Chương một
Sân vận động nơi trình xác người.
Khi Nađa lên sáu tuổi, khoảng thời gian 1959, tại làng Mỹ Thạnh, miền Trung Việt Nam, hai thanh niên còn rất trẻ gọi là Việt cộng, ban đêm họ bò về làng để thăm người thân, kiếm lương thực hay ám sát những người theo phe miền Nam… Cả hai trong đêm hôm ấy bị quân dân miền Nam phục kích và bắn chết. Chú bé tò mò theo cha ra tận sân vận động của làng, nơi những cái xác thường xuyên được mang đến trình làng như một sự răn đe ‘chớ có theo bọn Việt gian Cộng sản nhé’.
Trên thân người họ mỗi người chỉ có một cái quần lửng với khẩu súng trường cùng vài băng đạn, chắc họ như Nađa vào lúc ấy không biết ông Mác là ai, cũng không thuộc câu kinh điển ‘nếu có mất thì chỉ mất cái quần lót’ như vị tiên tri này dạy. Nhưng Nađa tin và có ý nghĩ trong đầu vào lúc đó: tất cả chắc chắn đều có yếu tố dân tộc. Chàng không còn thấy tội ác của họ như những người dân làng chung quanh đang bàn luận. Cậu bé chỉ thấy hai cái xác bị nhiều viên đạn súng trường trúng ngay màng tang vào trong não. Họ được nhận diện con nhà ai, nhưng không gia đình nào dám nhận, một Cư sĩ Phật giáo tu tại gia, mỗi tháng đến Chùa cũng vừa là Đình Làng chừng vài lần cúng kiến, trong chiếc áo già lam, ông đứng ra tẩm liệm quấn vải rồi họ lấy ngân quỹ của làng mua những chiếc hòm đơn sơ và chôn trong nghĩa trang làng.
Câu chuyện với cái chết trở thành câu chuyện thường ngày như người dân Nhật theo huyền thoại mỗi sáng thức dậy đều quay mặt nhìn về đỉnh núi Phú Sĩ để nuôi ý chí, người dân quê ở đây nghĩ về sân vận động của làng trong một thời tao loạn, nơi trình xác người. Các thanh niên thiếu nữ trong làng hoặc gia nhập quân đội Quốc Gia miền Nam hay tham gia Thanh Niên Cộng Hòa, thỉnh thoảng cũng có người hy sinh và việc chôn cất dù chỉ là một người chiến sĩ bình thường cũng thật long trọng, những đội kèn trống từ đâu ngoài tỉnh lỵ vào thổi lên những khúc nhạc bi ai cũng như oai hùng.
Khi những cuộc trình làng về xác người ngày càng nhiều về cả hai phía, hệ quả liên lụy thanh niên trong làng vắng đi. Những người phụ nữ trẻ cũng như già nhiều hơn thành những người thẫn thờ lang thang trong làng. Họ là những người bắt đầu điên hay đã bị tâm thần nặng. Ngôi làng đã không còn yên tĩnh khi những giòng nước ngầm đầy sự sợ hãi, đau thương và mất mát, nó bắt đầu tuôn chảy ra bên ngoài.
Ngôi làng đã trở thành mô hình ấp chiến lược gương mẫu, trong một lần kinh lý Ông Ngô Đình Nhu đã về đây, chính quyền địa phương đã tổ chức đón tiếp thật long trọng, các bô lão đều mặc áo dài, đầu đội khăn đóng theo kiểu truyền thống, có đại diện bô lão lên đọc lời chúc mừng, dù nhỏ nhưng theo chân người lớn, Nađa cố đến sát gần khán đài mà không sợ hãi để nhìn cho thấy mặt Ông Cố vấn – em của một Vị Tổng Thống, trong đầu cậu bé còn quá nhỏ chưa đủ từ để nghĩ ra chữ bào đệ lúc đó. Nađa thấy Ông Nhu ngồi trên khán đài nhưng mắt hay nhìn xuống như Ông không muốn nhìn ai, con người như luôn tư lự điều gì. Ông có phát biểu nhưng Nađa không nghe rõ Ông nói cái gì ngoài chống Cộng, chống Cộng… Từ Kinh thành Huế vào xứ Quảng không xa, nơi đây cũng có người làm đến quan Đại thần là chuyện thường, kể cả như Trương Đăng Quế đến Tể Tướng, nhưng hình ảnh Ông Nhu được tuyên truyền vào lúc ấy như một Vị Thần, tài năng chỉ thua Đức Chúa Trời. Cậu bé nhìn ông và nhớ hình ảnh của người bị lê xác cũng tại nơi này dưới chân Ông, cũng như nơi khán đài của làng này nơi diễn ra những đám tang của những thanh niên trong làng đã hy sinh vì chính nghĩa Tự Do. Đây quả là dịp đặc biệt đối với người dân xứ này và họ cũng chỉ được gặp Ông Cố vấn một lần trực tiếp cho đến ngày hình ảnh Ông và Tổng Thống Diệm bị sát hại dã man trên xe thiết giáp. Trên đường về sau buổi mít tinh, Nađa và các bạn hữu nghe được từ những lời xầm xì trong dân chúng: Ông Lão đại diện làng đọc diễn văn chào mừng hôm nay là người có con cái đều tập kết ra miền Bắc… Họ không dám nói lớn, cười lớn mà chỉ tủm tỉm cười như nói khẻ cho nhau nghe như vậy.
