| |
Bên Kia Đèo
Nguyễn Liệu
Làng Cà Tung dưới chân đèo giáp với xóm người thượng du. Người thượng ở rải rác trên các sườn đồi, phần nhiều sống nghề làm rẫy. Dân trong làng Cà Tung rất nghèo, dưới năm chục nóc nhà toàn là nhà lợp tranh, có những nhà xiu vẹo như những túp lều người ta thường làm trong các cánh đồng trồng dưa . Trong làng chỉ có nhà ông xã Năm ông hương kiểm Ất và nhà chú Thập ra vẻ cái nhà, nghĩa là lợp tranh săn hớt ngọn ngay ngắn, phía trước có sân rộng bằng đất nện cứng, có trồng hoa vạn thọ hoa cúc và hàng rào toàn dâm bụt hoa đỏ. Vườn phía sau nhà có giếng nước và trồng rau, cây ăn quả. Đó là những nhà giàu trong làng Cà Tung. Trừ những nhà khá giả vừa kể hầu hết trong làng đều làm nghề lượm phân người để trồng cây thuốc lá và bán cho những nông dân giàu có ở làng bên kia sông Suối Cạn . Làng bên kia sông Suối Cạn là làng Nghĩa Điền, một làng đông dân giàu có ruộng đất phì nhiêu và có nhiều nhà ngói làm theo kiểu xưa. Không hiểu tại sao lại gọi là sông Suối cạn , có lẽ ngày xưa nơi đây là con sông nhưng bây giờ bị lấp dần thiếu nước biến thành con suối cạn. Hàng ngày một số dân làng Cà Tung lội qua con suối này đến làng giàu có Nghĩa Điền xin việc làm.
Nhà ông Nhiêu sát bờ Suối cạn. Nói nhà nhưng đó là một túp lều tranh tồi tàn. Nhà có hai ngăn. Ngăn phía trước, bên ngoài đặt cái bàn cũ kỹ, mặt bàn nước sơn loan lỗ trông có vẻ nhớp nhúa. Hai bên bàn hai cái bân học trò chân chôn chặt xuống đất. Đó là nơi tiếp khách của ông Nhiêu. Phía trên cửa ra vào ở mặt trước, là trang thờ làm bằng tấm phên tre cột treo lên mái nhà . Một cái giường hẹp sau cái bàn, đó là nơi ngủ của ông Nhiêu. Về đêm hai người con trai trãi chiếu dưới đất trước bàn để ngủ. Bên trái cái bàn đặt một tấm phản một người nằm trên trãi chiếc chiếu hoa nhưng đã mòn rách. Đó là giang san của cụ Chánh, ngoài 60 nhưng già nua như người trên thất thập, thân phụ của ông Nhiêu
Ngăn phía sau một cái giừơng rộng hai người nằm, ban đêm bà Nhiêu ngủ với đứa con gái lên 8 tuổi ở đó. Cạnh giường là ảng nước và bếp. Một cửa phía sau nhà để ra chuồng nuôi heo. Nhà không có vườn, không có bông hoa, không lợp tranh săn như nhà giàu trong làng.
Ông Nhiêu vẻ mặt còn giận dữ, vừa quấn điếu thuốc lá vừa la vợ:
- Con hư tại mẹ, bà cưng nó quá, lớn nó chỉ việc đi xin ăn, hoặc làm điếm thúi cho bà coi. Rồi bà sáng mắt ếch cho mà coi. Tại sao hai thằng anh nó mới sáu bảy tuổi đã tập làm việc, nó bây giờ tám tuổi rồi không chịu đi làm là cái nghĩa gì, bà nói cho tui nghe thử.
Phía ngăn trong bà Nhiêu nói vọng ra :
- Thì ông để tui dỗ nó từ từ rồi nó làm, nó là con gái mà ông sánh với con trai sao được. Sao ông nở đánh nó quá vậy, bà Nhiêu nói trong khi khóc, cả người nó bầm tím. Ông đánh con như đánh trâu đánh chó không bằng. Tui đau cái ruột quá ông biết không, ông với tui thí cho nó mỗi ngày hai sắc chén cơm ghế củ, ăn với muối hột, mà ông đánh nó đến thế. Nói đến đây bà Nhiêu khóc oà thành tiếng. Ông Nhiêu thản nhiên đáp:
- Bà bắt thang cho nó leo. Thương con thì phải biết dạy con, đừng đội nó lên đầu. Ông nói kéo đai câu nói thường ngày, thương thì cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào. Hút xong điếu thuốc, uống vội bát nước chè tươi, ông Nhiêu bà Nhiêu và hai đứa con trai lên đường lúc còn mờ mờ sáng. Ông Nhiêu gánh hai chiếc giỏ trong có những cái giỏ nhỏ hơn. Bà Nhiêu cũng vậy. Hai đứa con mang gói cơm lúp xúp chạy theo cha mẹ nó. Bốn người lội qua sông Suối cạn hướng về làng Nghĩa Điền giàu có. Ông Nhiêu thường dạy hai đứa con trai, đứa mười lăm tuổi đứa mười ba, không có nghề nào xấu chỉ có người xấu. Không ăn trộm ăn cướp không đĩ điếm, phải tu thân tích đức, ông bà làm sao mình làm vậy, nhất nghệ tinh nhất thân vinh. Hai đứa con trai này đã qua những trận đòn khủng khiếp vì bọn chúng nghe lời con nhà giàu trong làng xin cha mẹ qua làng Nghĩa Điền học chữ. Ông Nhiêu vừa đánh con vừa la, lo làm lo ăn, con nhà lính mà tính nhà quan, học hành mà làm gì, nếu học mà no thì ông bà đã học rồi, đi làm chi cho nhọc tấm thân. Phải chăm chỉ làm việc, tiện tặn dè xẻn, để dành để để, rồi có vợ có con, rồi ăn riêng, rồi tạo nên nhà cửa ruộng vườn, mở mày mở mặt với người ta, cho đở xấu hổ ông bà. Đó là những bước tiến trên cuộc đời ông thường nói khi đánh dạy con.
Cả nhà gánh giỏ ra đi, đứa con tám tuổi mới dám bước ra căn nhà ngoài. Nó tên là Tâm, con Tâm. Tâm ăn vội miếng cơm rửa mặt thay quần áo chào ông nội lội qua Suối Cạn chạy lúp xúp về làng Nghĩa điền cho kịp giờ vào lớp học. Tâm đang học lớp Tư trường tiểu học Nghĩa Điền. Việc học của Tâm dấu kín không cho ông Nhiêu biết và không cho trong làng biết. Mà trong làng, dân làng cả ngày cặm cụi lo làm việc không để ý chi những chuyện vặt vãnh như thế. Bé Tâm rất thông minh lại chăm chỉ nên học đứng đầu lớp được thầy khen bạn nể. Quanh năm suốt tháng Tâm chỉ có một bộ quần áo vải thô màu chàm đã phai, đi chân trần đội chiếc nón lá cời đi học. Sách vở nhét dấu vào bụng phía trước trong vạt áo, lom khom lúp xúp chạy, không ai biết đó là cô nữ sinh. Có lúc bà Nhiêu muốn thú thật với chồng về việc học lén lút của đứa con gái nhưng bà không dám vì biết tánh chồng. Ngay hai đứa con trai theo con người ta qua trường xem thử học trò học ra sao mà về nhà bị la rầy bị đánh lằn roi đầy mình. Bà Nhiêu nghĩ cả nhà cả giòng họ không ai biết chữ nên bà muốn đứa con gái của bà đi học “ kiếm ít chữ bỏ lên đầu lên cổ”, bà thường nói như vậy. Trong khi ông Nhiêu muốn đứa con gái út phải theo hai anh nó tập làm việc, tức tập đi lượm phân.
