TÂM LÝ THẦN KINH CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Nguyễn Quang

Chương hai

Tất cả đều buồn phải rời khỏi đồng quê
và mong có một ngày yên bình sẽ trở lại


 

Các triệu chứng tâm thần rất phong phú và đa dạng, nhiều triệu chứng riêng biệt kết hợp với nhau thành hội chứng. Sự hiểu biết về lâm sàng các bệnh tâm thần bắt đầu bằng sự nghiên cứu các triệu chứng và hội chứng. Đặc điểm của các triệu chứng và hội chứng tâm thần luôn luôn biến đổi và có những nét riêng tùy theo bệnh và các giai đoạn của bệnh. Nó là một sự tổng hợp theo thời gian, đặc điểm ngôn ngữ, lứa tuổi, tầng lớp xã hội, địa phương dân tộc.
Các triệu chứng dương tính như ảo giác, hoang tưởng thể hiện những biến đổi bệnh lý phong phú, đa dạng trong hoạt động tâm thần. Các triệu chứng âm tính tiến triển từ từ, chậm chạp nhưng làm biến đổi nhân cách người bệnh ngày càng trầm trọng. Các triệu chứng dương tính tuy thể hiện rõ ràng, mạnh mẽ nhưng có khi chỉ là tạm thời và mất đi không để lại dấu vết gì. Qua các triệu chứng âm và dương tính, ta có thể tiên lượng một phần nào sự tiến triển của bệnh. Triệu chứng âm tính càng nặng càng khó khôi phục.
Vào một ngày không yên tĩnh khi bắt đầu cuộc chiến, Nađa cùng gia đình lên những chiếc xe ngựa với hành lý di chuyển về tỉnh lỵ gọi là vùng quốc gia an toàn, một vùng gần sâu trong núi hẻo lánh nơi ẩn thân một thời của con cháu những người theo cần vương chống Pháp. Cậu bé chỉ tiếc nhất những chú chim không mang theo hết, chỉ được mang theo những con hót thật hay và biết nói như nhồng, cưỡng… Khi vào đời chàng mới thật sự hiểu những kẻ nói hay như sáo chẳng có nội dung tích sự gì nhưng lại nhiều khi ru ngủ được nhân loại. Tiếng chân vó ngựa thót lên trên con đường đá, người thân của chàng và gia nhân không ai nói một lời. Tất cả đều buồn phải rời khỏi đồng quê và mong có một ngày yên bình sẽ trở lại. Người dân làng ra vẫy chào những người ‘di tản’ đầu tiên, không mấy năm sau những người láng giềng thôn dã năm xưa đều gặp nhau tại thị trấn của một tỉnh lẻ. Họ được tái định cư trong những chiến dịch bình định nông thôn vào thời điểm chiến tranh leo thang khốc liệt.
Nhiều người phụ nữ và cả đàn ông đứng ngơ ngáo bên đường, không phải họ tiễn đưa gia đình chàng nhưng họ đang trố mắt tìm người thân, Nađa có nhận xét người điên nào cũng nói nhiều, họ hát ca dao, tục ngữ, nói ví nói lái và rất ít người điên giữ im lặng trừ khi quá nặng họ trầm uất hoặc phá phách.
Một người phụ nữ dân làng rất quen thuộc, bà có con bị phe miền Bắc dẫn đi và mất tích từ đó, bà nói trông những chiếc xe ngựa như những cổ xe chở các linh hồn vào Thiên đường, hãy cho bà quá giang cùng và những chiếc xe ngựa thồ kéo này cũng có thể là những cuộc hành trình xuống địa ngục để tìm những ai đã giết con bà.
Một người đàn ông quần áo tả tơi mang một túi xách, ông nói một loạt những chữ vô mà vào tuổi đó Nađa chỉ biết cười vui với ngôn ngữ của người điên: vô thường, vô thưởng, vô âm, hư vô… cứ thế mà lập lại, suýt nữa ông bị ngựa đá vì miệng nói vô mà không chừng nhào tới cái có…
Vài em bé trạc tuổi top ten thì la lớn và chạy theo hàng loạt hét thật to ‘xin theo, xin theo… xin thề, xin thề…’  Lúc ấy thật sự chàng không biết chuyện gì sẽ xảy ra, chỉ thấy vài gia nhân tráng kiện cho dừng ngựa và khuyên họ nên về: họ càng la lớn hơn: muốn chúng tôi vào rừng hả, còn đi lính quốc gia thì chưa đến tuổi, các người muốn gì… những người bảo vệ không nói lời nào, chỉ khuyên răng, an ủi họ. Bây giờ đã qua cái tuổi vào đời thưở ấy, Nađa thật hiểu tại sao có những người đã lạm dụng nhiệt huyết của tuổi trẻ để làm chiến tranh vì tự thân yếu tố sinh tồn ‘ưu thắng liệt bại’ đã bẩm sinh nơi mỗi mầm sống của cá nhân.
