Từ chú khỉ Darwin đến con khỉ Bìn Nin
Nguyễn Liệu
Năm tôi học lớp Năm ( tức lớp đầu tiên) trường làng, năm1938-39, thầy tôi, cụ tú Lê, tú tài nho học, nhân giảng cho chúng tôi câu tục ngữ “ Bắt chước như khỉ” thầy nói đến chuyện khỉ Bìn nin.
Thầy bảo ở quả núi Bìn nin có một giống khỉ toàn màu xám tro. Chính loài khỉ cư trú ở ngọn núi này làm cho đoạn đường tỉnh lộ dưới chân núi vắng vẻ, người cẩn thận họ rẽ tránh khúc đường này nhất là đàn bà con gái, nếu không thì đành chờ có người qua lại đi theo, để tránh bọn khỉ nó hành hung, có khi nó làm xấu hổ.
Một hôm, vào một trưa hè nắng gắt, có người gánh một gánh quạt qua đoạn đường đó để lên bán cho người miền núi. Dọc đường dưới chân núi cây rậm rạp bóng mát, người bán quạt dừng lại nghỉ trưa. Gió im phăng phắt, nóng hừng hực dù dưới tàng cây cổ thụ, người bán quạt quấn thuốc lá hút và lấy một cây quạt phe phẩy cho bớt nóng. Trông có vẻ nhàn hạ yên tịnh. Bầu trời trong vắt không một gợn mây.
Ruộng hai bên đường nứt nẻ phơi lên những vừng đất trắng xoá, làm cho người bán quạt phải nheo mắt để tránh những tia nắng như chăm chăm chiếu thẳng vào mặt. Con đường qua chân núi thẳng tắp chạy về hướng Tây không một bóng người qua lại. Dưới cái nắng như thiu như đốt, vạn vật như ngừng hẳn, như một cảnh chết.
Trong lúc gần thiu thiu ngủ, bỗng từng loạt từng loạt tiếng ré thất thanh như tiếng trẻ con la hét từ đâu đổ ào tới. Người bán quạt giật mình mở mắt, một bầy khỉ đủ cỡ từ trong các lùm cây trên sường núi ào ạt tuông xuống chỗ anh ngồi. Vừa chạy vừa ré, cả bầy có những con khỉ con chạy không kịp, khỉ mẹ phải chậm lại để chờ. Người bán quạt hoảng hốt không biết phải làm gì, thất thần co rút người phản ứng tự vệ trong phút nguy cập. Bầy khỉ chen lấn hai giỏ đựng đầy quạt của anh nắm chặt những cây quạt chạy lên núi. Những con khỉ chậm chân không còn một cây quạt nào ré thét lớn rồi chạy tiếp theo đồng bọn trở về tàng cây trên sường đồi. Nhanh quá, người bán quạt hoàn hồn chỉ kịp đứng dậy thì hai giỏ quạt không còn một cây. Tiếng ré của loài khỉ nhỏ dần rồi im lặng trả lại cho canh trưa tịch mịch miền núi rừng.
Người bán quạt dựng hai chiếc giỏ đứng ngay lại, anh ta khóc lúc nào không biết. Lửa tháng Năm hừng hực, anh đứng thẳng người nhìn lên sườn núi căm hờn tức tối nhưng không thấy tăm dạng một bóng khỉ nào. Cái khó khăn đầu tiên đến với anh là chiều nay về nhà làm sao nói cho vợ anh tin những chuyện kỳ lạ khó tin như thế này.
Anh có vợ được ba năm chưa có con. Vợ anh do người cô ruột làm mai dong, lớn hơn anh năm tuổi. Người vợ thấy anh ốm yếu không thích hợp làm việc nặng nhọc nắng non ở đồng quê, bằng dành dụm nhịn ăn nhịn mặc góp vốn cho anh buôn bán quạt. Vợ anh dẫn anh qua dinh Bà, nơi thiêng liêng dân làng sùng bái bên kia sông, để xin cây xăm. Thầy bàn rằng phải xuất hành hướng Tây, cấm kỵ hướng Bắc và Nam, ngày mồng chín là tốt nhất. Theo lời thầy anh gánh gánh quạt về hướng Tây lên ngã Ba Gia Đồng Ké.
