Chương 8
Miền Bắc quyết định xâm lược miền Nam bằng vũ lực
Vào tháng Giêng 1959, Hà Nội tổ chức hội nghị trung ương 15, ngay sau khi Lê Duẩn đi thị sát miền Nam về. Điều quan trọng nhất mà người ta có thể xác nhận là chính trong hội nghị này, Hà Nội đã quyết định xâm lược miền Nam bằng vũ lực. Hà Nội cũng quyết định cần phải thành lập một mặt trận thống nhất bề ngoài để che giấu bộ mặt thật Cộng Sản tại miền Nam. Một chiến lược tổng nổi dậy cũng được đề ra trong hội nghị này. Nhưng để có thể có đủ sức thực hiện chiến lược thôn tính miền Nam này, Hà Nội cần phải có được sự viện trợ của các nước Cộng Sản khác, đặc biệt là của Nga và Trung Cộng. Và đó là việc họ đã làm trong những tháng sau khi nghị quyết này được đưa ra vào tháng Năm 1959.
Như vậy để tiến tới việc thôn tính miền Nam, cộng sản Hà Nội đã khoác cho mình chiếc áo hoang tưởng tự buộc tội: họ đã vu cáo cho người miền Nam dù cùng là giống nòi đủ thứ man trá như con gái miền Nam phần lớn đều làm đĩ trong sự tuyên truyền của họ, và nào miền Nam đã bán nước, phạm sai lầm, phẩm chất xấu, có nhiều tội lỗi... đáng bị trừng phạt. Trong khi đó chính Phạm Văn Đồng, Thủ tướng của miền Bắc vào thời điểm này đã bán quần đảo Hoàng Sa trên biển Đông cho Trung Quốc qua các công hàm công nhận chủ quyền của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Hoang tưởng tự buộc tội thường đưa đến ý tưởng và hành động nơi mỗi cá nhân là sự tự sát và trên bình diện quốc gia dân tộc sự diệt chủng. Bằng mọi phương tiện để đạt được mục đích và thậm chí quì gối để quan thầy Liên xô và Trung quốc ban phát viện trợ, những chuyến đi của các thành viên chính trị bộ mà đại diện là Lê Thanh Nghị đến nổi mọi người miền Bắc đều quen với hình ảnh Lê Thanh Nghị là chuyên viên lo chuyện xách cặp đi xin viện trợ của Nga Tàu, nói rõ hơn là đi xin vũ khí. Trong khi đó phe miền Nam cũng trong sự nổ lực kêu gọi Đồng minh chu cấp vũ khí để chống lại các loại súng đạn bom mìn kia. Người Việt chưa chế được loại vũ khí nào cho đến thời điểm này gọi là phát minh, nghe truyền miệng thời Vua Tự Đức có súng đại bác nhưng phải cúng mấy nồi chè súng mới nổ? Nhiều trí thức miền Bắc cũng đã thấy được cái nguy nan cho dân tộc nhưng hầu như tiếng kêu ấy chỉ trên đồng vắng, tất cả đều trôi theo con thuyền định mệnh của dân tộc mà không biết có phải cũng chính người Việt có lúc quên đi hay cố quên sự nhẫn tâm của mình với các dân tộc khác trong sự mở mang bờ cõi và cái nghiệp ấy nay con cháu phải gánh, đó là tự anh em trong nhà sinh giặc đánh nhau: hầu hết người Việt không biết và cũng không hiểu đấu tranh giai cấp là gì và thật sự dân tộc này đã có nhà máy gì đâu vào thời điểm đó mà gọi đấu tranh giữa chủ và thợ thuyền, lẹt đẹt vài nhà máy của Tây để phục vụ cho các nhu cầu của chính họ. Chắc chắn những ai quan tâm nghiên cứu Việt Nam vào thời này, những lãnh tụ miền Bắc không có người nào am tường những gì Mác viết vì rõ ràng có lãnh tụ miền Bắc nào rành rẽ tiếng Đức? Nên tất cả cũng chỉ học lại qua những bài tóm lược của từ Tàu cộng ban cho. Ngay tại miền Nam vào thời điểm đó dù rất tự do nhưng để đọc cho được bộ Tư bản luận, Lê Nin toàn tập, Tư tưởng Mác - Engels… thật sự cũng không mấy người. Đây là sự thật: chúng ta đã học đến mức chưa biết nhưng đã làm như biết thật, chúng ta muốn biến đổi thế giới nhưng thật sự dân mình không có cái ấy để biến đổi, khiến người dân cả hai miền trở thành nạn nhân của cái từ không đến có, để cho có cái biến đổi thế giới của Mác ở tận đâu đâu của một thế giới không tưởng - utopia – Từ không tưởng thật đến biến cái thật thành không tưởng, nên các lãnh tụ độc đoán thường là những kẻ điên trong hoang tưởng khiến bao người trở nên hoang dại trong sự dẫn đường của kẻ mù, nhưng người mù còn có lý trí song kẻ điên quyền bính chỉ còn lại duy nhất của lòng tham, nó là cái dục tham sân si của bạo chúa lớn nhỏ, nó thật sự vô tận, không có đáy.