Từ ngôi trường của tỉnh lỵ nhỏ, Nađa cùng các bạn chứng kiến những chiếc xe quân đội chạy nhiều hơn ra vào thành phố, trên bầu trời cũng thường xuyên xuất hiện những chiếc L19 bay lượn suốt ngày để quan sát tuần tra vành đai thị trấn. Ban đêm thỉnh thoảng có nghe đôi tiếng đại bác vọng về với vài loạt súng lẻ tẻ, nghĩa là mọi thứ xem chừng vẫn còn an bình, cuộc chiến chỉ mới bắt đầu chính yếu là thành phần Việt cộng nằm vùng ở lại miền Nam sau khi đất nước chia phân với Hiệp định Genève 1954, họ hoạt động còn cục bộ của chiến tranh du kích dưới sự chỉ đạo về đường lối của phe miền Bắc.
            Và thật sự ở miền Bắc Việt Nam, vấn đề chinh phục miền Nam đầu tiên được đưa ra vào năm 1956 sau khi chính quyền Đệ Nhất Cộng Hòa từ chối không chịu hiệp thương tiến tới tổng tuyển cử. Phản ứng với quyết định này, Trung Ương Cục Miền Nam của Cộng Sản dưới sự lãnh đạo của Lê Duẩn đã  đưa ra một kế hoạch 14 điểm gởi ra miền Bắc đề nghị tổ chức những hoạt động vũ trang nhằm yểm trợ cho các hoạt động khác ở miền Nam.
Lê Duẩn yêu cầu tổ chức những căn cứ quân sự một cách chính quy hơn tại các liên khu. Cao Miên được coi như là có một vị trí chiến lược then chốt và yêu cầu Hà Nội trợ giúp về tài chánh và nhân sự để giúp đỡ Cộng Sản Cao Miên thiết lập một chiến khu an toàn như một hậu cứ yểm trợ cho cuộc nổi dậy tại miền Nam.
Giới lãnh đạo Hà Nội đưa ra thảo luận đề nghị này nhưng bị bác bỏ vì biết rằng không có sự hỗ trợ của Liên Sô và Trung Cộng, họ không đủ mạnh để có thể thực hiện được việc thôn tính miền Nam bằng vũ lực. Chính sách xét lại của Krushchev cụ thể trong cuộc gặp gỡ với Eisenhower năm 1956 với chủ đề ‘sống chung hòa bình’ đã gây ra những tranh cãi sôi nổi tại hội nghị trung ương Cộng sản Hà Nội vào lúc này. Tuy nhiên vì biết rằng cần phải trông cậy vào sự yểm trợ chính trị và kinh tế của Moscow để tái thiết miền Bắc, giới lãnh đạo Hà Nội đã cắn răng chấp nhận đường lối của Moscow và các chỉ thị gởi cho các cán bộ còn nằm vùng tại miền Nam phải ngưng các hoạt động vũ trang và tập trung vào đấu tranh hòa bình.
Trong khi đó tại miền Nam, Lê Duẩn đã viết xong đề án “Đường Lối Cách Mạng Miền Nam” chủ trương muốn chiến thắng tại miền Nam phải dùng đường lối bạo động. Đề án này được trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam đem ra thảo luận và chấp thuận trong hội nghị trung ương lần thứ 11 vào tháng 12, 1956. Đó chính là lúc bắt đầu các cố gắng của Cộng Sản Việt Nam nhằm chiếm miền Nam bằng vũ lực.
Vào cuối năm 1956, tiếp sau hội nghị trung ương 11 ở Hà Nội, Trung Ương Cục Miền Nam của Việt Cộng lại họp hội nghị lần thứ 2 dưới sự chủ trì của Lê Duẩn và Nguyễn Văn Linh. Hội nghị này quyết định, mặc dầu chưa đến lúc phát động phong trào tổng khởi nghĩa, nhưng vì “nhu cầu cách mạng miền Nam, cần phải tổ chức những đơn vị vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền để yểm trợ cho việc đấu tranh chính trị cũng như để làm nền tảng cho cuộc cách mạng bạo động sau này”. Thế là vô vàn những đau thương từ sự ám sát, giết hại diễn ra sau đó. Những căn cứ địa được thành lập ở vùng rừng núi miền Đông Nam bộ, tại Đồng Tháp Mười và vùng U Minh. Đặc biệt những toán ám sát được thành lập trên khắp nơi mọi miền đất nước để thanh toán các viên chức làng xã của chính quyền miền Nam, tiến trình xâm lược miền Nam đã chính thức bắt đầu.
Các chú bé vẫn còn nhỡn nhơ vui đùa trong một thế giới thật sự ngoài kia chỉ cần các em đủ tuổi hơn mười một chút….người ta sẵn sàng để giao vũ khí .

***