................VIETLUAN.ORG

....................Diễn đàn Đại Học Nhân Quyền Việt Nam
Trang chủ - Tác giả - Tham luận - Truyện ngắn - Tác phẩm - Thơ - Videos thời sự- Videos âm nhạc - Liên hệ - Quảng cáo

DỰ ÁN THÀNH LẬP
ĐẠI HỌC
NHÂN QUYỀN VN
 
 
 


 


Số phận dân tộc Việt Nam từ 1945 đến ngày nay

Nguyễn Liệu

Từ ngày hiệp ước Patenote năm 1884, đến năm 1945 là thời bị Pháp đô hộ. Cố nhiên người dân không có nhân quyền. Cuộc sống về tinh thần và vật chất rất thấp kém. Đại đa số sống rất khổ sở.

Tháng 8 năm 1945 phất xít Nhật đầu hàng đồng minh ( Anh Nga Mỹ Tàu ), dân tộc Việt nam được độc lập do đảng cộng sản Việt nam nắm chánh quyền. Vì lãnh tụ cộng sản Hồ chí Minh sát hại đàn áp các chánh đảng khác đảng cộng sản, nên phe đối lập do vua Bảo Đại thành lập, được Pháp yểm trợ. Và nội chiến bắt đầu.

Năm 1975 phe cộng sản chiếm miền Nam thống nhất đất nước dưới chánh thể cộng sản mãi đến ngày nay.

Sơ lược tổng kết người dân Việt nam được cái gì, và mất cái gì, từ khi Nhật đầu hàng chấm dứt đệ nhị thế chiến đến ngày nay :
- Cả hai phe lính và dân chết trên 10 triệu người
- Trên ba triệu người bỏ nước ra đi
- Hai triệu người chết dưới biển vì bỏ nước ra đi gặp gió bảo hải tặc ….
- Tất cả ruộng đất, tài sản riêng tư, bị chánh quyền cộng sản tịch thu biến thành công sản, tiêu diệt tư sản
- Vì tổ chức hợp tác xã theo xã hội chủ nghĩa thất bại nên dân chúng càng đói khổ kéo về thành thị sống cuộc sống lầm than nhục nhã
- Nạn đĩ điếm, cướp bóc, du đãng phát triển
- Vì nghèo đói dân chúng chịu sự xuất cảng lao động và làm đĩ điếm, làm vợ tập thể ở nước ngoài
- Nền giáo dục bị phá sản hoàn toàn.
- Cướp bóc và tham nhũng trở thành mục đích chính của nhà cầm quyền
- Đảng viên và cán bộ trong chánh quyền trong đảng trở thành giai cấp mới, giai cấp hữu sản, một số đông trở thành tư bản, gọi là tư bản đỏ
- Bán đất ở biên giới và bán hải đảo cho Tàu cộng

Đó là những nét đại lược tôi nêu ra bất cứ một người Việt Nam nào cũng biết điều đó.

Vần đề đặt ra, tại sao dân tộc Việt Nam mãi mãi chịu sự chết chóc, chịu sự nghèo đói khổ sở, hết đời này đến đời kia, mãi mãi truyền kiếp khổ sở trong khi các dân tộc khác có được đời sống tự do hạnh phúc phú cường ?

Tại vì, theo tôi, người lãnh đạo quá kém, kém mọi mặt.

Chúng ta hãy điểm mặt những nhà lãnh đạo từ năm 1945 đến bây giờ.
Về phe cộng sản Hồ chí Minh đại diện là đủ. Phe không cộng sản có thể kể vua Bảo Đại, Ngô đình Diệm, Dương văn Minh, Nguyễn văn Thiệu.

Những nhà lãnh đạo này có những điểm giống nhau :
- Trình độ học vấn, nói chung, quá kém không đủ sức làm một vị nguyên thủ quốc gia.
Những nhà lãnh đạo này không một người nào có mãnh bằng trung học. Vẫn biết bằng cấp không quyết định hoàn toàn sự hiểu biết, nhưng không có một mảnh bằng nào, kể cả bằng trung học, thì cũng không thể nói đó là người có khả năng có hiểu biết, nhất là hiểu biết để làm một vị nguyên thủ quốc gia. Đức Khổng Tử bảo có ba loại người, loại 1 sinh ra đã biết, đó là thánh nhân, loại 2 có học mới biết, và loại 3 có học cũng không biết. Những vị lãnh tụ cộng sản và không cộng sản tôi kể trên chắc chắn không phải loại 1, loại thánh nhân.