Tuy mới lên tám nhưng Tâm thường suy nghĩ phải làm cái gì để phụ với cha mẹ nhất là để tạo được hai chén cơm cho cha bớt la rầy, bớt đánh đập, bắt phải đi lượm phân, nhưng nếu nghe lời cha thì làm sao đi học. Tâm nghĩ mỗi tháng có hai buổi chợ phiên có thể dựa vào đó làm cái gì để kiếm thêm gạo cho gia đình. Người lớn họ buôn bán với người thượng họ làm giàu vì lợi dụng cái thiệt thà chất phác dốt nát của người thượng. Phải làm cái gì, nhất định phải làm cái gì, không thể không làm gì hết, thì không thể có hai chén cơm trong một ngày. Nhớ lại lúc lên năm chơi với bọn con nít trong xóm thường lấy đất làm bánh cúng quảy, thì bây giờ làm bánh bán cho người thượng. Một ý nghĩ rất hay là làm bánh bán cho người thượng. Nhưng ý nghĩ ngây ngô ấy bế tắc ngay, vì không biết người thượng có ăn bánh không, và ăn bánh gì. Trong dịp Tết của người thượng, Tâm có đi theo dân làng xem thượng ăn Tết, chỉ thấy người thượng ăn gà, ăn heo, ăn trâu nướng, uống rượu cần, chứ không thấy ăn bánh. Hay là mình làm bánh bán cho bọn trẻ con thượng, trước hết mình tập cho nó ăn bánh của mình nếu nó thích thì nó đòi cha mẹ nó mua cho nó, thì mình thành công, Tâm vừa chạy lúp xúp đến trường vừa nghĩ như vậy. Tâm cảm thấy vui vui nếu mình bán được bánh kiếm lời đủ hai sắc chén cơm thì cha bớt la bớt đánh mình nhất là không bắt mình đi lượm phân, cái việc làm kinh khủng quá. Tâm nhớ lại khi mới vào học không đứa học trò nào muốn ngồi gần mình, chỉ vì nó biết mình ở xóm Cà Tung, mãi tới sau này nhờ mình học giỏi nên chúng mới chịu chơi với mình. Không thể được, không thể theo cái nghề của cha mẹ mình đang làm, phải tìm nghề khác đở tủi thân hơn. Tâm không quên được hình ảnh hôm mẹ dẫn qua nhà ông bá hộ ở Nghĩa Điền ăn giỗ. Người ta không cho mẹ đụng đến chén dĩa không cho mẹ làm gì hết, họ sợ ô uế món đồ cúng, vì mẹ ở Cà Tung. Hôm ấy Tâm phải nói dối là đau bụng nên phải về nhà không ở ăn giỗ được.
Tâm lấy cơm nguội gói thành cây bánh tét nhỏ bằng ngón chân, trong bỏ nhưng chuối. Những cây bánh như đồ chơi con nít, Tâm luộc chín lần nữa trước khi đem ra chợ. Cắt thành những khoanh nhỏ vừa miếng ăn, đặt trên cái tràng, bày giữa chợ cho trẻ con ăn thử. Phiên chợ của người thượng thường tham dự cả gia đình nên trẻ con chen lấn trước tràng bánh để được phân phát cho mỗi đứa một miếng bánh có nhưng chuối ngọt.
Đến phiên chợ thứ ba, Tâm không cho trẻ con ăn không nữa, mà bán với giá rất rẻ. Trong chốc lát bán sạch hai chục cây bánh tét nhỏ. Tâm hồ hởi rời chợ về nhà nói riêng cho mẹ biết việc làm của Tâm lâu nay nhưng chưa dám cho cha biết, vì theo cha Tâm, chỉ tin vào nghề nghiệp ông bà để lại là chắc chắn hơn hết. Tâm nói với mẹ :
“ Con muốn mẹ không làm nghề của cha nữa, mẹ làm bánh bán cho người thượng và bán ở chợ Nghĩa Điền có thể có tiền hơn đi lượm phân, vừa cực vừa tủi thân.”
“ Mẹ có nghĩ tới nhưng chưa dám vì cha con chưa tin gia đình mình có thể làm gì có tiền hơn nghề cũ lâu nay. Mẹ con mình âm thầm làm thử khi chắc ăn rồi mới dám cho cha con biết nếu không thì ổng la lối ôm sòm ai chịu cho nổi”…
Kỳ thi tiểu học năm ấy, Tâm lên 13 tuổi đậu đầu toàn tỉnh đem lại danh dự cho trường tiểu học Nghĩa Điền. Lễ phát thưởng đặc biệt cho Tâm không có phụ huynh đến dự ông hiệu trưởng gọi Tâm vào văn phòng hỏi :
- Tại sao cha mẹ em không ai đến dự lễ phát thưởng này ?
- Thưa thầy cả nhà con phải đi lượm phân cả ngày.
- Thì một người đến dự cũng được rồi về đi làm vì đây là một vinh dự lớn cho trường cho em và gia đình em mà. Tâm vừa khóc vừa thưa :
- Thú thật với thầy, sáu năm nay con đi học lén không cho ai biết chỉ mình mẹ con biết mà thôi, nếu cha con biết được, ổng đánh con không cho con đi học bắt ở nhà làm việc. Ông hiệu trưởng rất ngạc nhiên trố mắt nhìn Tâm :
- Em nói thật hả, sao lạ vậy, làm sao em học lén mà sáu năm nay cha em không biết.
- Sáng tinh sương cha mẹ con hai anh của con ra đi, chiều tối mới về. Con ở nhà với ông nội, con lén chạy qua sông Suối cạn đến trường, học xong con chạy về, sách vở dấu trong áo, không ai ngờ con là học trò, vì con không có áo quần lành lặn không ai nghĩ rằng con là học trò, thầy biết không. Tâm khóc thành tiếng. Ông hiệu trưởng ngồi lặng người… không ngờ trên đời này có người học sinh đi học lén cha mẹ.
- Em thi đậu đầu toàn tỉnh, quan huấn đạo đề nghị cho em học bổng học lên trung học ở thị xã, thầy khuyên em nên tiếp tục học nữa, để sau này có lợi cho em và cho xã hội chúng ta nữa, em nghĩ sao ?
- Thưa thầy con muốn học nữa, nhưng hoàng cảnh gia đình cha mẹ con, hoàng cảnh trong làng con khó lắm thầy. Cha con chắc không cho con đi học và trong làng không muốn con đi học. Nếu con học lén thì may ra được, nếu học như những học sinh con nhà giàu khác thì chắc chắn không được.
- Thầy định đến nhà gặp cha mẹ em để xin cho em tiếp tục học, vậy đến lúc nào có cha mẹ em ở nhà ?
- Thôi đi thầy, nếu thầy đến mà cha con không đồng ý, thì việc học lén của con cũng bất thành, thà thầy để con học lén được lúc nào hay lúc ấy.
Một buổi chiều mặt trời gần lặn, ông hiệu trưởng lội qua Suối cạn đến nhà Tâm. Lần đầu tiên ông hiệu trưởng qua bên kia bờ suối, mà lâu nay ông tưởng đấy là xóm người thượng ở, không ngờ còn là xóm người kinh, người thượng ở vùng cao hơn trên sườn núi. Theo lời Tâm, lội qua suối đi về bên trái độ nửa cây số túp lều tranh lụp xụp bên bờ suối đó là nhà cha mẹ Tâm. Ông hiệu trưởng buột miệng ngạc nhiên :
“ Trời ! nhà thê thảm như thế này”. Bước vào trong sân mùi phân nồng nực khó chịu.
Cả nhà ngạc nhiên trố mắt nhìn, ông hiệu trưởng tươi cười tự giới thiệu :
“ Xin lỗi ông bà, tôi là hiệu trưởng trường tiểu học bên Nghĩa Điền đến thăm ông bà và xin phép được nói về cháu Tâm con gái của ông bà.
“ Dạ bẫm quan mời quan lớn ngồi” Ông Nhiêu vòng tay khúm núm cuối đầu mời.
