| |
ĐẠI HỌC
NHÂN QUYỀN VIỆT NAM |
|
|
 |
|
|
|
Tương lai
của văn-chương Việt Nam
Nguyễn Vy Khanh* Canada

1. Hiện đại, ‘hôm nay’
Bài viết này hướng đến tương lai và viễn tượng, trong lãnh vực văn học và thiển nghĩ từ nền tảng, một số đặc tính của của văn-chương vẫn chưa thực sự được các nhà văn thơ Việt-Nam khai thác, áp dụng. Mặt khác, những gì vừa xảy ra (và tiếp tục) ở vùng Biển Đông khiến bàn về văn-học nếu muốn không ‘viễn mơ’ thì không thể không nói đến thời sự và bối cảnh chính-trị, lịch-sử. Ở đây chúng tôi bàn về viễn tượng văn-chương hơn là tương lai văn-học!
Trước hết, hãy nói về tính hiện đại - theo nghĩa ‘hôm nay’, là đặc điểm cần có cho sinh hoạt văn-chương cũng như cho mọi canh tân: hiện đại về đề tài, về thể loại hình thức, về nội dung và một số nguyên lý (cứu cánh) của chính nền văn-học.
Người đọc văn chương hiện nay thường gặp những đề tài về đời sống mới, hội nhập hay ghetto, tâm lý, đổ vỡ và hậu quả chiến
tranh dù cuộc chiến đã tàn từ hơn ba thập niên trước. Di chứng của chiến tranh đi vào trong văn-học như là một trong những vấn đề lớn của hôm nay. Một đề tài thường gặp khác là tình yêu (thường là của ngày xưa nay nhớ lại) và tâm linh. Tâm linh là một trong những đề tài hiện-đại nhất. Lý do đầu tiên ai cũng biết đó là thế giới càng tiến bộ về vật chất và kỹ thuật thì càng để lộ khiếm khuyết về tâm linh; con người càng văn minh và đầy đủ vật chất thì càng có nhu cầu về tâm linh, và nhu cầu này phát xuất ở nhiều lứa tuổi.
Thứ nữa, với cộng đồng Việt-Nam hải-ngoại sau hơn 35 năm chúng ta đã đi từ cái tuổi thiếu niên đến trưỡng thành và đang lão hóa, lão hóa đồng hành với nhu cầu tâm linh càng lớn mạnh. Trong một số tác-phẩm, đời sống tâm linh được chú tâm hơn và một cái nhìn khác về đời sống ở đất người, rồi đến kêu thương, cứu rỗi. Nhu cầu tìm cứu rỗi vì tâm linh bị động, vì con người đang bị nhiều chứng nan-y làm mục nát thế xác cũng như tinh thần. Chúng ta có thể nói đến một truyền thống văn-học tâm linh, với những tác-phẩm (đề tài, bối cảnh) và nghệ thuật của một số tác-giả. Có những tác-phẩm bắt nguồn cảm hứng từ tín lý cac tôn giáo cả một số tác-giả trong nước gần đây (Nguyễn Viện, Nguyễn Đình Chính, Tạ Duy Anh, Đỗ Minh Tuấn, v.v.), như kiếm tìm về một nguồn tâm linh, tư tưởng có thể đáp ứng được nhu cầu tinh thần và cảm xúc, mà chủ nghĩa ống loa tuyên truyền và đời sống bưng bít sự thật đã đưa đẩy con người vào ngõ bí. Nếu căn bản đạo đức (ethic) của văn-chương là nhắm đưa đến cứu rỗi; thì tôn giáo cũng đưa đến cứu rỗi; nhưng mỗi bên có những khác biệt đặc thù. Nhà văn Nga Dostoievski từng viết trong truyện Thằng Khờ (L’Idiot) “cái Đẹp sẽ cứu rỗi nhân loại / la beauté sauvera le monde”, một câu nói được xem như lời sấm và được các nhà lý luận nghệ thuật sử dụng lại. Câu nói của Dostoievski như muốn xác quyết cái mối liên hệ thiết yếu cần có giữa cái Đẹp mỹ thuật, âm nhạc, văn-chương v.v. với tìm kiếm tâm linh và không gì khác sẽ cứu con người. Như vậy phải sống và tin trước khi làm một cái gì, như sáng tạo văn thơ, để cho tha nhân đọc được, thấy được, hiểu được, cái “Đẹp bên trong” nơi nhà văn thơ, khiến cây bút đó trở thành chứng nhân sống động.
