Những năm tháng hòa bình sau Hiệp định Genève 1954 thật ngắn ngủi, ở miền Nam người dân được hưởng một nền kinh tế bắt đầu no đủ đến phồn vinh và các công dân ở bước khởi đầu học cách thực hành nền dân chủ đa nguyên. Tuy vậy ở các vùng xa nông thôn vẫn còn trong sợ hãi qua những chiến dịch tố cộng, tiểu trừ cộng sản nằm vùng, những hầm bí mật lần lượt được khui lên do những người cộng sản miền Nam khi tập kết ra Bắc chôn dấu lại. Đặc biệt những người chống cộng quá khích, đúng ra là muốn lập công trạng với chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, thậm chí trong đêm hôm họ đã đào hầm chôn vũ khí vào trong những khuôn viên, gia đình những người bị nghi ngờ có liên quan đến phe bên kia. Như vụ chôn giấu vũ khí tại một Chùa do Hòa Thượng Viên Lý trụ trì ở Qui Nhơn là hoàn toàn bịa đặt vu khống, người ta chứng kiến Thầy đã quỳ xuống để thanh minh nói lên nổi oan này, nhưng với người làm chính trị sự kiện sẽ là nguyên cớ để buộc Thầy phải hợp tác hay ít ra là sự im lặng với chế độ mới. Từ đó những hạt mầm chống đối lại chế độ như một dòng nước ngầm ngày hình thành.
Riêng đối với miền Bắc, người dân không có một ngày hòa bình nào, họ bước vào cuộc đấu tranh giai cấp như chiến dịch cải cách ruộng đất với bao người bị mang ra đấu tố theo kiểu giết dân để giải quyết nạn nhân mãn từ Trung quốc, thậm chí ngay cả với những người giàu có, địa chủ từng nuôi dưỡng họ trong chiến tranh. Sự bất mãn ngấm dần trong dân sâu đậm trước cái quá ác, thế nhưng sẽ bớt đi mầm móng chống đối trong thời điểm đó khi sự bạo tàn đổ xuống ‘bắt lầm hơn bỏ sót’ đã giảm bớt đi những người chống đối khi có quá nhiều người nằm xuống trong sự phản kháng.
Nađa cũng như nhiều người được xem những cuốn phim của bộ phận tâm lý chiến thuộc quân đội miền Nam, vào thời đó chỉ là đen trắng, các sân vận động, Đình làng ở miền Bắc trở thành nơi đấu tố, những con người bị chôn sống chỉ lòi cái đầu lô nhô rồi các chiếc bừa do trâu bò kéo bừa càn qua đầu họ… thấy cảnh đó người xem không biết sự chịu đựng trong đau đớn của con người biết dường nào. Hầu như khi ra về ai cũng hỏi tại sao, tại sao con người lại ác với nhau đến thế, có cả những nhà nho khăn đóng áo dài trịnh trọng bị bọn cán bộ Việt cộng lôi ra tố khổ rồi chôn sống… Họ trình xác người trước nhân dân như thế.
Miền Nam tôn trọng quyền con người hơn, xã hội công dân ngày càng bước vào nền pháp trị, đó chính là kẻ hở cho đối phương nhằm tạo mâu thuẩn bên trong, cùng thái độ của những người trí thức miền Nam ở giai đoạn mới trưởng thành, phần lớn được học từ Pháp, Bỉ về nước, họ muốn tỏ ra thái độ của một trí thức: tôi đang sống không là một sự tồn tại, nhưng là hiện hữu có ý thức, có trách nhiệm với xã hội, cho dù tiếng nói có khi dội ngược lại dần tiêu tan chính mình. Một xã hội với yếu tính tự do một cách tự nhiên như bẫm sinh của con người, nó đang bị thử thách và con người quen sống theo bản chất tự nhiên, họ dễ dàng bao dung tha thứ, nó cũng là cách thế tự nhiên của con người. Nhưng kẻ ác đã vũ trang bên ngoài nhà của họ để cướp đi mọi thứ kể cả thứ chất xám đang ‘dấn thân’ tưởng chừng có ý thức một cách tự nhiên kia, nó đang vồ mọi thứ của người công chính: cái gọi Mặt trận Giải Phóng miền Nam theo kiểu Mao ở Trung quốc, một lần nữa được mang ra như một thủ đoạn lừa bịp những công dân tốt bụng, chân chất của miền Nam.
