mở một chiến dịch quân sự vào khu vực chung quanh đường số 9 và vùng Nam Lào để yểm trợ cho hoạt động của các lực lượng Pathet Lào tại vùng Nam Lào.
Tuy nhiên, dưới áp lực của Liên Sô, Hà Nội không dám mở một cuộc chiến toàn diện tại miền Nam và Lào. Vào năm 1961, qua các thư gửi vào miền Nam, Lê Duẩn nhấn mạnh đến vai trò ưu tiên của việc đấu tranh chính trị và yểm trợ của đấu tranh quân sự trong tình hình tại miền Nam. Tuy nhiên Lê Duẩn cũng nhắc nhở đến nhu cầu phải xây dựng lực lượng vũ trang cho dù quan điểm của giới lãnh đạo miền Bắc không hy vọng vào một chiến thắng mau chóng và dễ dàng. Lê Duẩn nhấn mạnh rằng các cán bộ cần phải hiểu đây là một cuộc chiến đấu khó khăn và lâu dài, và tất cả mọi người đều phải chuẩn bị tâm lý cho những hy sinh và đói khổ cần thiết trong tiến trình “giải phóng miền Nam”.
Giống như hoang tưởng được yêu, các lãnh tụ miền Bắc đang làm chuyện giết người và đưa con dân miền Bắc vào chỗ chết nhưng họ vẫn nghĩ công việc mình hành động là có chính nghĩa, được ‘nhân dân ưa thích và có sự đồng tình của loài người tiến bộ trên thế giới’… Chứng hoang tưởng nầy các lãnh tụ cũng như các chức sắc tôn giáo thường đều mắc phải, họ luôn nghĩ có nhiều người ái mộ, tôn sùng mình.v.v.. Sự thật họ đang tự bịt hai mắt của những con ngựa đang chạy nhanh theo thứ dây cương của lịch sử mà lịch sử được định nghĩa cũng chỉ làm công việc ghi lại các cuộc đánh nhau.
***