Vì chỗ thiếu sự hiểu biết nên đâm ra hẹp hòi đố kỵ với lớp người trí thức lớp người khoa bảng.
Hồ chí Minh vì thiếu hiểu biết nên không dám dùng người trí thức, và chỉ lẩn quẩn trong đám thấp kém. Vì thiếu trí thức nên không xét đoán được thời cuộc, nên đành nhắm mắt nhận lệnh quan thầy Tàu Nga sô viết. Không dám chấp nhận giải pháp đoàn kết dân tộc, trung lập, không theo phe phái nào. Vì vậy, năm 1946 Hồ lập chánh phủ liên hiệp đoàn kết các thành phần quốc gia, nhưng là một sự giả tạo, để lừa gạt dân chúng, và để che mắt ngoại quốc, che dấu tính chất cộng sản kinh tởm dưới con mắt các nước tư bản chủ nghĩa.

Vua Bảo Đại, là một ông vua ăn chơi không có học hành đàng hoàng, dù chánh phủ Pháp gọi là giáo dục ông ta, nhưng là giáo dục một tay sai đắc lực, hơn là một chánh khách điều khiển một quốc gia. Vì thiếu hiểu biết, nên không biết gì về tình hình quốc tế lúc bấy giờ, nên không chuẩn bị kịp khi Nhật đầu hàng không có giải pháp đáp ứng tình thế mới. Ù ù cạc cạc lo ăn chơi tới khi Trần huy Liệu và Cù huy Cận vào bắt thóai vị, nhà vua mới hay Việt minh đã cướp chánh quyền ngoài Hà nội. Chạy thoát đến Hồng Kông, cũng vì thiếu hiểu biết nên vẫn còn ôm cái ngai vàng bù nhìn và chỉ định đám quần thần làm tay sai cho Pháp lập chánh phủ chống cộng sản. Nhà vua không ngai vẫn nằm tại Pháp, lãnh phụ cấp sinh sống của chánh phủ Pháp, và tiếp tục ăn chơi.

Ngô đình Diệm cũng vì thiếu hiểu biết nên hẹp hòi đố kỵ, chỉ biết quanh quẩn trong gia đình, sui gia, và đám quan lại cũ của triều đình Huế. Vì thiếu hiểu biết, nên hẹp hòi thiển cận, chỉ biết có đạo nhà, đạo Thiên Chúa, và xem thường Phật giáo là một tôn giáo có tín đồ đông nhất trong nước. Vì thiếu hiểu biết, nên nhắm mắt nghe vợ chồng người em trong nhà, làm cố vấn tác oai tác quái bậy bạ, làm cho dân chúng từ chỗ cảm mến buổi ban đầu, sau biến thành thù hận.

Dương văn Minh cũng vậy, cũng vì thiếu hiểu biết nên khi thời thế phải ra đảm nhiệm quốc sự, thì không biết phải làm cái gì. Cuối cùng, phải dùng lại Nguyễn ngọc Thơ, nguyên là phó tổng thống của Diệm, đáng lẽ phải ra trước tòa để trả lời những điều làm bậy bạ, tham những, thì ông lại được Dương văn Minh mời vào làm thủ tướng. Để ông ta vừa làm thủ tướng vừa cố vấn vừa chỉ vẻ cho quốc trưởng.
Dân chúng miền Nam đang phấn khởi hồ hởi vì chính thể gia đình trị của Diệm sụp đổ, nhưng vài ngày sau đâm ra chán chường, vì thấy sự bất lực kém cỏi của Dương văn Minh và đồng bọn. Nhất là vụ Nguyễn ngọc Thơ làm thủ tướng làm cho mọi người chán nản hết tin tưởng đám tướng lãnh ra nắm chánh quyền.

Nguyễn văn Thiệu cũng không khác gì Dương văn Minh, nhưng Thiệu có thì giờ củng cố địa vị bằng cách trừng trị đối lập. Dựa vào lý do chống cộng sản, Thiệu đàn áp đối lập, nếu ai có ý kiến cải tổ thì lập tức gán cho những chữ “ đâm sau lưng chiến sĩ” để trừng trị. Thậm chí không còn ai muốn ra tranh cử nên Thiệu độc diễn một mình. Đúng là một trò cười của nền dân chủ giả tạo. Cũng như Diệm rồi đến Thiệu không dám dùng bác sĩ Phan quang Đán bởi vì Bác sĩ Đán có tài có hiểu biết và có thể làm cho dân chúng mến yêu.

Như vậy, chúng ta có đủ chứng từ cụ thể, không thể chối cải được, những vị lãnh đạo cốt cán của phe cộng sản, và phe đối nghịch, đều giống nhau ở điểm, những vị ấy thiếu học thiếu khả năng của một vị nguyên thủ, vị cầm đầu trong một nước.