Những người dân ở thôn quê chạy ra xem những chiếc máy xay lúa, từ nay cả một làng chỉ cần một cổ máy này đủ đánh tróc vỏ lúa cho cả làng. Những cối xay truyền thống dần dần đi vào quá khứ, những đêm trăng trẩy hội giã gạo trẩy lúa vòng công, hát hò không còn nữa. Bây giờ họ dành thời gian để đến các rạp chiếu bóng xem phim… vẫn chỉ phim đen trắng vào thời điểm này. Các sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn luôn tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ, khiến mọi người đều vui không còn nghĩ đến chiến tranh là gì. Nhưng ngoài kia thật sự phe miền Bắc đã bắt đầu đưa những đoàn quân vào đánh chiếm miền Nam.
Những cuộc đấu tố ngoài miền Bắc như một tiền đề khiến người dân bị cai trị trong sợ hãi, bảo đâu nghe đó, hàng ngàn người bị buộc thôi học từ bỏ ruộng vườn vào Nam, sự sợ hãi như một đòn bẫy vĩ đại lấp vào khoảng trống vốn luôn tự hào, chất máu anh hùng của người thanh niên Việt có từ truyền thống. Họ đã vào quân đội từ sự sợ hãi đến điên loạn nên hậu quả của những cuộc thảm sát về sau như Mậu Thân là chuyện tất yếu.
Những vết đau như người con gái đầy nhan sắc, một tiểu thư sau khi cha mẹ bị đấu tố chết chỉ còn biết vất vưởng ra đường hay lang thang trên những bờ ruộng tìm những củ khoai mót lại đem lùi sống qua ngày, may mà gặp người lính văn công từng được cha mẹ cô nuôi nấng cất giấu trong nhà thấy vậy, đã mang cô về nuôi và về sau cưới thành vợ. Người vợ hiền tần tảo của nhà thơ Hữu Loan sau này. Biết bao nhiêu con người như người thiếu nữ này, nếu không tìm được cơ hội để nuôi ý chí họ sẽ dễ trở điên loạn thuộc những hội chứng tâm thần khác nhau. Chuyện giết người ở miền Bắc nó không chỉ đơn thuần như người lính miền Nam kia vì ghen tương dù hành vi của anh ta thuộc loại điên loạn bất bình thường. Còn sự giết người ở miền Bắc Việt Nam là do cả một tập đoàn thống trị cấu kết với Nga Tàu mang cả thứ học thuyết cùng vũ khí để tạo chính nghĩa trên bạo lực trong một cuộc chiến diệt chủng.
Những người dân thẫn thờ, những con người sống trong một chế độ mà cái miệng ngày càng nhô ra do sự thiếu thốn chịu đựng trong đói khổ, sau 1975 những người Bắc vào Nam, mọi người đều thấy sự nghèo nàn đói khát đó với cái gì cũng muốn mang về miền Bắc. Mãi đến nhiều thập kỷ sau cái hàm răng hô như biểu tượng của nghèo nàn và đói khát mới dần biến nhờ vào sự giàu có của miền Nam mà họ dày công chiếm đoạt.
Những hồi chuông từ các Thánh đường vang vọng Lễ cầu hồn, tiếng tụng kinh gõ mỏ cầu cho các linh hồn siêu thoát dần tràn ngập khắp nơi. Nhiều lệnh động viên trên toàn miền Nam từng đợt được công bố, một sự thức tỉnh của mọi người mạnh mẽ hơn khi tiếng đại bác ngày đêm dội về thành phố và các cố vấn quân sự Mỹ bắt đầu xuất hiện tại miền Nam Việt Nam
***