Các lãnh tụ miền Bắc còn có thứ hoang tưởng nghi bệnh: những người cộng sản Việt Nam tự vẽ cho dân tộc mình đủ mọi thứ bệnh xã hội xấu xa, quả đúng là với một người bị ung thư hay bệnh trầm trọng luôn nhìn tha nhân trong ánh mắt đồng bệnh và kẻ tội lỗi đang bị truy nã cũng luôn trong ám ảnh sợ hãi, đa nghi mọi thứ: cộng sản là ung thư của xã hội. Họ đã quên đi trong cái nhìn chiến lược, đó là trong cái tích cực của trào lưu thực dân, khi người Pháp đến đây chúng ta sẽ học được những tinh hoa nhất vào thời đó; và ngay với người Mỹ sau này trong sự ngăn chặn làn sóng đỏ mà họ đến đây, thật sự chúng ta càng có cơ hội tiếp nhận một nền văn minh mới nhất của nhân loại. Như trong một gia đình có người giỏi đến dạy cho con chúng ta học hành… nhưng chúng ta lại đánh đuổi họ ra đi. Dân tộc này đã mất đi hai cơ may, chỉ còn một cơ may là chờ người từ ngoài hành tinh đến, nhưng chúng ta đều vốn bảo thủ rất cố chấp, cái cố chấp cho đến khi nào Tàu nó làm rồi mình mới chịu làm theo, có khi chệt đã chìm tàu mà không biết. Hai cơ may thành hai lần đại họa, nhưng hầu như chúng ta vẫn chưa sáng mắt ra điều gì, vẫn còn đó có khi còn hơn các Lê Chiêu Thống thuở xưa.
***
Từ cái nhìn sai lệch trong việc dẫn dân đi với các “Đội cải cách” xuống tận các thôn xóm để phát động cuộc đấu tố rất man rợ, sắt máu làm tiêu diệt mọi thành phần có tên tuổi ở địa phương. Chỉ trong có mấy năm, mà chiến dịch này đã hạ sát, bỏ tù hàng mấy trăm ngàn người, tịch thu mọi tài sản ruộng đất, nhà cửa… nạn nhân bị quy kết thuộc thành phần địa chủ. Các đội cải cách này có toàn quyền sinh sát đối với các nạn nhân, nên dân gian mới nói : “Nhất Đội, nhì Trời”, tức là họ còn có quyền thế hơn cả ông Trời nữa. Có thể nói trong lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ nông thôn Việt Nam lại bị tàn phá kinh hoàng như trong đợt cải cách ruộng đất vào giữa thập niên 50 như thế này. Đây rõ rệt là một cuộc “đại khủng bố” nhằm tiêu diệt toàn bộ hệ thống lãnh đạo xã hội dân sự tại thôn xã miền Bắc Việt Nam.
***
Các bạn Nađa dù mới ở cấp tiểu học nhưng đều thích chú lính Cộng Hòa, thuở ấy chỉ cần Hạ sĩ là oai lắm rồi, có lẽ do đệm thêm chữ ‘quan’ phía sau, nhưng thực sự họ đều ăn mặc gọn gàng ngăn nắp nói lên tính nghiêm minh kỷ luật của một xã hội công dân có tổ chức. Không ai thấy có sự biểu lộ nào các bạn ấy thích Việt cộng ngoại trừ có yếu tố gia đình hay một sự cưỡng bức từ phe miền Bắc. Người dân miền Nam nhìn thấy hình ảnh ‘bảy chú VC đu trên cành đu đủ ’ nhưng cây vẫn còn nguyên, với người Việt Nam bao giờ trên môi cũng nở nụ cười trước, không ai có ý kiến gì ngoài hình ảnh đói khát dễ sợ của con người: kẻ quá nghèo khổ, người quá giàu.