Còn một điểm giống nhau nữa, điểm này vô cùng quan trọng, là không vị nào, dù phe cộng hay phe quốc, yêu nước, yêu dân tộc.
Phe cộng sản thì quá rõ rồi, nhưng phe quốc gia cũng rõ ràng không kém, không vị nào yêu nước yêu dân tộc. Nếu thiếu kiến thức thiếu tài mà có lòng yêu nước yêu dân tộc thì cũng còn đỡ khổ cho dân chúng. Những vị chịu trách nhiệm ở hai phe quốc cộng không có vị nào yêu nước yêu dân tộc. Có lẽ tôi không cần dẫn chứng nhiều lãnh tụ cộng sản quốc tế Hồ chí Minh là người không yêu nước không yêu dân.
Phần trên đã nói rồi vì không yêu nước không yêu dân mới ngu dại gây nội chiến để tàn phá giang sơn, để giết hại hàng trên mươì triệu người Việt Nam vô tội. Vì không yêu nước yêu dân, nên không thể đưa nước Việt Nam lên vị trí một nước trung lập theo chủ nghĩa dân tộc, không làm tay sai cho bất cứ cường quốc trắng đỏ nào. Vì không theo chủ nghĩa dân tộc, nên đã đẩy dân tộc nhất là giai tầng nghèo khổ lớp bần cố nông, thợ thuyền, làm tên lính cuối cùng chận đứng sức mạnh của thực dân đế quốc. Trong khi đó thì phe chống cộng sản, làm tên lính cuối cùng hi sinh chận đứng làn sóng cộng sản bành trướng về Đông Nam Á. Đã thế vì không có một chút yêu dân tộc nên cam tâm ngu dại làm thí điểm chánh sách tàn ác, đấu tranh giai cấp, và cải cách ruộng đất, làm cho gần nửa triệu nông dân chết oan. Do đó Hồ chí Minh và đàn em cụ thể là Trường Chinh chẳng những không yêu nước mà còn trở thành tên tội đồ phản dân tộc, tên tội đồ diệt chủng.
Phe đối lập Bảo Đại Ngô đình Diệm Dương văn Minh Nguyễn văn Thiệu cũng đầy đủ bằng chứng là những lãnh tụ không yêu nước không yêu dân tộc. Những vị này đều ích kỷ tham quyền cố vị dàn những cảnh dân chủ giả hiệu để làm vừa lòng chánh phủ Mỹ. Không tích cực chống cộng sản với quan niệm kém cõi, cộng sản có Mỹ lo, còn chánh quyền cũng như các cấp lãnh đạo dân sự quân sự đều tham nhũng. Tham nhũng tràn lan trong mọi ngành, mọi cấp, từ dưới lên trên, đến nỗi cụ Trần văn Hương đang làm phó tổng thống miền Nam đã phải than vãn : “ Nếu diệt tham nhũng thì làm việc với ai.” Một chính quyền tham nhũng là một chánh quyền phản dân hại nước, đó là một chân lý bất di dịch.

Vô cùng đau xót vô cùng rủi ro cho dân tộc Việt nam từ năm 1945 đến ngày nay và đến ngày nào còn chánh quyền cộng sản, thì dân tộc luôn luôn khốn khổ , luôn luôn cay đắng vì phải sống không có quyền con người .

Nếu giả sử năm 1946, Hồ chí Minh là một lãnh tụ tài ba có lòng yêu nước, đủ can đảm từ bỏ chủ nghĩa Mac, dựa vào chủ nghĩa dân tộc, thì nước Việt Nam ngày nay không thua nước Nhật. Giang san không bị phá hủy và tránh được hàng mươi triệu người nghèo chết một cách oan uổng.

Nếu giá sử năm 1946 không có lực lượng đối kháng chống cộng và Hồ chí Minh mù quán trung thành với chủ nghĩa cộng sản,, thì dân tộc Việt nam ngày nay chắc không hơn dân cộng sản Bắc Hàn, dân Cuba, vẫn duy trì mực sống đói khổ cùng cực và hoàn toàn sống cuộc sống của thú vật.

Bởi những lý lẽ nêu trên để chứng minh vì sự kém cỏi mọi mặt của giới lãnh đạo đã làm cho dân tộc Việt Nam triền miên khổ sở đói nghèo. Muốn khắc phục những sai lầm do sự kém cỏi của người lãnh đạo gây nên, chỉ có một phương pháp duy nhất là phải để cho người dân được cái quyền góp ý, quyền phê bình người lãnh đạo, để bổ khuyết vào điểm yếu kém của người lãnh đạo, để kịp chận đứng những hành vi tội ác của người lãnh đạo. Phương pháp duy nhất đó là Tự Do và Dân chủ thật sự.