Người vợ đưa anh ra ngoài làng còn căn dặn anh được đồng tiền nào liền bỏ trong túi trong quần và ghiêm kỹ lại coi chừng bọn bất lương bọn móc túi. Còn dặn nữa, thấy bọn bầu cua cá cọp, bọn xỏ ngoe, bọn vãi bài ba lá, bài ông Tiên, bọn cờ tàn dọc đường, đừng bao giờ dừng lại xem thử.
Anh gánh đôi giỏ không, vừa khóc vừa chầm chậm quay về làng, không biết phải nói làm sao cho vợ tin. Đoàn người đi ngược hướng anh, một cụ già dừng lại hỏi tại sao khóc. Anh thuật lại hết đầu đuôi và không biết phải nói gì cho vợ anh tin anh. Cụ già nói nhỏ vào tai anh một kế, dặn đi dặn lại nhiều lần cho anh hiểu rõ, rồi cụ mỉm cười đi tiếp.
Chờ cụ già đi khuất xa chân núi, anh trở lại nơi anh đã bị mất quạt. Trời nắng chang chang, canh trưa như thiu như đốt, không một chút gió, không một bóng người, hoàn toàn yên tịnh. Đặt hai chiếc giỏ ngay chỗ cũ, anh đi qua đi lại nhiều lần, cầm cây quạt sè ra quạt vào người rồi xếp cây quạt lại ném vào giỏ. Anh làm chưa đến mười lần như lời dặn bỗng những tiếng rào rào như có ai từ trên núi chạy xuống tiếp theo những tiếng ré tiếng hét như lúc nảy, bầy khỉ tấp nập tuông xuống đường ném những cây quạt vào hai giỏ của anh. Chạy tránh không kịp, anh ngồi xuống hốt hoảng. Khi vắng bóng khỉ rồi, anh vội vã gánh hai chiếc giỏ, chạy bán sống bán chết xa chân núi Bìn Nin.
Kể đến đây thầy Tú cười, thêm câu kết : “ Người ta bảo bắt chước như khỉ là vậy đó”.Thấy chúng tôi ngơ ngáo có vẻ không hiểu, thầy Tú giảng thêm, ban đầu khỉ nó bắt chước anh bán quạt lấy cây quạt quạt cho mát, sau đó khỉ cũng bắt chước anh bán quạt xếp cây quạt bỏ vào giỏ. Thì ra là vậy !
Bỗng dưng thấy tú Lê buồn buồn nói nho nhỏ : “ Thế mà loài khỉ ấy bị tiêu diệt, bị mất giống.” Bầy khỉ dần dần thưa dần. Ban đầu quan bảo hộ người Tây nghi rằng dân quanh vùng gài bẫy hoặc săn loài khỉ này để ăn thịt. Nhưng người ta lại bảo thịt khỉ có lẽ vì giống thịt người, nên tanh lắm không ăn được, và cũng không ai nỡ thất đức làm thịt con khỉ. Tuy vậy ông quan một người Tây đóng đồn ở Phước Lộc, đóng bảng niêm yết dưới chân núi, có dấu đỏ của quan tri huyện, cụ nghè Hà Lam, cấm ngặt dân chúng không được săn bắn gài bẫy hay đánh suốt giống khỉ quí này. Thế nhưng giống khỉ này cũng đi đến chỗ diệt chủng. Sau đó người ta cho biết sở dĩ loại khỉ Bìn Nin mất tiệt vì đặc biệt loài động vật này có lòng thương thiết tha đồng loại. Mỗi khi một con khỉ bị thương tích máu đổ, thì ban đầu là khỉ mẹ khỉ con khỉ cùng một gia đình buồn bã viếng thăm vừa rên rỉ lo lắng vừa bới xem vết thương, nên máu không đông lại được, cứ đều đều chảy. Thế rồi trong vài ngày khỉ bị thương không còn máu trong cơ thể nữa nên phải chết. Trong cuộc kiếm ăn hàng ngày khỉ thường bị thương và bị thương được khỉ đồng bọn thăm viếng sờ mó phanh phui vết thương và máu chảy cạn và chết. Cứ thế năm qua tháng lại bầy khỉ thưa dần rồi đi đến chỗ bị tiêu diệt.
