ĐỊA NGỤC CÓ THẬT

Nguyễn Quang

PHẦN MỘT
CHƯƠNG 3 h

 

RỐI LOẠN TƯ DUY.


            Theo Pascal: ”Con người là một cây sậy biết suy nghĩ”. Tư duy là một quá trình hoạt động tâm thần phức tạp, là hình thức cao nhất của quá trình nhận thức. Hoạt động của tư duy gồm có: phân tích, tổng hợp, so sánh, khám phá và trừu tượng hoá, phán đoán suy luận và cuối cùng tìm ra kết luận.
            1.Rối loạn tư duy qua ngôn ngữ: có thể phân chia rối loạn ngôn ngữ như sau:
            -Theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh chậm.
            -Theo hình thức phát ngôn.
            -Theo kết cấu ngôn ngữ.
            Theo ý nghĩa, mục đích của ngôn ngữ.
            1,1.Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ nhanh:
          Tư duy phi tán (flight of ideas): quá trình liên tưởng của người bệnh rất nhanh chóng, các ý nghĩ, nhận xét xuất hiện nối tiếp nhau mau lẹ và nông cạn trong đầu óc các tù nhân loại nầy, ý tưởng họ luôn luôn thay đổi theo tác động bên ngoài. Trường hợp nầy có thể gọi là cơn lốc của tư duy. Họ nói thao thao bất tuyệt, việc nọ chưa xong đã nói sang việc kia, không có một chủ đề nào nhất định cả. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm.
            Cụ thể:
            -Châu sáng Thế: luôn vui vẻ, hoạt bát, nói huyên thuyên.
            -Nguyễn văn Chức: nói huyên thuyên.
            -Nguyễn văn  Lịch: lúc nào cũng cười nói huyên thuyên.
            -Lê phạm Long: chuyện gì cũng có thể bàn, cũng có thể nói.
            -Nguyễn văn Ban: nói hứng thú đến lắp bắp.
            -Lưu Trung: nói hứng thú đến các răng cà như đánh nhịp san sát với nhau.
            -Nguyễn văn Đức, Nguyễn văn Liêm, Võ Kích: hứng lên mặt đỏ, dễ nổi nóng, tiếng trước nói, tiếng sau là nhảy vào đánh nhau liền liền.
            -Nguyễn văn Thìn, nói rất nhanh đến líu lưỡi.

