Các cuộc mít tinh cổ võ cho sự hận thù giữa hai miền luôn được nhà cầm quyền về cả hai phía cổ xúy, dân chúng phải bỏ công ăn việc làm để đi biểu tình với những cờ xí và hình chân dung các lãnh tụ đối nghịch trong sự tô vẻ mong làm sao cho đối phương mang tính dã man hung dữ xâm lược… Các đời Tổng thống Mỹ trong chiến tranh cùng các lãnh tụ miền Nam đều có hình bêu rếu tại miền Bắc và tại miền Nam hình các nhân vật Cộng sản cũng không ra hình thù con người. Quả là từ ngoài vũ trụ nhìn vào kẻ nào cũng gian ác vốn dễ dàng hơn phát kiến ra những nền tảng mang lại hòa bình cho nhân loại. Mọi dân tộc tính ra những con người gọi là anh hùng cho sự tranh giành sống còn giữa các chủng tộc vẫn nhiều hơn vô vàn các nhà khoa học về tự nhiên cũng như nhân văn. Riêng Việt Nam đến thời hậu chiến tranh ra ngõ vẫn còn gặp đầy cái gọi anh hùng giết toàn người Việt với nhau, chuyển thành tướng tá tham nhũng, hối mại quyền thế, một dân tộc gọi là có năm ngàn năm văn hiến nhưng không tìm ra một phát minh cống hiến góp phần cùng nhân loại trong sự tiến bước.
Quả là hoang tưởng với những phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế khách quan, do chứng điên tâm thần say đắm quyền lực gây ra, nhưng họ cứ cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích phê phán được. Hoang tưởng chỉ mờ nhạt hay mất đi cho đến khi nào họ rời khỏi thế gian này. Các lãnh tụ Cộng sản luôn say sưa trong tuyên truyền ‘thế giới này trở thành thiên đường trần thế, con người như thánh hiền, của cải như không khí…’ Các lãnh tụ Cộng sản đều mang tính ngạo mạn tự cho mình là Phật, là Thánh Thần…họ đứng ra để cứu dân, cứu nước. Họ luôn nhìn thế giới trong sự đồng qui độc đoán, họ giải thích cái đặc biệt, cái khác thường ấy theo lối suy đoán riêng của mình. Tất cả trong nhị nguyên luận võ đoán ‘những ai không theo ta là kẻ thù của ta’ . Đúng là một thầy tu xuất từ các nhà dòng – Staline vốn là một chủng sinh - mà cách suy luận chỉ là một, chỉ có một đàng bằng sự cầu nguyện bất bạo động, đàng khác dùng bạo lực để bắt con người phải tuân theo ‘các mệnh lệnh dưới nòng súng’.
Dân tộc đó một thời theo các tài liệu trong kế hoạch hiện đại hóa quân đội Cộng sản miền Bắc mà Tướng Giáp đề ra với sự giúp đỡ của Liên Sô và Trung Cộng dự trù vào cuối năm 1959. Điều đó có nghĩa là Hà Nội đã sẵn sàng các mầm mống chuẩn bị can thiệp quân sự xâm chiếm miền Nam. Trong bài diễn văn nhân ngày 2 tháng 9 - 1957, lãnh tụ miền Bắc đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ cơ bản vẫn là phục hồi nền kinh tế làm sao tạo ra được một cơ sở kinh tế vững chắc để bắt đầu từ năm 1958 trên một kế hoạch lâu dài thôn tính miền Nam.
Đây chính là hoang tưởng cảm thụ, nó khác với hoang tưởng suy đoán, loại hoang tưởng nầy không có lô gích, nó lệch lạc và chỉ là những ý tưởng rời rạc không liên tục, có tính chất từng mảnh. Các lãnh tụ không tham gia tích cực vào nội dung hoang tưởng như trong hoang tưởng suy đoán. Hoang tưởng cảm thụ ngay từ đầu xuất hiện đồng thời với các triệu chứng tâm thần khác: như rối loạn cảm xúc lo âu càng tăng, rối loạn tri giác kích động... Nội dung hoang tưởng có thể gắn với các sự kiện thực tế, hoặc mang tính chất hoang tưởng, nhân cách người bệnh không bị biến đổi nhiều. Cụ thể: như chuyện trồng cây vú sữa để gọi là nhớ miền Nam, quả là trong ám ảnh bởi chuyện thâu tóm miền Nam.