Trong các lớp học của trường đều có treo cờ Quốc Gia và hình thật trang nghiêm của Tổng Thống thời Đệ Nhất Cộng Hòa Ngô Đình Diệm. Mỗi sáng thứ Hai đều có chào cờ hát Quốc ca và chiều về lúc tan trường cùng nhau hát bài Suy tôn Ngô Tổng Thống, những ai đùa giỡn trong giờ này đều bị mất điểm hạnh kiểm. Nađa và các bạn hữu đều nghĩ ở phe bên kia cũng thế, các bạn chàng vẫn luôn nghe Thầy Cô nói đất nước mình đang bị chia đôi ngăn cách bởi dòng sông Bến Hải có chiếc cầu Hiền Lương. Nhưng rồi một cú sốc thật sự đến với chàng trai mới lớn, khi vào tháng mười một, một chín sáu ba… chỉ mấy hôm trở lại lớp sau ngày đảo chánh, hình của Ông Diệm bị lôi xuống, bị đâm vào mặt và sau một chín bảy mươi lăm, lúc này Nađa đã trưởng thành, đang dạy tại một trường Trung Học ở Sài Gòn, , cũng học sinh cấp Một và cả cấp Hai… các em mang những đồ nhơ móc trên đầu Ông Hồ… Nađa hay nghiệm vẫn vơ về cuộc đời và hiểu được phần nào trong những mạch nước ngầm của dân tộc quá nhiều khổ đau này: mỗi người, mỗi gia đình đều có quá nhiều hận thù và luôn muốn trả thù, ngay cả với những ai kêu gọi yêu thương xóa bỏ hận thù cũng sẽ trở thành kẻ thù với họ.
Những hiện tượng lạ cũng bắt đầu xuất hiện nhiều hơn trong thị trấn nhỏ đó là những người bị loạn thần kinh cấp tính, họ mỏi mệt. Họ là các công dân bị buộc đi dân công trốn thoát được và chạy ra thành phố, những năm đó chưa có cơ quan chiêu hồi của phe Quốc Gia. Họ bị cưỡng bức vào rừng, các mật khu, suốt ngày phải mang trên người các vật nặng, nên sau đó lúc nào họ cũng cảm thấy có vật nặng đè nặng trên vai. Nó luôn ám ảnh nạn nhân ngay trong giấc ngủ và cảm giác thân xác rã rượi, không còn là một cơ thân nguyên vẹn, nhưng đã rớt ra thành từng mảnh nhỏ phân tán. Họ, các công dân trong vùng xôi đậu, tức là nơi thường xuyên có giao tranh, giành giựt ban ngày thuộc phe này, đêm đến thuộc phe kia, mỗi lần nghe tiếng đạn pháo kích, tiếng bom dội về, súng nổ gần xa ... những âm thanh đó đối với họ như tiếng sét đánh, trong ám ảnh sợ hãi.
Nơi cố quận của Nađa tiếng chuông Chùa và Nhà Thờ như hòa lẫn nhau, có khi choảng nhau vì những nhịp chuông ‘vọng hồn ai’ vang lên không đồng nhất với hồi chuông Bát Nhã, nó có thể đổ lên bất cứ lúc nào theo yêu cầu của những lễ tiễn đưa người quá cố mà sự chết trận mỗi ngày về thành phố quá đông cùng số thường dân bị bom mìn, bị trúng đạn pháo kích cũng nhiều vô kể. Nơi đây vào thời này như có một sự va chạm của âm thanh hỗn mang, bức xúc: con người cố chạy tránh cái chết trong cơn hoảng loạn, những gì rung lên từ chuông nhập thế hay khát vọng xuất thế để cứu khổ, cứu nạn. Tất cả đều là sự trấn an cuối cùng trong sự tuyệt vọng vô cùng của thân phận con người.
Một người thiếu nữ cởi bỏ quần áo và chạy khắp thành phố nhỏ, không phải cô ta thất tình nhưng chạy tìm người thân, nghe nói gia đình mấy người đang quây quần đào khoai mì thì trúng phải mìn; một người phụ nữ khác lớn tuổi hơn, ăn mặc nhơ nhuốc ngồi co ro nơi một góc đường giữa thành phố, không nói năng gì cả, không ai rõ bà ăn uống làm sao và trong nhiều tháng trường như vậy, người ta cũng biết các con của bà bị đưa đi dân công và không thấy trở lại. Cũng có những trường hợp giả điên để làm tình báo cho phe miền Bắc thâm nhập vào thành phố nhưng không lâu đều bị phát hiện ngay chính tại địa phương của họ. Trước khi Ông Diệm bị lật đổ, người dân chứng kiến khắp các khu phố của Thị xã, sau buổi cơm chiều, những gia đình có thân nhân tập kết ra Bắc đều phải tập trung tại một nơi để nghe thông báo gì đó, có khi phải mang theo mùng mền và ngủ lại, tất nhiên sẽ có những chuyện trò trong đêm và hà tất đã có tình báo nằm sẵn trong đó và mọi chuyện dân gian gọi là ‘vách có tai’ nên rồi ra ai cũng biết.
Sinh hoạt của con người không ngoài sáng đi bốn chân, trưa đi bằng hai chân và chiều về với ba chân, quả nó là thế và công việc tình báo không ngoài chuyện theo những dấu chân của con người…
***