Thầy tú Lê kết luận : “ Loài khỉ Bìn Nin vì quá thương với nhau mà cùng bị tiêu diệt, thầy nói thêm, cho nên ở đời cũng đừng thái quá có hại.”
Nghe đến đây chúng tôi hoàn toàn không hiểu gì hết, nhưng không dám xin thầy giảng lại.
Mười ba năm sau. Phải, đúng mười ba năm, tôi lên học trung học. Được học môn “ tự nhiên học” của thầy tú Trần. Thầy đậu tú tài Tây, lại là tú tài triết lý. Chúng tôi không biết triết lý là cái gì, chỉ nghe nói biết triết lý là biết tất cả, cái gì cũng biết, cũng giảng giải được. Cho nên lúc bấy giờ chúng tôi phục thầy tú Trần hơn tất cả những thầy khác. Mà thực vậy, thầy người mảnh khảnh, nước da trắng xanh, vẻ mặt nghiêm nghị, cặp mắt lúc nào cũng như đăm chiêu vào một thế giới huyền ảo xa xăm khác thế giới chúng tôi đang sống. Thầy thường mặt “ bộ đồ vết” sạch sẽ, đội nón nỉ phía trước kéo hơi sụp xuống gần che khuất cặp mắt tinh anh. Không hút thuốc, ít nói chuyện, không cười đùa, bước đi những bước đều đặn, khoan thai, chậm rãi, và không để ý đến chúng quanh, nên học sinh hai bên đường ngã nón chào thầy, nhưng thầy vẫn không hay biết.
Một hôm thầy giảng thuyết “ biến hóa” của nhà bác học Darwin. Chúng tôi ngạc nhiên đến choáng váng khi biết thủy tổ của con người là con khỉ. Thầy giảng rất nhiều có khi đọc cả một đoạn dài tiếng Pháp rồi dịch cho chúng tôi nghe. Thầy hỏi có hiểu không chúng tôi rập ràng trả lời hiểu nhưng thực sự tôi không hiểu gì hết về cái thuyết kỳ lạ của nhà bác học đại tài này.
Trong khi nhắc đến con khỉ thầy lại nói đến khỉ Bìn Nin mà thầy bảo ở tỉnh nhà chỉ có một quả núi có khỉ mà thôi, là núi Bìn Nin ở Sơn Tịnh. Thì ra núi Bìn Nin ở Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi quê hương tôi, thế mà mười ba năm trước khi nghe thầy tú Lê nói tôi tưởng Bìn Nin ở bên Tàu. Thầy tú Trần không nói đến chuyện anh bán quạt ở chân núi Bìn Nin thầy chỉ nói nguyên nhân giống khỉ quí hiếm này bị tiêu diệt. Thầy bảo giống khỉ này khác với loài ngựa loài bò, khác với bất cứ giống động vật nào có xuơng sống hay không xương sống, bò sát, hay đi hai chân bốn chân, loài trên đất trên không gian, hay dưới nước, vì giống khỉ này nó ganh ghét tị hiềm đố kỵ kinh khủng lắm. Trong đồng loại nếu có con khỉ nào bị thương chảy máu, là chúng nó mừng thầm nhưng giả vờ thương mến đến thăm viếng, rồi sờ mó vào vết thương, nâng niu vết thương, chia xẻ đau xót nhưng kỳ thật nó bới vết thương cho máu chảy mạnh ra, và con khỉ bị thương chưa kịp nhiễm trùng đã cạn máu chết tức khắc. Vì hận thù ganh ghét quá độ như vậy đó, nên khi có con khỉ bị thương thì đi liền tới cái chết, và do đó, dần dà giống khỉ độc hiểm ngu dại này đi đến tự tiêu diệt.
Cuối câu chuyện, thầy tú triết lý, kết luận cũng đầy vẻ triết học “ Phàm ở đời, đồng loại mà ganh tị oán ghét quá, thì đi đến chỗ bị tiêu diệt.”
Nhớ lại thầy tú Lê, tôi thấy hình như thương mến và oán ghét hận thù, như không có biên giới, có khi lẫn lộn.
Nguyễn Liệu