Một nhà văn người Nga khác, Alexandre Soljenitsyne, nạn nhân chế độ toàn trị, giải Nobel Văn-chương năm 1970, một tiếng nói lương tâm sáng giá của thời hiện đại, ông vừa mới mất năm 2008, đã phải rời bỏ quê hương để sống lưu vong và để được tự do sáng tác, đã nhiều lần lên tiếng chống lại nghệ thuật trừu tượng, vì theo ông, nghệ thuật phải là một đảm bảo hoàn toàn thật sự khả tín về sự thật và cho phép lương tâm chúng ta tỉnh thức một cách cụ thể và khách quan trước những gian dối có hệ thống của nền văn hóa vật chất và lợi nhuận. Nếu không có cuộc sống tâm thức này, cái hèn hạ sẽ tiếp tục con đường của nó trong ý thức chúng ta. Cả hai nhà văn người Nga tuy sống vào hai thời điểm khác nhau nhưng có cùng nhận thức từ kinh nghiệm sống về văn-nghệ và mỹ thuật: một lời chân lý còn nặng hơn cả thế gian cộng lại!
Hiện-đại về đề tài còn là những vấn đề của hôm nay, những đổi thay hoàn cầu ảnh hưởng đến con người: môi trường ô nhiễm, tai họa thiên nhiên, tham vọng con người khiến sự hiện hữu, tồn tại của nhân sinh bị đe dọa. Làm thân lưu vong hay tị nạn hay vì lý do gì khác, thì thân phận đã hoàn toàn xa lạ, xa lạ với người bản xứ, nhưng đồng thời chính mình bị cái khác, cái của người lôi cuốn, bắt phải nhìn, học hỏi và tiếp nhận làm của mình. Tình cảnh căn cước nhà văn di trú, lưu vong hình thành từ phản ứng lại những nhóm và thành phần khác của xã hội, như Jean-Paul Sartre khi nghiên cứu về căn cước (identité) người Do thái đã nói rằng tình cảm chung nhóm hình thành từ cái nhìn của người khác (1).
Với nhà văn ở hải-ngoại, cảm hứng nảy sinh từ việc đào sâu những vấn đề, khía cạnh của cuộc sống ở xứ người, như nơi tạm dung hay một quê hương mới, sống bên lề hay nhập dòng chính, sống thân phận di trú, thiểu số trong một ghetto hay như một công dân toàn diện. Những suy nghĩ về quê hương mới, về không gian mới mở ra, cái không gian đó rộng hẹp ra sao, có gì đặc sắc, làm phong phú thêm hay gây vấn đề cho người Việt-Nam, cụ thể ở Boston hay Paris, Little Saigon, Sydney, Montréal, Rome, v.v.; hay rộng lớn hơn của ‘thế giới’ Việt-Nam hải-ngoại, như một ‘cõi nhân sinh’!
Nhân vật dĩ nhiên sẽ đa dạng hơn, có người Việt thuần và có người vẫn da vàng nhưng đã hội nhập từ thân xác đến tư tưởng, nếp sống; có người Việt bảo thủ và người Việt khai phóng; và có những nhân vật người bản xứ, với họ và qua họ mà tác-giả có thể cụ thể hóa thành con chữ những gì muốn nói và trình bày, cho tha nhân người Việt và người bản xứ nếu tác-phẩm viết bằng ngôn ngữ bản xứ (Anh, Pháp, Đức, v.v.). Đây là hiện-đại và hoàn cầu hóa về ngôn ngữ sử dụng, một khía cạnh khác của văn hóa Việt-Nam hôm nay! Đã có những tác-phẩm của người Việt sống ở ngoài nước đi vào con đường này, nhưng trở nên trội bật và có giá trị văn-chương hãy còn rất ít! Trong những ngày đấu năm 2010, một nhà văn Pháp-thoại ở Québec, Kim Phúc được xem như là khám phá mới với tác phẩm đầu tay Ru, mới vì từ hoàn cảnh bi thương và nếp sống hội nhập không lựa chọn đã có những cái nhìn và cảm xúc rất văn chương và rất khác, rất lạ lẫm / exotique với thế giới tiểu thuyết Pháp và Québec!