“Không, tôi không phải là quan, xin ông đừng gọi tôi là quan, tôi đến đây để cho ông bà biết về kết quả xuất sắc của cháu Tâm con ông bà qua kỳ thi vừa rồi..” Ông Nhiêu không hiểu gì hết, sợ quá, mồ hôi toát ra như tắm, bà Nhiêu biết trước nên mừng hớn hở nhưng không dám lên tiếng. Ông hiệu trưởng nói tiếp : quan trên khen thưởng và cấp học bổng, tức cấp tiền cho cháu tiếp tục học lên cấp cao. Đây là một vinh dự lớn cho gia đình ông, cho trường chúng tôi, nên tôi có bổn phận qua đây nói cho ông bà rõ và chính tôi có bổn phận lo cho cháu, theo lệnh của quan huấn đạo, đưa cháu lên học cấp cao hơn. Ông nghe rõ chưa, hiểu rõ chưa ?
“ Bẩm quan, quan thương quan dạy, con hiểu, trăm sự nhờ quan.”
Ông hiệu trưởng còn nói thêm là việc học của Tâm rất quan trọng chính bản thân ông phải lo theo lệnh quan trên, nên tôi đến đây xin ông không nên la rầy đánh đập con gái ông mà nên khuyên bảo nó gắng học hành để trở thành người hữu ích cho xã hội. Ông nghe rõ chưa ?
“Dạ bẩm quan lớn, con hiểu, xin quan dạy bảo.”
Đêm hôm đó ông Nhiêu không ngủ được vì quá ngạc nhiên không ngờ con gái ông lâu nay đi học lén mà học giỏi được quan trên thương cho đi học tiếp. Bây giờ không biết phải làm sao, thì đành quan trên dạy sao nghe vậy, nó là con của mình nhưng bây giờ ngoài tầm tay của mình. Hết mùa hè năm đó Tâm được ông hiệu trưởng gửi ra thị xã học bậc trung học.
Hàng năm Tâm về thăm nhà một lần vào dịp Tết nguyên đán. Ba tháng hè Tâm tìm việc làm ở thị xã. Ông bà Nhiêu thường nói với người trong xóm “ cháu nó đi ở mướn cho người ta ngoài thị xã, cơm ăn, mỗi năm họ cho hai bộ quần áo và mấy chục bạc để dành sau này làm vốn làm ăn, và mỗi năm được về thăm nhà một lần trong dịp Tết.
Khi về thăm nhà Tâm thường mặc bộ đồ đã cũ, áo vá vai đội nón lá đi chân trần, đúng như người đi ở mướn. Ông Nhiêu nói với bà Nhiêu và Tâm:
“ Trong làng này nhất là bọn nhà giàu nếu nó biết con nhỏ này được quan trên cho đi học thì họ ganh ghét họ chưởi bới mình và tìm mọi cách hại mình. Cho nên ăn thì dễ mà ở thì khó lắm.” Ông Nhiêu nói với vợ và hai đứa con trai như vậy.
Trong làng có ba bốn nhà giàu họ thường giao du qua lại với nhau. Ông xã Năm làm lý trưởng gần như suốt đời, vì không có người dám thay thế ông. Ông thường tự hào ông nội ông là người giàu có nhất trong vùng, làm chánh tổng, có nuôi ngựa để cởi, có thế lực với quan trên. Ông thường tự hào ngôi nhà năm gian của ông ngày xưa bề thế, ngay như nhà giàu ở Nghĩa Điền cũng không sánh kịp. Ngôi nhà đồ sộ đó ngày nay ông thừa hưởng, nhưng lâu ngày mái ngói bị hư không có tiền sửa chữa, ông phải lựa các miếng ngói còn dùng được lợp mái trước, còn mái sau lợp tranh săn, và đó là ngôi nhà ngói duy nhất trong làng Cà Tung. Ông hương kiểm Ất dựa thế lực ông xã Năm nên trong làng ai cũng nể sợ. Ông có ba người con trai đã lập gia đình và là tá điền của các địa chủ bên làng Nghĩa Điền. Suốt đời ông hương kiểm Ất không làm chết một cây cỏ, chưa bao giờ ông lao động. Hàng ngày ông thường ra tiệm hớt tóc ở đầu làng đánh cờ tướng. Ông là tai mắt của ông xã Năm, thường cung cấp những tin tức trong làng và các nơi lân cận cho ông xã Năm. Và ông thường được mời ăn giổ.Có thể nói công việc hằng ngày của ông là đánh cờ và đi ăn giổ. Có một lúc gia đình ông với gia đình ông xã Năm xem như kẻ thù vì người con trưởng của ông là ông ba Thìn ra tranh chức lý trưởng với ông xã Năm. Ông ba Thìn là người có học hành nhiều nhất ở làng Cà Tung, ông có bằng Sơ học Pháp Việt yếu lược. Phải qua trường ở làng Nghĩa Điền học ba năm rồi lên huyện thi may ra đậu được cái bằng đó. Ông hương kiểm Ất rất hãnh diện về sự học hành đổ đạt của người con cả. Sau khi đổ đạt xong hương kiểm Ất liền làm sui với nhà ông bá hộ Thiên ở làng Nghĩa Điền. Vì muốn người con rể mình đã có khoa thì phải có danh vọng nên ông yểm trợ người con rể quí của ông tranh chức lý trưởng ở làng Cà Tung, do đó gây mối thù lớn đối với gia đình ông lý trưởng đương nhiệm, ông xã Năm.
Ông xã Năm đến nhà hương kiểm Ất mời vợ chồng hương kiểm Ất lên nói chuyện :
- Tôi với anh chị ở như bát nước đầy, chưa mích lòng một tiếng. Năm cậu cả ở nhà đổ đạt chính tôi đêm trà rượu đến đây mừng cậu. Đó là cái phước nhà của anh chị lớn quá con cái học hành đổ đạt và đó cũng là niềm vui của tôi và của cả làng chúng ta vì làng chúng ta chưa có ai học hành thành danh như cậu cả nhà. Tôi nghĩ không ra , sao anh chị lại nở để cậu cả ra tranh cái lý trưởng của tôi, có thua gì dở cái nhà của tổ tiên tôi đổ xuống sông xuống suối. Mặt ông xả Năm đỏ như huyết nhắc đến tổ tiên nước mắt rơm rớm. Hương kiểm Ất ngắt lời :
- Thầy xã bớt giận, chúng tôi với thầy đúng là ở như bát nưóc đầy. Phận tôi là đàn em đâu dám vô lễ với thầy, xin thầy thương cho. Sở dĩ thằng cả nhà tôi dám vô lễ với thầy là do ông nhạc của nó bày vẽ khuyên bảo, chứ nói có mặt trời làm chứng vợ chồng tôi dốt nát yên phận đâu có dám trèo cao té nặng đâu thầy. Nghe những lời khiêm nhường của ông hương kiểm, ông xả Năm hơi yên lòng và cảm thấy như không bị xúc phạm nữa. Riêng phần hương kiểm Ất, đá trái banh cho ông sui giàu có thế lực bên làng Nghĩa điền, ông rất yên tâm và tự thấy mình lanh trí tấp hết cho anh sui gánh chịu hậu quả.
- Chúng tôi cũng biết vậy nhưng dù sao áo mặc không qua khỏi đầu. Bậc làm cha làm mẹ xin anh chị khuyên cậu cả nên rút lui, để tình giao hảo của hai gia đình chúng ta không bị sức mẻ.
Ra về thầy lý trưởng Năm không yên tâm vì với vợ chồng ông hương kiểm thì dễ cùng lắm thí ít sào ruộng thì êm chuyện, nhưng đụng phải ông bá hộ bên Nghĩa Điền thì thật khó gở. Ông xã Năm về đến nhà thì đã có chú Thập chờ từ chiều. Chú Thập cố dấu cái vẻ khoái trá, tạo ngay gương mặt đăm chiêu, ra chiều đang tìm một giải pháp cho hợp lý để tránh sự tranh cử một sống một chết sắp đến. Chú Thập lên tiếng trước :
- Tôi chờ ông khi chiều giờ. Chuyện là chuyện của các ông mà làm khi hôm tôi không ngủ được. Cái thằng Thìn con hương kiểm Ất thật lếu láo, nó dám vô lễ chẳng những với ông mà với cả bọn mình những gia đình khá giả và ăn học nhiều nhất trong làng. Tài giỏi như thằng cả nhà tui, mà nó có ăn gan trời cũng không dám vô lễ với ông, huống chi thằng Thìn con hương kiểm Ất. Bây giờ đạo lý suy đồi rồi, nhà tranh cũng như nhà ngói, se sẻ lẩn lộnvới phượng hoàng, nghĩ vậy, nói dấu gì ông, tôi không ngủ được, tức ứa máu, và chiều nay đến nhà ông từ sớm chờ ông về.