          Tư duy dồn dập (accelerated thinking): các tù nhân loại nầy trong đầu óc luôn dồn dập đủ mọi ý nghĩ. Những ý nghĩ nầy xuất hiện ngoài ý muốn và người bệnh không sao ngăn cản được. Họ luôn luôn nghĩ trong đầu mà theo họ không thể viết ra hết đựợc, nào hết học thuyết nầy đến học thuyết khác, nào chương trình kinh tế vĩ mô nầy đến chương trình kinh tế khác, nền đạo đức nhân bản nầy đến nhân văn khác. Và trong cái đói cồn cào của bao tử khiến tư duy không ngớt nghĩ về các món ăn và cách nấu nướng... hầu hết các tù nhân đều luôn có ý nghĩ miên man về mọi vấn đề mà thực chất không hình thành đến đâu cả, nhưng nghĩ cứ nghĩ.
            -Tù nhân Nguyễn văn Hương, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, nguyên là một sĩ quan trong chế độ miền Nam tâm sự: nằm suy nghĩ hết chuyện nầy đến chuyện khác đầy những toà nhà tưởng tượng nhưng không đâu vào đâu cả... nhất là lúc nằm kiên giam chỉ có ngủ và nghĩ ngợi về đủ mọi thứ chuyện.
            -Tù nhân Huỳnh văn Hừng, án trên mười năm, tuổi ngoài năm mươi, ông luôn tâm sự không lúc nào mà không nghĩ đến chuyện non sông đất nước nó như là cái nghiệp của đời mình, nhưng nghĩ mãi không đâu đến đâu cả vì cái học của mình quá ít, không thể hình thành các tư tưởng cũng như các học thuyết được. May ra nó chỉ có tên mà không có nội dung.
          Nói hổ lốn (logorrhoea): Người bệnh nói luôn mồm, ý tưởng linh tinh và nội dung vô nghĩa. Gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và trong trạng thái tâm thần sa sút.
            -Cụ thể: có một số tù nhân nói luôn mồm nhưng không có nội dung. Những ý tưởng về mọi thứ nhưng không rõ ràng, như thường phê phán về nhân vật chính trị nầy hoặc chính khách nọ. Nói xấu hết người này đến người khác và cuối cùng nói xấu lẫn nhau. Hầu như trong lĩnh vực chính trị không có sự nghĩ tốt về người khác. Như thường tung ra các tin tức thời sự suy diễn theo các bản tin chính thức của nhà nước như nào có tin đồn như thế nầy thế nọ, thậm chí các bạn tù thường kháo vói nhau về loại người đó: ”vừa vào nhà vệ sinh xong trở ra đã có tin mới”.
            -Tù nhân Nguyễn văn Hưng, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, miệng nói luôn mồm, nhưng những ý tưởng không có chủ đề gặp đâu nói đó, nói trước quên sau.
            -Tù nhân Trần văn Hưng, án trên mười lăm năm, tuổi năm mươi, nói suốt ngày, gặp ai cũng có chuyện để nói mà nội dung thật sự không có gì cả ngoài mấy cụm từ: ăn chưa, ngủ chưa, bao giờ gia đình đến, mệt quá, thật là oải....
            Cụ thể: về phía cán bộ trại giam, họ nói nhiều hơn ai hết với những lời sáo rỗng thuộc lòng, những danh từ triết học cao xa mà thật sự chính họ cũng không hiểu nó mang ý nghĩa gì, rõ nét nhất qua phát biểu của một anh cán bộ ở cấp thấp là quản chế cũng phát biểu như các lãnh tụ của chúng: các anh phải cố gắng lên, chúng ta tiến lên xã hội chủ nghĩa không thông qua tư bản chủ nghĩa, chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ.v.v.
            Cụ thể:
            -Cán bộ Tâm, tuổi ba mươi, nhưng thật khó đoán về tuổi tác những cán bộ quản lý trại giam cũng như các cư dân quanh vùng trong thời kỳ nầy, vì họ có cuộc sống quá cơ cực nơi rừng sâu nước độc, nên đều già trước tuổi rất nhiều. Có câu chuyện thường kể lại giữa các tù nhân: một hôm trên đường lao động, các tù nhân chào người phụ nữ đi ngang qua “Mẹ đi đâu đó...” Nhưng người phụ nữ nầy liền đính chính ngay: “Tôi năm nay chỉ mới ba mươi...” vì người chào ngoài bốn mươi... Cán bộ Tâm nầy đánh tù rất dữ và thường thích đánh ở hai đầu gối, có khi sưng to thành đầu voi, nhưng đặc biệt khi nghe giọng nói tù nhân nào ở Quảng là y hết đánh nguyên văn: ”Mi ở Quoảng hả... tau thoau cho mi”. Rồi y thường thuyết giảng về chủ nghĩa Mác Lê nin bách chiến, bách thắng, về cải tạo chỉ có hai con đường hoặc về với gia đình hoặc ra lô sáu tức nghĩa địa mà nằm. Cũng như các cán bộ quản giáo khác, y có cò riêng luôn vòi vĩnh quà của các tù nhân mới thăm đem cống nạp cho y.
            -Cán bộ Tùng, an ninh trại Xuân lộc thuộc miền Nam Việt nam, miệng luôn mồm nói về con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản, lúc đó của cải như không khí, con người như thánh hiền.v.v. nhưng hằng ngày chỉ thấy y là một hung thần, hoặc làm ra của cải đâu không thấy, song chỉ toàn vòi vĩnh xin quà của các tù nhân. Và đối với cán bộ nầy khi nói về những vấn đề như thế là một vinh dự, còn xin quà cướp đoạt của tù nhân thì đó là vì cuộc sống.