Về thể loại, hiện-đại theo nghĩa “hôm nay” chứ không phải là chủ nghĩa hiện-đại (rồi hậu hiện-đại) dù rằng cụm từ “hôm nay” hàm chứa tính hiện-đại, nhưng “hôm nay” còn thêm nghĩa hoàn cầu hóa, “đổi mới”, “cập nhật” và “hội nhập” để theo kịp thời đại và tâm thức người đọc hôm nay. Đổi mới, làm mới văn học nghệ thuật, dĩ nhiên là những định luật thiết yếu đế hướng về phía trước. Chúng ta thường nghe nói nhiều những trường-phái tư tưởng và văn-học Hậu hiện-đại, Hậu thực dân, Tân Hình thức, Tân Tự-do, Nữ quyền, v.v. ; tất cả theo thiển nghĩ là những phương tiện tốt cho công việc làm văn-học nghệ thuật, đã và sẽ có những công trình tuyệt vời về nghệ thuật. Nhưng không phải cái gì mới cũng hay và thời gian là vị giám khảo công bằng nhất. Nếu theo dõi các sinh hoạt văn-nghệ Việt-Nam chúng ta đã thấy những bài thơ văn phát sinh từ những kỹ thuật điện toán, đa phương tiện hay làm dáng đến kỳ quái, dung tục, cả vô văn hóa và mất cả nhân-bản. Có thể nêu ra những thể loại bị lạm dụng: thơ, tiểu thuyết lịch sử, hồi ký, v.v., hoặc nói khác đi, người làm văn nghệ là kẻ đã sử dụng cho mục đích ngoài văn chương – song song với những hiện tượng
như báo chí thông tin biến thành flyer quảng cáo! Mặt khác, các blog tản văn tản mạn, viết nhanh, biến giai thoại (anecdote), tin đồn thành ‘biến cố’, ‘dữ kiện lịch sử’ văn học’, các ‘bút ký’ kiểu
‘công tử Hà-đông’, cắt/dán, ‘trích’ rồi ‘ngưng trích’, chiều theo thị hiếu và nếu không thì cũng khiến cho thị hiếu đọc, viết và biên khảo dễ dãi, mất giá trị khách quan và thì giờ mọi người. Có thể nói văn-chương nghệ thuật là tặng vật mà người văn nghệ sĩ đem đến cho người thưởng ngoạn, cho cuộc đời. Nhưng có người chỉ chú ý đến nội dung và tư tưởng, có người lại chỉ trau chuốt hình thức và dễ chạy theo trào lưu nhất thời.
Tính hiện-đại cũng được hiểu là rời bỏ, là đối chọi với truyền thống, cổ điển, nhưng cái Đẹp thường là phổ quát, như một giá trị ‘bền vững’. Lấy thí dụ nghệ thuật khỏa thân không phải thời nay mới có. Cái khác nhau, đó là thời nay khỏa thân tràn lan khắp nơi và đủ thể cách, cả dung-tục, sát mặt đất trong khi ngày xưa thì nhắm đến cái Mỹ toàn thiện. Lầm lẫn phương tiện với mục đích, đó là lý do đã gây nên biết bao chiến tranh, đổ vỡ xã hội và thất bại, bị xóa bỏ trong văn-chương nghệ thuật. Không phải hễ cứ nói hiện đại hoá là tức khắc có sự nghiệp hiện đại hoá; ở mỗi tác-giả mỗi kết quả, thành tựu khác, đích thực có mà như trò hề cũng có. Hiện đại hóa phải mang nội dung văn hoá , chứ không là hiện đại hoá đa tạp, giả tạo.
Về nội dung, văn-học hiện-đại cần đến luân lý và ý thức, ít ra của thời đại mình. Mọi canh tân đều cần đến luân lý làm người và là người có tâm thức, có hồn. Thời Tự Lực văn đoàn đầu thế kỷ XX các nhà làm văn-nghệ đã chủ trương và họ đã làm mới văn-học nhưng luôn có một luân lý tiềm ẩn đằng sau, dù theo khuynh hướng hiện thực hay lãng mạn. Luân lý bắt đầu đổ vỡ vào thời Sáng Tạo những năm cuối thập niên 1950 ở miền Nam đã chủ trương phá bỏ văn học tiền chiến, theo siêu thực, tự do. Rồi khoảng hai thập niên gần đây, nhiều nhà văn trong và ngoài nước còn đi xa hơn, khai thác những bản năng xác thịt và tư tưởng, tâm hồn hoang đàng, lệch lạc. Làm như càng ngày con người càng rời xa nhân bản, có thể vì theo thời, ham vui, hoặc thiếu đức tin làm nền tảng.
***
|
| |
|
| |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
| |
|
| |
|
|
|
|