Đối với miền Nam, họ chủ trương phải kiên trì trong việc đấu tranh chính trị và đề nghị hai bên tổ chức tiếp xúc để chuẩn bị cho một hội nghị tham khảo về một cuộc tổng tuyển cử. Họ đề nghị hai miền Nam Bắc Việt Nam hãy sửa soạn thảo luận việc tổ chức một cuộc tổng tuyển cử, dựa trên căn bản mọi người dân có quyền bầu phiếu, bỏ phiếu kín, dưới sự giám sát của ủy hội quốc tế. Quốc Hội bầu ra sẽ chọn một chính phủ liên hiệp và sáp nhập dần dần quân đội hai miền vào với nhau. Ngày 7 tháng Ba 1958, Phạm Văn Đồng lại gởi thơ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm kêu gọi hai bên gặp gỡ để bàn vấn đề giảm thiểu quân đội và thiết lập thông thương buôn bán để tạo tiền đề cho việc dần dà thống nhất hai miền.
Đây cũng chỉ là hoang tưởng di chứng: những hoang tưởng còn sót lại sau những rối loạn tâm thần, tồn tại một thời gian nào đó với tính chất một đơn chứng cho đến lúc người bệnh phê phán được hiện tượng sai lệch nầy vì tự thân của vấn đề của lời đề nghị cũng chỉ trong một sách lược nhằm xâm chiếm miền Nam. Thật vậy tận đáy sâu của những thủ đoạn chính trị này đã bị phát hiện khi Ấn Độ, Miến Điện đã làm ngơ trước sự kêu gọi của các lãnh tụ miền Bắc.
Đáng chú ý ở đây là cả Ấn lẫn Miến, tuy rằng đều lên tiếng ủng hộ các sáng kiến hòa bình của Hà Nội vào thời điểm đó, nhưng nhất quyết từ chối không chịu lên án cả miền Nam Việt Nam lẫn Hoa Kỳ về việc bác bỏ sáng kiến hòa bình này. Phản ứng của cả Ấn Độ lẫn Miến Điện cho thấy có vẻ họ cũng có những hoài nghi về ý đồ thật sự của Hà Nội. Và hơn ai hết Mạc Tư Khoa cùng Bắc Kinh, các quan thầy của Hà Nội lại càng đi trong bụng của các hậu duệ Mác Lê.
Đó là thứ hoang tưởng đóng kịch, còn gọi là hoang tưởng đổi dạng. Người mang chứng này tri giác xung quanh như những cảnh trên sân khấu, trong phim ảnh, trong kịch trường... cùng một người nhưng khi đóng vai nầy vai khác, người nầy thay đổi vị trí cho người kia và hoàn cảnh chung quanh cũng biến đổi không ngừng. Triết gia, nhà toán học Descartes có lời ‘ra khỏi nhà là phải mang mặt nạ’, thế nhưng với các lãnh tụ cộng sản thời không chỉ có một mà nhiều mặt nạ, ngay với các bậc chân tu trong chế độ cộng sản dù không nói láo được thì giữ sự yên lặng, hà tất không thể nói thật và đó là sự khôn ngoan. Chính sự đóng kịch giữa người với người, nó như định luật muôn thuở trong các chế độ quân phiệt.
Nhưng lịch sử đã không đứng yên để chờ Cộng sản Hà Nội lớn mạnh, kể từ giữa năm 1958, chiến dịch “tố Cộng” của ông Ngô Đình Diệm đã ảnh hưởng mạnh đến tinh thần các cán bộ còn lại của Việt Cộng tại miền Nam. Một tài liệu của Bắc Việt cho biết vào cuối năm 1957 cho đến giữa năm 1958, các lực lượng nằm vùng tại miền Nam ở đồng bằng sông Cửu Long từ Gò Công cho đến bán đảo Cà Mau, tỉnh Mỹ Tho, khu vực Đồng Tháp Mười, vùng rừng U Minh, và chiến khu D đã bị tổn thất nặng vì nhiều cán bộ bị bắt hoặc bị giết, các tổ chức tự vệ ở vùng quê bị phá vỡ, lực lượng vũ trang ở các căn cứ địa kháng chiến bị tê liệt.
Trước tình thế đó, tại Hội nghị lần thứ ba Trung Ương Cục Miền Nam tổ chức dưới sự chủ trì của Nguyễn Văn Linh vào tháng Tám 1958 đã đưa ra quyết định tổ chức hai vùng căn cứ địa ở gần Sài Gòn: Chiến khu A ở phía Đông Bắc Sài Gòn trong tỉnh Thủ Dầu Một và chiến khu B bao gồm khu vực Dương Minh Châu, Tây Ninh ở phía Tây Bắc Sài Gòn. Hội nghị cũng quyết định thành lập một bộ chỉ huy quân sự Miền Đông Nam Bộ làm trung tâm chỉ huy cuộc nổi loạn vũ trang tại miền Nam. Nghị quyết này được gởi ra thông báo cho trung ương đảng tại Hà Nội.