- Cảm ơn chú, chuyện này là chuyện cá nhân tôi nhưng thực sự nó là chuyện chung của chúng ta, của những gia đình dòng họ của chúng ta. Không thể để chó nhảy bàn độc được, dù có tới đâu, dù hết tài sản tôi cũng theo cho tới cùng, vì chúng ta không thể để trong làng xã chúng ta đạo lý suy đồi. Phải có trên có dưới có già có trẻ phải biết kính lão đắc thọ chứ. Bằng mọi cách tôi sẽ chận đầu thằng con hương kiểm Ất không cho nó ngóc lên.
- Tôi nghe ông nói vậy tôi an tâm, bây giờ tôi đi về, cần gì ông gọi có tôi ngay, và cũng như ông nhất định không cho bọ trẻ xấc láo làm bậy bạ trong làng xã mình.
Ra khỏi nhà ông xã Năm, chú Thập đi thẳng đến nhà hương kiểm Ất. Thấy chú Thập đến hương kiểm Ất mừng rỡ mời vào nhà và thanh minh vì đứa con trai nghe lời ông nhạc nó ra tranh lý trưởng, làm tôi đứng cửa giữa khó ăn nói quá. Nếu vì con vì ông sui thì mích lòng anh xã Năm, nếu vì anh Năm thì chả lẽ bỏ con. Tôi không biết phải làm sao cho phải, gặp ông đây xin ông chỉ vẽ cho. Chú Thập tỏ vẻ suy tư một cách sâu sắc, chầm chậm uống hết chén nước, rồi lên tiếng :
- Vấn đề của cậu nhà, tôi suy nghĩ rất nhiều. Tôi vì chỗ thâm tình với ông nên tôi đến đây với mục đích bàn vào chuyện đó, và ông nhớ cho, chuyện này chỉ có ông với tôi, sống để dạ chết mang theo, hương kiểm Ất ngắt lời :
- Chú tin tôi, chuyện chú nói ra chỉ có trời tôi và chú biết mà thôi, không bao giờ tôi hé miệng cho người ngoài biết.
- Tôi ủng hộ cậu nhà làm lý trưởng, bởi vì phải có đổi mới, phải do lớp trẻ nó có học, nó có lòng, ra thay thế tuổi già. Ông thấy mấy nhiệm kỳ rồi ông xã Năm làm được cái gì cho làng cho xã mình. Tôi vì quyền lợi của bà con trong xã, vì cảm mến gia đình ông, nên phen này tôi quyết ra tay ủng hộ cậu Thìn. Nhất định dân làng sẽ tín nhiệm cậu Thìn vì họ sợ và ngán ông xã Năm quá rồi. Thôi tôi về, ông nhớ thủ khẩu như bình nhé.
Chú Thập thật ra không phải là tên chú. Tên chú là Trần Trung, một thời làm lính Nam triều, chuyên kéo xe cho quan huyện. Trong huyện có sáu tên lính phục dịch quan huyện, từ việc canh gác tư dinh quan lớn đến nấu ăn đi chợ có khi giặt giũ cho gia đình quan huyện. Những người lính Nam triều phục dịch cho quan huyện còn gọi là những chú Thập. Vì thế khi về hưu dân chúng kính nể không dám gọi tên mà gọi chức tước là Thập, chú Thập. Khi già yếu quan trên cho nghỉ việc về làng được cấp cho một số công điền đủ sinh sống. Cả nhà chú rất hãnh diện về cuộc đời ‘ làm việc quan’ và hạ mục vô nhân, xem dân làng là một lũ hèn mọn, nhất là dân trong làng đều làm cái nghề hạ cấp là nghề lượm phân. Chú Thập có hai người con trai và ba người con gái đều có gia thất. Hai người con trai tuy không đến trường nhưng rồi cũng biết chữ, nghĩa là biết đọc biết viết chút chút. Hai người con trai chú Thập rất tự cao tự đại và cũng tự cho mình là người thông kim quán cổ. Chú Thập thường khoe trong dân làng về hai người con trai quí của mình, nó giỏi lắm nó đâu có thèm cầm cây cuốc cây đòn gánh, nó cầm cây viết và nó là thương gia giàu có trong làng. Cũng có thật như vậy, anh ba Vẽ anh bốn Vời chuyên mua phân trong làng rồi bán lại cho nông dân ở làng Nghĩa Điền. Anh mua với giá rất rẻ và bán với giá cao khi bên làng Nghĩa Điền cần phân bón lúa đang con gái hoặc đang đòng đòng. Hai anh em độc quyền mua phân trong làng, vì người nào không bán cho anh thì không biết bán cho ai. Giá cả do hai anh em định đoạt nhất là đối với người nào vì nghèo túng quá phải mượn tiền trước thì bán với giá rẻ mạt và phải gánh đến tận ruộng cho nông dân bên Nghĩa Điền rồi mới nhận được tiền bán.
Còn non một tháng nữa đến ngày bàu cử lý trưởng làng Cà Tung, nghe nói ngoài cụ chánh tổng Huỳnh văn Chiến còn có quan huyện cụ phó bảng Hồ đắc Tâm, một vị quan thanh liêm và khó tính, về dự cuộc bàu cử này. Ông xã Năm, ông hương kiểm Ất bắt dân làng dọn dẹp đường sá sạch sẽ, dẫy cỏ hai bên lề đường từ suối Cạn vào đình làng ngay giữa làng. Những trẻ con áo quần rách rưới nhất là trẻ con không có áo quần ngày bàu cử phải nhốt chúng trong nhà không cho chúng ra đường cha mẹ phải chịu trách nhiệm điều này. Đặc biệt các gánh phân phải để ngoài bờ suối không được đem vào làng trong ngày hôm đó.
Sáng tinh sương người ta thấy ông lý trưởng Năm hình như đang bắt sâu trên các ngọn cây hoa thược dược với chú Thập phía sau vườn. Hai người rầm rì suốt buổi sáng. Ông xã Năm đi cùng chú Thập một quảng đường dài khi chia tay ông còn nhắc lại “ chỉ có Trời chú và tui biết, sống để dạ chết mang theo”. Ông yên tâm, thủ khẩu như bình.