Nhiều dân thường trong vùng tranh chấp, họ bị tình nghi theo phe này phe kia, không bị bên này bắt cũng bị bên kia truy vấn, có người vì không theo ai cả mà bị đánh đập, bị đấu tố khi đào thoát bị bắt trở lại, do bị đánh đập trọng thương đến hậu quả cơ quan bài tiết không kiềm chế được nữa, cũng như trong giao tiếp chỉ trả lời: -ừ.. hử... trước sự nhắc nhở của người khác về vấn đề gì đó, thậm chí các dân quân trong làng phải nhấc hông lên đưa họ về nhà. Khi thân tàn ma dại cũng không ai dòm ngó và có lẽ lúc đó cả hai phe mới chịu tha cho họ.
Nhiều người phụ nữ còn rất trẻ, trước sự ngỡ ngàng của người chồng, người con ra đi một cách bức tử, họ đã chạy rong khắp làng như có điện giựt trong óc, ruột gan bị cấu xé, khó chịu toàn thân… Khi chàng lớn lên nhờ tìm hiểu triết học có giáo trình về tâm phân học mới hiểu đó là những trường hợp loạn cảm giác bản thể - cenestopathia.
Hầu hết những người do phe miền Bắc dẫn đi hầu như không có ngày trở lại, những người bị phe miền Nam giam giữ thì cũng ngơ ngác khi trở về. Các công dân có con em từ miền quê ra thành phố học, họ thường bị qui kết liên lạc với bên Quốc gia, còn bên Quốc gia tình nghi liên lạc với du kích địa phương, nên bị bên Quốc gia giam giữ. Cụ thể công dân Nguyễn văn Tụ, xã Nghĩa Lâm, bị bắt năm 22 tuổi, có người em từ nông thôn ra thị xã học và bên nào cũng nghi ngờ gia đình này, anh bị bên Quốc gia giam giữ sáu tháng, khi trở về bị khủng hoảng, lúc nào anh cũng chắp miệng than có cái gì làm anh nóng ran trong người, nhức nhối như kim chích khắp toàn thân. Đây là một gia đình Thiên Chúa giáo, về sau cả gia đình tan tác, kẻ bị chết vì bom mìn, người mất trí, gia đình ly tán. Sau chiến tranh có người còn sống sót nhưng trong các chứng tâm thần như thờ thẫn, hoảng sợ…
Nhiều người đột quỵ do con cái rơi vào tình trạng oan khiên như vậy, dân trong làng gọi họ bị trúng gió, thường kèm theo các biến chứng bán thân bất toại, lúc nào cũng kêu đau nhức toàn thân, điện giựt trong đầu và kêu than: chết, chết thường xuyên.
Và dân làng bị chứng tri giác sai lầm về các đối tượng có thật trong thực tế khách quan, mỗi khi nghe tiếng chó sủa, cây cỏ quanh vườn xào xạc tưởng là Việt cộng về làng; tiếng động cơ máy bay nghĩ rằng sắp bị ném bom, tiếng xe tăng thiết giáp tưởng sắp có hành quân…và ai cũng trong hoang mang lo sợ về sự chết chóc nếu không cho mình cũng đến với người khác.
Con người chuyển hoá môi trường sống, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của môi trường này. Bệnh tâm thần cũng là bệnh do các nhân tố có hại của môi trường sống gây ra như điều kiện vật chất, làm việc không tốt, tệ nạn xã hội, sự tha hoá của chế độ.
Bệnh tâm thần phát sinh không phải chỉ do một nguyên tố gây ra, mà lệ thuộc vào các yếu tố khác nữa như: sức khoẻ toàn thân giới tính, tuổi tác, đặc điểm nhân cách, loại hình thần kinh. Những nhân tố không thuận lợi nầy tạo điều kiện cho sự phát sinh các bệnh tâm thần. Đó là hậu quả của sự tác động qua lại rất phức tạp giữa các yếu tố bên ngoài và các nhân tố nội sinh.
Hoạt động tâm thần thông qua não bộ, bệnh tâm thần phát sinh do những nguyên nhân trực tiếp làm tổn thương tổ chức não hoặc làm trở ngại hoạt động của não.
Cơ thể và tâm thần là một khối thống nhất. Não bộ và các cơ quan nội tạng, nội tiết... hoạt động trong một mối liên quan mật thiết với nhau. Các bệnh nội tạng, nội tiết đều gây ra các rối loạn tâm thần ở mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Bà Lê thị Soi, thuộc thôn An Mỹ, xã Nghĩa Thắng, Quận Tư Nghĩa, bà không còn muốn đi tránh đạn nữa, khi vùng này nay phe bên này, mai mốt phe bên kia, nhất là những lúc giao tranh. Một ngày kia bà chết vì tuổi già, chiếc quan tài bằng tre nứa đơn sơ đặt trước nhà bị máy bay ném bom, cái xác cùng áo quan văng ra tung tóe. Dân làng chạy đến vào lúc họ tin là không có đánh nhau và lấp vội người đàn bà xấu số không chết trong chiến tranh nhưng tan xác khi chuẩn bị được nằm yên vĩnh viễn. Các con cái của bà vẫn bình chân như vại, xem mọi việc đang xảy ra như không có gì xảy ra trên đất nước này: chiến tranh nó là như vậy. Với người dân Việt thấy đánh nhau biết là chiến tranh và trở lại với chính mình có chút yên bình đó là hòa bình.
***