Quả là hoang tưởng kỳ quái kéo kéo dài: loại hoang tưởng nầy có nội dung khuếch đại với tính hưng cảm. Những lãnh tụ mắc chứng này cho mình nắm quyền cai quản thế giới, lãnh đạo toàn thể địa cầu, xây dựng hạnh phúc cho tất cả mọi người, thông minh rất mực, sáng tạo các qui luật tự nhiên và các tác phẩm khoa học nghệ thuật lớn. Hoang tưởng nầy thường kèm theo cảm xúc hưng phấn, sắc thái vui vẻ và hay gặp trong hội chứng paraphremie cấp và trong bệnh liệt tiến triển.
Như Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sau hơn ba mươi năm cuộc chiến Việt Nam chấm dứt, trong một lần thăm Cu Ba vẫn còn trong ám ảnh mơ màng "Có người ví von VN, Cuba, như là Trời đất sinh ra, kẻ ở hướng Đông, người ở hướng Tây, canh giữ Hòa bình cho Thế giới, VN gác, thì Cuba ngủ, VN thức, thì Cuba nghỉ ”.
Hoang tưởng kỳ quái kéo dài có thể có nội dung phủ định với cảm xúc buồn rầu thường gọi là hội chứng Cotard, người bệnh tự cho mình mắc tội nặng nề, phải chịu một cảnh hành hình khủng khiếp, họ cho rằng tim, phổi mình bị hư hỏng cả, ruột gan thối nát, các phủ tạng biến mất. Người bệnh cho rằng nhà cửa, thành phố bị sụp đổ tan hoang, ngoại cảnh điêu tàn, tất cả những người thân đều chết và họ đau khổ triền miên. Có thể gặp trong tâm thần phân liệt. Trong sinh hoạt hằng ngày nhiều lãnh tụ thuộc loại nầy, sự hưng phấn của họ liên tục hầu như không có sự kiềm chế như khi có một nguyên nhân nào dù rất nhỏ nhất là khi đứng trước đám đông họ vừa phát biểu vừa lên tay xuống ngón, hô hào hoan hô, đả đảo. Sự hoang tưởng kỳ quái thường kéo dài với các lãnh tụ cộng sản trong trạng huống nầy và có khi kéo dài rất lâu, không ai dám can ngăn họ trong các chứng hoang tưởng mà chỉ xem đó như một nghệ thuật lôi cuốn quần chúng…
Vào mùa thu năm 1958, Đảng Ủy đảng Cộng Sản Liên Khu 5 tổ chức một hội nghị dưới sự chủ trì của Võ Chí Công về sau khi đất nước thống nhất làm đến chức Chủ tịch nước. Hội nghị quyết định tăng cường hoạt động để thành lập các căn cứ địa tại miền Tây các tỉnh đồng bằng và vùng Tây Nguyên thuộc Liên Khu 5. Một số trung đội vũ trang được thành lập. Nghị quyết của hội nghị này đưa ra nói: “Không thể chỉ trông cậy vào đấu tranh chính trị nhưng phải sử dụng hỗn hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị để tiêu diệt kẻ thù.”- Là người Việt với nhau!
Sau khi Lê Duẩn được cử làm bí thư thứ nhất của đảng Cộng Sản đã bí mật rời Hà Nội vào Nam để thị sát tình hình tại đây. Trong khi đó các đảng viên miền Nam được chỉ thị rằng đấu tranh chính trị vẫn là căn bản của cuộc cách mạng tại miền Nam. Đây là sự thể hiện của thứ hoang tưởng kỳ quái cấp: người cộng sản như đang sống trong một cảnh kỳ dị lạ lùng trong một thời gian ngắn. Họ như đang đứng giữa cuộc đấu tranh của hai phe, hai lực lượng. Thắng lợi của bên này hay bên kia phụ thuộc vào hành vi tác phong của họ. Các sự kiện đều có hai ý nghĩa, người dân đang nói chuyện với họ vừa là quần chúng vừa là gián điệp, những người chung quanh vừa tham gia vào trận xung đột, vừa là nạn nhân của trận xung đột đó, nơi họ đang đứng vừa là diễn đàn hòa bình vừa là chiến trường. Tâm trạng họ vừa sợ hãi vừa thích thú trong mộng ước hoang tưởng.
***