Trời nhá nhem tối, cơm nước xong ở gia đình bố vợ, anh Thìn lội sông Suối cạn về nhà. Vừa bước lên bờ, bốn người thượng nhào ra đánh túi bụi vào người anh. Chỉ kịp la lên một tiếng rồi ngất xỉu, bốn người thượng tẩu mất dạng trên sườn núi. Máu mũi chảy lên mặt thấm ướt vạt áo trắng dài. Tỉnh dậy Thìn hoảng hốt vừa chạy vừa la làng. Vì nhà bên bờ suối ông Nhiêu nghe tiếng người la làng kêu cầu cứu, cả nhà chạy ra thì gặp anh Thìn hớt hải chạy xuống, máu me đầy người. Ngạc nhiên hoảng hốt ông Nhiêu cõng anh Thìn vào nhà, một mặt lo cứu cấp, một mặt sai vợ con chạy tin ông hương kiểm Ất anh Thìn bị trọng thương. Ngay trong đêm đó hương kiểm Ất mướn sáu người thượng khỏe mạnh thay phiên khiên anh Thìn chạy suốt đêm tờ mờ sáng đến bịnh viện thị xã. Nghe con thuật lại hương kiểm Ất chép miệng “ bọn ghê thật, mình thiếu đề phòng, cờ thua một nước rồi, rõ hơn ban ngày, còn ai vô đó nữa.” Nhưng ông lập tức loan báo vì đói một số người thượng bất lương thường hay cướp phá dọc bờ suối, dân làng nên đề phòng, nhất là đi lại ban đêm. Ông liền làm tờ trình lên ông lý trưởng để khẩn trình lên huyện đường vụ cướp bóc của người thượng khi hôm. Vừa tảng sáng chú Thập đến thăm nhà ông hương kiểm vì nghe tin cậu cả bị nạn khi hôm. Chú Thập còn nói thêm phước nhà còn lớn lắm, mạng cậu cả lớn lắm có ông bà che chở nên bọn thượng man rợ gây thương tích rồi bỏ chạy. Chú Thập còn đề nghị hương kiểm Ất nên chọn số người trai trẻ khỏe mạnh ban đêm đi tuần nhất là những đêm không trăng tối trời. Ông còn nói nhỏ vừa đủ hương kiểm Ất nghe “ không sao, vài hôm xuất viện cậu Thìn về tiếp tục, công việc đang trên đường thắng lợi.” Nhìn bốn bề không có ai, ông nói nhỏ vào sát tai ông hương kiểm “ coi lại thử bọn thượng này được ai mướn..” Hương kiểm Ất vờ như không nghe rõ nên không có ý kiến. Chú Thập ra về thì ông xã Năm đến thăm. Ông lý trưởng hỏi tỉ mỉ như người chuyên môn điều tra sự việc. Ông hỏi có bị mất mác gì không, ông hương kiểm bảo bọn thượng đánh rồi vội vàng bỏ chạy không kiệp cướp bóc gì. Có vẽ đăm chiêu suy nghĩ ông lý trưởng nói : Tôi e có thể đây là một âm mưu của bọn thượng Radê từ Pleiku xuống và có tính chất chánh trị, không phải dừng lại chỗ cướp bóc. Ông ra về còn dặn nên đề phòng bọn thượng.
Trưa hôm đó ông bá hộ bên Nghĩa Điền sang thăm ông hương kiểm và ông xin phép được giử anh Thìn nghĩa tế của ông tại nhà ông khi xuất viện. Ông bảo không nên ra tranh cử lý trưởng vì dù một đứa bé cũng biết rằng ông Thìn bị hành hung là một sự cảnh cáo, một đe dọa, chứ không phải bọn thượng cướp bóc.
Tâm e dè mãi, rồi gõ cửa nhà ông thông Tường. Một hồi lâu cửa hé mở , giọng the thé người đàn bà Huế gắt gỏng :
“ Cái gì đó mà gõ cửa ồn ào như vậy ?”
-“ Dạ bẩm bà, con là người trong huyện của ông, của quan thông, xin được gặp ông bà” Nghe nói người trong quê ông thông bước ra. Ông độ năm mươi, tướng người ốm cao gương mặt khắc khổ, ôn tồn hỏi :
- Cháu trong quê ra, có việc gì vào đây” Ông mở rộng cánh cửa chỉ cái ghế cạnh bàn bảo ngồi. Vì nghe người trong quê ra bà thông dịu xuống bớt bực bội gắt gỏng.Tâm đứng không dám ngồi, thưa :
- Cháu trong quê ra vì cháu được học bổng của quan huấn đạo cho ra học ở thị xã này nhưng cháu không quen biết ai, cháu chỉ nghe người trong quê thường nhắc đến tên quan nên con đánh bạo vô phép vào xin quan cho con làm việc nhà để quan cho con chỗ ở dưới nhà bếp với những người tôi tớ của quan, để con có thể theo học thời gian nữa. Xin quan rộng lòng giúp đỡ cho con. Con cúi đầu đội ơn quan lớn.
- Cháu được học bổng thật à. Nếu vậy là điều hiếm có. Tâm lễ phép trình lên quan thông các giấy tờ của sở học chánh thông báo việc cấp học bổng thuộc loại học bổng quốc gia. Quan thông đọc kỹ rồi hỏi :
- Cha mẹ cháu có làm gì cho nhà nước, cháu có anh em gì làm việc cho Nam triều cho bảo hộ gì không.
- Dạ không ,cha mẹ cháu không biết chữ, nhà nghèo lắm, cha mẹ cháu phải đi lượm phân sinh sống đói khổ qua ngày.
-Nhưng ai chạy học bổng cho cháu mà lại học bổng quí nhất là học bổng quốc gia do bên bảo hộ đài thọ. Bà thông nghe há hốc mồm không hiểu những điều kỳ lạ xãy đến cho con bé trong quê ra này.
- Dạ thưa con thi bằng tiểu học con đậu đầu toàn huyện nên được quan đốc học cho học bổng , đó là do thầy hiệu trưởng báo cho cha mẹ con biết chứ con không biết gì hết.
- À, à, con giỏi thật nên quan trông coi về giáo dục mới đề nghị con được bourse đi học lên cao. Con cố gắng lên để trong điạ phương ta có người học hành đàng hoàng. Được, bác cho cháu ở tạm để đi học. Còn làm việc nhà tùy cháu làm được gì thì làm do bà ở nhà chỉ vẽ cho.
- Dạ đội ơn quan lớn.
Tâm rất mừng có chỗ ở đàng hoàng nơi nhà bếp của quan thông Tường. Cái bàn dọn ăn nơi nhà bếp là bàn học của Tâm và ngủ trên cái giường nhỏ kê sát bếp. Hàng ngày có bà nấu ăn cho gia đình quan thông và tối bà về nhà ở ngoại ô. Tâm làm việc rất chăm chỉ, khéo léo sạch sẽ chẳng bao lâu được bà thông tin tưởng. Những đồ ăn thừa của gia đình ông thông (ông bà có hai người con đang học trung học ở thị xã) đủ cho Tâm ăn. Rửa chén bác xong, lau nhà quét dọn xong, Tâm bắt đầu học dưới ngọn điện le lói ở nhà bếp.
Sự khéo léo thiệt thà chăm chỉ của Tâm làm cho ông bà thông rất vừa lòng. Tâm chỉ có hai bộ quần áo bà ba vãi thô thay đổi đi học hằng ngày. Đi chân trần không đội nón Tâm là một học sinh nghèo nhất trường. Ở nhà ông thông Tâm không tốn tiền phòng và tiền ăn vì đồ ăn thừa của gia đình đủ cho Tâm. Số tiền học bổng Tâm gửi nhờ bà thông giử hộ và khi về thăm nhà trong dịp Tết Tâm đem về cho mẹ. Nhờ ông thông giới thiệu một tiệm sách cho Tâm làm việc trong ba tháng hè. Số tiền lương này đủ cho tâm mua sách vỡ và cuối năm mua về cho mẹ chiếc áo ấm bằng len. Có số tiền dành dụm năm đầu đủ cho mẹ Tâm tạo gánh hàng xén hàng ngày bán ở chợ Nghĩa Điền. Ông Nhiêu theo lời bàn của Tâm để vợ ở nhà một buổi buôn bán ngoài chợ, một buổi chăm sóc cha già. Ông Nhiêu và hai người con trai tiếp tục đi lượm phân và trồng cây thuốc lá. Mùa mưa không đi lượm phân được ba cha con ông Nhiêu mua thuốc lá trong làng gánh đi bán các làng lân cận. Tâm thường nghĩ bằng mọi cách đưa cha mẹ ra khỏi cái nghề thê thảm để bước vào việc mua bán dù những thứ đơn sơ nhưng dần dần sẽ khá hơn đến một lúc thoát hẳn cái nghề mà cha của Tâm lâu nay tin tưởng là nghề chắc ăn nhất. Tâm học giỏi hàng năm lại mang số tiền lớn về cho gia đình, tuy ở tỉnh thành nhưng Tâm không một mảy may xa cách thôn quê, vẫn đi chân trần vẫn mặc quần áo vá, nói năng lễ độ khiêm nhường nên trong làng ai ai cũng mến. Người làng bảo con nhỏ đi ở mướn ngoài thành thị mà vẫn như đi ở mướn ở thôn quê. Tết đến Tâm đi với cha đến nhà ông xã Năm, đặt cặp rượu van- cư chính hiệu có nhãn in rõ ràng và cặp trà trên cái khay, thưa :
- Trình thầy lý cháu nó đi ở về ăn Tết xin đến kính biếu thầy gọi là tỏ lòng biết ơn thầy đã chỉ dạy con dân trong làng ăn ở có khuôn có phép. Thầy lý vui vẻ đáp :
- Ông bày vẽ, đến thăm tôi là đủ rồi. Nếu gia đình nào cũng đạo đức như gia đình ông thì đỡ biết bao nhiêu. Cháu còn nhỏ mà phải đi làm xa tội nghiệp. Cháu đi ở cho ai ngoài tỉnh.
- Dạ bẫm cụ, cháu đi ở cho ông thông Tường người trong huyện chúng ta.
- À à bác có nghe danh ông quan thông này là một ông quan đạo đức thanh liêm.
- Nói dấu gì thầy lý, nói thầy thương cho, gia đình chúng tôi đông con và khổ quá cho nên cho cháu nó ra giúp việc nhà cho quan thông trước là kiếm chén cơm no, sau là bắt chước học hành cái gia phong đức độ của người ta. Nói ông mừng cho mỗi năm ngoài cơm ăn, quan thông còn may cho hai bộ quần áo, và Tết về bà còn cho chút tiền về cúng ông bà.
- Ừ vậy là được chứ đừng đua đòi bắt chước người ta đi học làm sa đọa đạo lý thánh hiền nhé cháu. Con gái càng học càng hư nhất là không được đọc sách tiểu thuyết càng không xem hát hò làm hư đốn gia phong để tiếng xấu cho gia đình cho làng xóm. Cháu rời nhà quê ra tỉnh thành khó khăn lắm đấy nghe cháu.
Mấy năm sau gia đình ông Nhiêu làm quen với việc buôn bán thuốc lá . Cứ đến mùa xắt thuốc ông mua chất trong nhà, đến mùa mưa giá thuốc lên cao ba cha con ông gánh đi bán dạo những làng giàu có chung quanh. Gánh gánh thuốc đi bán ông cảm thấy vui vui không tủi thân như gánh gánh phân mỗi chiều về phải đi tránh chợ, tránh khu nhà giàu có, nhiều khi phải đi vòng vòng ngoài đồng ruộng để khỏi bị tạt nước xua đuổi chưởi bới vì mùi hôi thúi của phân.
Năm 17 tuổi Tâm đậu đầu với số điểm tối đa lại thêm một vẻ vang cho trường trung học trong thành phố. Buổi phát phần thưởng có quan công sứ quan tuần vũ đến dự. Qua thành tích học xuất sắc của Tâm làm quan tuần vũ hãnh diện vì người Việt nam hơn điểm xa đám học sinh người Pháp, con các viên chức Pháp, trong đó có con trai quan Công sứ đầu tỉnh. Tâm được vinh dự đọc bài diễn văn chúc mừng ông bà quan công sứ và quan tuần vũ. Bà công sứ bước xuống khán đài bắt tay Tâm và tỏ vẻ thích thú về thành tích học của Tâm và biết Tâm là con nhà rất nghèo ở nhà quê, bà hứa trước quan khách bà nhận đỡ đầu cô nữ sinh xuất sắc này và bà sẽ đưa vào trường Albert Sarraut ở Sài gòn tiếp tục học. Cả hội trường vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Bà còn bảo Tâm đến tư dinh bà ăn tối và tối đó bà cho Tâm một số tiền để tiêu xài trong ba tháng hè.
Nghe Tâm kể lại cả nhà đều mừng nhưng không dám cho người ngoài biết. Trong lúc vui vẻ bà Nhiêu nói lâu nay cha ổng mơ được ở nhà ngói ít tháng rồi nhắm mắt ra đi ổng cũng vui, vì đó là giấc mơ của cha, một giấc mơ không bao giờ thực hiện được , nhưng bây giờ trời ngó nghĩ đến gia đình mình, cho mình làm ăn khá hơn mấy năm, lại có con gái nó tiện tặng không dám tiêu xài một đồng nào, tất cả tiền nó có được đem về đưa hết cho tui. Vậy biết đâu đó là ý trời, thì chúng ta nên làm cái nhà ngói cho cha ổng thỏa lòng trước khi nhắm mắt. Tâm rất ngạc nhiên không ngờ có người mẹ ít nói mà hôm nay nói có tình có lý hay quá, nhất là có lòng kính trọng ông nội tức cha chồng của mẹ. Tâm tán đồng ngay. Hai người anh của Tâm rất phấn khởi, được đấy theo ý mẹ để cho ông nội vui lòng, và bọn con sắp có vợ có cái nhà xinh đẹp chứ lâu nay gia đình mình chui rúc trong cái ổ chuột này thê thảm quá. Cha vui lòng đồng ý đi cha, để cho ông nội vui trong những ngày cuối của cuộc đời. Ông nội mừng ứa nước mắt nghẹn ngào : “ Tao nghe bay nói tao đủ sướng rồi, dù chưa có nhà như vậy đêm nay tao có nhắm mắt theo ông bà tao cũng vui.”
Ông Nhiêu bảo để coi thử rồi hãy tính, vì ở địa phương mình ăn thì dễ nhưng ở thì khó lắm. Lâu nay con Tâm luôn luôn là con đi ở mướn, tất cả người trong làng đây đều nhìn nó như vậy, nên gia đình chúng ta luôn được bằng an. Bây giờ nếu dựng lên ngôi nhà ngói e có nhiều điều ganh ghét thì phiền lắm. Thôi để đó rồi sẽ tính từ từ.
Tuy e dè lo lắng như vậy nhưng ba cha con ông Nhiêu ban đêm gánh đất dưới bờ suối đổ cao nền nhà. Âm thầm làm việc trong một năm ông Nhiêu đắp một nền nhà cao đẹp dọc bờ suối. Tâm học ở trung học Albert Sarraut theo chương trình của nước Pháp, Tết đến về thăm nhà vẫn là một con ở về ăn Tết như các năm trước. Thấy cha và anh đổ đất làm nền nhà cao Tâm nói ít hôm nữa mình có ngôi nhà ngói trên bờ suối thật đẹp. Ông Nhiêu vẫn lo lắng nói với con sẽ gặp nhiều trở ngại nếu mình không lo lót chạy chọt các nhà có thế lực trong làng này. Tâm không hiểu cha nói cái gì nhưng hi vọng sẽ có ngôi nhà ngói cho ông nội vui và hai anh có vợ có chỗ ở. Tâm nói với cha : “ Cha đừng mướn người thượng vào rừng đốn gỗ làm như thế là phạm luật quan trên họ phạt nặng có khi bị tù. Cha để con hỏi những người chuyên môn làm một cái nhà theo ý cha muốn tốn bao nhiêu gỗ bao nhiêu ngói rồi con mua, họ chở đến quốc lộ nơi gần làng mình, lúc bấy giờ cha mới mướn người thượng họ chuyển số vật liệu đó về nhà mình. Làm như thế hợp pháp và dễ dàng hơn cho cha. Vậy còn một việc là cha tìm thợ làm nhà và định ngày khởi công. Ông Nhiêu nghe người con gái nói ông rất vui mừng vì có bao giờ ông nghĩ đến ngôi nhà ngói, nói chi đến làm nhà ngói thì ông hoàn toàn không biết. Nay con nó lo hết các việc khó khăn đó nên ông rất vui mừng.
Toán người thượng mười mấy người lực lưỡng trong suốt ba bốn ngày mới đưa hết đống gỗ sắp đặt ngay thẳng trên nền nhà. Cả nhà vui mừng.
Sáng hôm sau ông Nhiêu đem chai rượu hai gói trà đến nhà ông xã Năm lễ phép thưa :
- Thưa thầy xã, nhà tôi đông người trẻ con bây giờ lớn rồi nhà chật chội không có chỗ nằm nên tôi xin phép thầy xã tôi làm cái nhà khá hơn rộng hơn cho có chỗ ở cho con cái ở. Nhân tiện kính biếu thầy cặp trà chai rượu tỏ sự kính trọng của gia đình tôi đối với thầy. Thầy xã vui vẻ nhận quà nói : “Ông làm nhà tôi rất mừng cho ông và phục ông nữa là khác vì thời buổi đắc đỏ mà tầng tiện làm được nhà là giỏi lắm. Vậy chừng nào khởi công.
- Dạ thưa trước với thầy xã có lẽ chờ qua mùa mưa mới làm.
Sáng hôm sau chú Thập đến nhà lý trưởng thật sớm. Chú Thập hớp miếng trà nóng buổi sớm rồi nói :
- Ông nghe gì chưa ? Đúng là chó nhảy bàn độc. Nghe nói tên Nhiêu lượm cứt ở bờ sông nay muốn làm ngôi nhà ngói. Nghe tin tôi không thể tin, nhưng tôi đến xem thử thì ra ông ta đã đổ cái nền thật cao một đống gỗ cao như núi thì hóa ra là không phải tin vịt, mà tin thật, nên sáng nay đến báo ông biết để kịp thời đối phó. Ông xã Năm tỏ ra vẻ bình tỉnh :
- Hôm trước ông Nhiêu có đến thăm tôi biếu gói trà và xin phép làm nhà có nghe chả nói gì nhà ngói đâu, để gặp anh hương kiểm Ất rồi tính tìm cách chận đứng những manh động của bọn lớn láo mặt áo không qua khỏi đầu. Nhưng theo ý chú thì sao ?
- Theo tôi thì tìm mọi cách khuyên chả nên dẹp cái chuyện lớn láo đó đi, ai có nghĩ rằng bọn đi lượm phân lượm cứt mà xây nhà ngói thì đúng là chưởi cha bọn mình. Chú Thập tính ra về thì hương kiểm Ất đến cũng để báo cái tin làm nhà ngói của ông Nhiêu.
- Không biết có phải làm nhà ngói không, chỉ thấy đống gỗ chất trên nền nhà biết thằng cha này làm cái nhà lớn lắm qui mô lắm chắc là, xin lỗi ông , có thể lớn hơn ngôi nhà của ông hiện giờ.
Chú Thập xen vào:
- Nghe nói chả có đứa con gái làm hầu làm thiếp gì cho tên nhà giàu ở thị xã nên có khối tiền đem về cho cha nó xây nhà. Ông xã Năm nói :
- Họ nói tầm bậy con gái chả đi ở mướn cho ông thông Tường, Tết vừa rồi hai cha con có đến chúc Tết tôi cho biết như vậy chứ làm gì có chuyện thê thiếp. Nhưng bây giờ theo ý hai ông thì sao cho tôi biết để mà liệu tính chứ không thì muộn mất.
- Việc đâu còn đó để xem sự thể như thế nào rồi tính cũng không muộn. Ông hương kiểm Ất nói như vậy.
Gia đình ông Nhiêu bỏ hẳn nghề lượm phân, một phần vì bây giờ làm ăn khá hơn trước nhiều vì ông và hai người con trai buôn thuốc lá, bà Nhiêu có quày hàng tạp hóa tại chợ Nghĩa Điền, hàng năm tiền học bổng tiền làm thêm việc Tâm đem về cho mẹ. Có thể nói gia đình ông Nhiêu khá giả nhất trong làng Cà Tung nhưng không ai biết điều đó. Dân làng vẫn nghĩ Tâm đi ở mướn ngoài thị xã, ông Nhiêu già yếu bị suyển nặng không thể đi lượm phân được. Điều khôn ngoan của vợ chồng ông Nhiêu là sống rất khiêm nhượng không khoác lác như những gia đình khác mà nổi bậc nhất là gia đình chú Thập và đặc biệt hai người con trai lớn của ông không học hành gì hết nhưng lúc nào cũng huyênh hoang tự cao tự đại. Hơn nữa vì từ nhỏ Tâm không muốn gia đình làm cái nghề thê thảm quá, cái nghề bị người ta khinh khi quá, khi lớn lên có điều kiện Tâm tìm cách chuyển hướng cho cha mẹ theo con đường buôn bán. Có lần Tâm nói với cha mẹ người Trung hoa có câu “ phi thương bất phú” rồi Tâm giảng cho cha mẹ câu ấy có nghĩa là không buôn bán không giàu được. Cho nên phải tập buôn bán ban đầu gặp nhiều trở ngại nhưng dần dần rút kinh nghiệm khá lên và sẽ giàu có. Tâm từ nhỏ đã có tinh thần đổi mới vươn lên và luôn luôn tìm cách sửa đổi hoàng cảnh. Từ 8 tuổi Tâm đã tìm cách làm bánh bán cho trẻ con người thượng để tạo cho được hai sắc chén cơm hàng ngày cho cha mẹ khỏi buồn phiền. Tâm đem cái tinh thần đó vào trường học và đã đạt nhiều thành quả tốt đẹp.
Ông Nhiêu suy nghĩ mãi không tìm ra cách nào để khởi công ngôi nhà, giấc mơ của thân phụ ông và cũng là giấc mơ cả nhà ông. Ông biết gặp rất nhiều trở ngại vì trong làng chỉ có ngôi đình ngôi chùa lợp ngói, và nhà ông lý trưởng cũng là nhà ngói nhưng chỉ có mái trước lợp ngói còn mái sau lợp tranh. Bởi vậy khi ông dựng ngôi nhà ngói xinh đẹp theo kiểu vẽ của đứa con gái của ông, thì cả làng chắc đều ganh tị đều thù ghét ông, nhất là các gia đình có thế lực trong làng. Tuy nói dân làng nhưng thực sự đáng sợ chỉ ba gia đình là ông lý trưởng gia đình ông hương kiểm và gia đình chú Thập.
Suy nghĩ mãi ông quyết định sẽ mua đứt ba gia đình này. Có như thế mới khởi công được. Việc dùng tiền mua đứt này ông không cho người nhà biết nhất là Tâm vì ông biết lớp trẻ có đi học nó không chịu được cảnh đút lót, mà không đút lót thì không thành được.
Trên cái khay đặt cặp trà chai rượu và cái bì thơ, ông Nhiêu đứng dậy lễ phép thưa :
-Thưa thầy lý, gia đình chúng tôi đi lượm phân dành dụm trên hai mươi năm, cha tôi gần đất xa trời ổng mơ được ở dưới mái ngói ít ngày rồi ổng qua đời, bởi vậy chúng tôi đánh bạo dựng ngôi nhà đơn sơ lợp ít miếng ngói cho ông già vui lòng. Nhưng tôi hiểu phép vua thua lệ làng nên tôi đến đây xin phép thầy vui lòng chấp thuận cho cha tôi ổng vui lòng trước khi nhắm mắt. Ông xã Năm cười :
- Đối với tui mà chú khách sáo quá, chú ngồi xuống uống nước với tôi rồi mình tâm tình chứ chú bày lễ vật tôi ngại quá, mình là anh em mà, Mình cùng cảnh ngộ, mình không thương với nhau thì ai thương mình. Tôi đề nghị chú tôi chỉ xin nhận cặp trà cho chú vui lòng, còn các thứ khác xin chú đem về. Tôi biết chú sắp làm nhà trăm thứ tốn kém. Tôi cũng mừng chú làm được ngôi nhà cho ông cụ vui lòng.
- Dạ không dám thầy là người đứng đầu trong làng chúng ta, chúng tôi phải có bổn phận kính trọng. Tuy là nghèo, dốt nát nhưng lúc nào chúng tôi cũng tôn trọng đạo lý của ông bà để lại, biết kính trên nhường dưới. Bởi vậy xin thầy nhận cho đó cũng vì đạo lý tôn ty trật tự thầy nhận cho. Uống xong chén nước ông Nhiêu xin phép ra về. Đưa khách ra khỏi ngõ ông lý hỏi :
- Chừng nào ông khởi công.
- Dạ theo thầy xem tuổi tôi và vợ tôi phải tháng 7 sang năm mới được. Thì chờ non một năm nữa cũng không sao.
Ngay chiều hôm sau ông Nhiêu đến thăm nhà ông hương kiểm và chú Thập. Cả hai đều cũng như ông lý đều chối từ nhưng sau cùng vạn bất đắc dĩ phải nhận chai rượu hai gói trà và cái bì thư.
Buổi chiều ánh nắng vàng yếu ớt trải trên bờ suối lòng ông Nhiêu cảm thấy thư thái. Nhìn nền nhà đắp cao, đống gỗ nằm trên nền, ông cảm thấy ít khi thấy lòng phấn khởi như chiều nay, bổng dưng ông nhớ đến đứa con gái út đang ở xứ Đồng nai xa tắp đang ở Sài gòn. Mỗi năm nó về ba ngày Tết rồi ra đi, ông không biết con gái ông học cái gì mà từ tám chín tuổi đến nay mười bảy mười tám còn đi học. Ông nghĩ sao nó không sang cho hai anh nó kiếm ít chữ để khỏi bị khinh khi.
Tâm đậu đầu tú tài Tây với số điểm tối đa, báo chí ở Sài gòn và cả những tờ báo lớn ở Paris đều đăng tin đặc biệt đó, nhưng trong làng vẫn cứ nghĩ rằng Tâm vẫn ở đợ cho nhà ông thông ở thị xã. Tết về thăm nhà Tâm cũng không giải thích cho cha mẹ và hai anh biết sự thành đạt của mình vì người nhà chỉ cần biết Tâm học giỏi là được rồi.
Kết quả xuất sắc của Tâm qua lời giới thiệu của quan đô chánh Sài gòn của ông hiệu trưởng trường Albert Sarraut và cuối cùng lời đề nghị của quan toàn quyền Đông Dương Tâm được học bổng của đại học Sorbone , một đại học danh tiếng bậc nhất của nước Pháp. Về ăn Tết lần này rồi ba năm sau Tâm mới về lại thăm gia đình.
Cả nhà ông Nhiêu không biết nên mừng hay nên lo khi nghe Tâm nói đi Pháp ba năm để học. Mẹ Tâm vừa khóc nói :
- Đi đó là đi Tây hở con ?
- Dạ đi Pháp là đi Tây. Ông Nhiêu buột miệng :
- Trời ơi sao người ta bắt con đi Tây. Con biết không cha có đứa em thúc bá vì hoang đàng đi lính Tây rồi chết luôn bên Tây. Sao con lại đi Tây cha sợ quá.
Tâm phải giải thích cặn kẻ để cho cha mẹ hiểu đi Tây của Tâm khác đi Tây của ông chú trong họ như cha vừa kể. Con đi học ba năm rồi về rồi làm việc lương lớn lắm cha mẹ và hai anh không cần phải lao động vất vả nữa.
Nhìn đống gỗ trên nền nhà Tâm nghĩ ba năm sau nơi đây sẽ là ngôi nhà ngói xinh xinh bên bờ suối. Khi về nước nhất định mình sẽ xây ngôi trường cho trẻ em trong làng, xây chợ và một thư viện cho người trong làng và làng Cà Tung sẽ không thua các làng khác. Tâm dặn cha :
- Khi làm nhà xong cha nên nhớ vườn trước, sân trước cha trồng bông hoa cho con đừng dùng sân để phơi phân hay trồng rau đấy nhé cha. Ông Nhiêu cười :
- Phân đâu nữa mà phơi gia đình chúng ta đã bước lên một bước rồi, con yên tâm gắng giữ sức khỏe ba năm sau về nhà. Con đi cha mẹ nhớ quá nhất là mẹ con mấy ngày nay bà khóc mãi.
Sáng hôm sau ngày mùng 6 Tết cả nhà Tâm qua sông Suối cạn để gặp thầy hiệu trưởng trường Nghĩa Điền. Thầy hiệu trưởng vui mừng vì đã nâng đỡ đúng một người học sinh giỏi . Thầy cùng với ông Nhiêu bà Nhiêu và hai con trai đưa Tâm đến ga xe lửa để vào Sài gòn đi Pháp. Đó là tháng hai năm 1941 lần đầu tiên một người học sinh Việt nam ở Trung kỳ được học bổng sang học trường Sorbone Paris.
Trời tháng năm nóng quá ông Nhiêu quá nửa đêm vừa chợp mắt bổng sức nóng ở đâu kinh khủng xô tấp vào người ông. Giật mình tỉnh giấc trời đỏ như máu, lửa bốc cháy đến tận giường ông nằm. Hoảng hốt ông la lên. Lửa cháy nhanh quá bốn bề toàn là lửa cả một trời lửa. Bà Nhiêu la lớn hãy kéo cha ra mau lên mau lên. Ông Nhiêu hốt hoảng không còn biết gì nữa. Hai người con trai vội kéo ông già ra khỏi lửa. Lửa cháy đến hai ống quần ông già và ông ngất xỉu. Đỏ rực cả một góc trời. Dân làng bên này và bên kia suối đều chạy đến cấp cứu. Người ta múc nước dưới suối tưới vào lửa. Một hồi lâu lửa hạ xuống. Cỏ rơm tủ đống gỗ bốc cháy túp nhà tranh ông Nhiêu bị thiêu rụi. Đống gỗ cháy một phần thành than đỏ, phần còn lại được tưới nước dập tắt, khói bay khét cả một vùng rộng. Hai người con trai võng ông già chạy lên quốc lộ thuê gấp xe ngựa đưa ông ra bệnh viện thị xã. Xe ngựa chạy nước đại khẩn cấp. Được nửa đường ông già tỉnh lại đòi uống nước. Hai chân ông già cháy đen như than, bất động. Ông thì thào :
“ Chắc ông qua không nổi, con nhớ lời ông dặn nói với cha mẹ con nên dời về quê ngoại của ông ở bên kia đèo nơi đó người dân hiền lành đạo đức thật thà hơn bên này đèo. Về bên đó làm nhà ngói không sao không ai ganh ghét, con nhớ kỹ chưa.
- Dạ con nhớ rồi nhớ lời ông dặn rồi.
Xe chạy vừa đến cổng bịnh viện thì ông già tắt thở. Bác sĩ cho biết ông già bị phỏng nặng quá, sức già yếu chịu không nổi.
Ông Nhiêu chôn cất cha ngay trên nền nhà cũ của ông. Người đến chia buồn rất đông có ông hiệu trưởng trường Nghĩa Điền có ông lý trưởng ông hương kiểm và chú Thập. Bà Nhiêu khóc lóc kể lể thảm thiết. Hai đưá cháu trai mặt lầm lì buồn. Ông Nhiêu không khóc không nói một lời, hai khoé mắt máu chảy ra mặt. Chú Thập vừa lạy bàn thờ vừa khóc than như khóc người thân yêu của chú.
Nâng chén trà buổi sáng ông lý hỏi hương kiểm Ất :
“ Theo ông vụ hoả hoạn vừa rồi do vô ý lửa củi hay oán thù”.Hương kiểm Ất cười :
Thầy biết rồi mà hỏi gì. Tôi nghĩ có thể là vô ý để tàn thuốc lá gây ra hỏa hoạn.
Vừa lúc đó chú Thập bước vào, ông lý trưởng nói đùa :
“ Chú Thập, chú mà sinh thời Tam Quốc thì chú có thể sánh Khổng Minh Gia Cát” Chú Thập đỏ mặt :
- Quí thầy dạy quá lời. Hương kiểm Ất bồi thêm :
- Còn hơn Gia Cát nữa, vì Gia Cát chỉ tham mưu chứ không hành động. Bằng ông Gia Cát cộng với ông Trương Phi
- Các thầy biết đùa. Chú Thập nói xả lả. Chú Thập nói tiếp :
- Hoàng thiên hữu nhãn, trời có con mắt, mấy thằng lớn láo không biết phận mình, khoe khoan giàu có thì trời không dung đất không tha.
Tuần xong 49 ngày, sáng hôm sau, hai chiếc xe ngựa chở chiếu màn nồi niêu và gia đình ông Nhiêu. Hai con ngựa cố sức bước những bước chầm chậm lên dốc, kéo qua bên kia đèo.
Nguyễn Liệu
|
|