 

1.2.Phân chia theo nhịp độ ngôn ngữ chậm:
          Tư duy chậm chạp (bradyssychia): Các tù nhân sau một thời gian dài bị giam giữ, do bị tra tấn, thiếu dinh dưỡng trầm trọng thường dẫn đến tư duy chậm chạp, nó trái ngược với tư duy phi tán, quá trình liên tưởng ở người bệnh hết sức chậm. Họ suy nghĩ khó khăn, chậm chạp, nội dung đơn điệu, nghèo nàn. Các tù nhân rơi vào chứng nầy nói rất chậm, dừng lại rất lâu sau mỗi câu nói, hỏi mãi mới trả lời. Thường gặp trong trạng thái trầm cảm.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Toán, án trên mười lăm năm, tuổi trên bốn mươi, đôi mắt lõm sâu không phải vì mất ngủ mà chính vì thiếu ăn, và một khi thiếu ăn thì có muốn ngủ cũng khó an giấc. Mỗi khi ai nói hay nhắc nhở điều gì, tù nhân nầy thường ngước mắt nhìn lên có khi há hốc mồm một lúc lâu mới hiểu ra vấn đề. Và để có được câu trả lời phải mất ít phút, còn với những câu phức hoặc những vấn đề phức tạp thì dường như anh không nghĩ ra được. Nên trong mẫu đối thoại với anh thường có câu hỏi đuôi: -họ nói gì vậy?
          Tư duy ngắt quảng (barrage): Người bệnh trong khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng bị ngắt quảng làm cho họ dừng lại không nói được, mãi về sau mới tiếp tục nói được, hoặc bỏ dở câu nói trước sang chuyện khác.Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Đinh tiến Khẩu, Linh mục, sau ba năm kiên giam, khi tiếp xúc với ai, suy nghĩ của người tù nầy luôn bị cách quảng và lời nói cũng bị cắt đứt, đang nói vấn đề nầy bỗng quên mất rồi chuyển sang chuyện khác, một hồi lâu lại chuyển sang chuyện cũ.
            -Tù nhân Nguyễn văn Lượng, án hai mươi năm, tuổi năm mưoi, dưới ánh mắt sâu bên sau cặp kính cận với hơn chục năm trong các trại lao cải, tù nhân nầy dù là trưởng một bệnh xá ở trại Thung lũng tử thần, nhưng tư duy luôn bị ngắt quảng, mỗi khi muốn diễn đạt điều gì, hoặc đang nói chuyện với ai thì quên bẵng không biết mình đang nói gì, mãi một hồi lâu mới nhớ lại và tiếp tục câu chuyện. Và ông cứ than như một thái độ phân trần: -Ở tù lâu, nó là như thế.
          Tư duy lải nhải: các tù nhân kể một cách tỉ mỉ những chi tiết thứ yếu của sự việc và rất khó chuyển sang nội dung chủ yếu. Ta rất khó lòng nghe hết những lời kể của các tù nhân loại nầy. Thường gặp trong bệnh động kinh. Đặc điểm của loại nầy là các tù nhân rất thích kể về quá khứ.
            Cụ thể:
            -Tù Nhân Nguyễn văn Hiện, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, vốn là một Trung tá trong chế độ miền Nam trước đây, ông luôn kể về quá khứ của mình một cách say sưa và cứ lập đi lập lại như thế, tất nhiên những lúc không có cán bộ cai tù, và an ninh trại giam cũng biết rõ đó là câu chuyện của một ông già lải nhải, lẩm cẩm, song cũng là dịp các cò trong tù dùng nó để hù doạ vì ông lão rất thường thăm gặp, rồi chúng mang các thứ quà của ông già đó đem nộp cho cán bộ “đại ca“ của chúng.
          Tư duy kiên định (perseverance): Các tù nhân mang chứng nầy luôn luôn lập lại một chủ đề nhất định, biểu hiện rõ trong khi nói chuyện hoặc trả lời thầy thuốc. Gặp trong chứng hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt, loạn tâm thần phản ứng nhân cách bệnh.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Trần Sửu, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, do sự cảnh giác quá cao trước sự chụp mũ bất cứ lúc nào của các cán bộ cộng sản, nỗi ám ảnh về sự kiên giam lâu dài, khiến ông nhất cử, nhất động đều không biết, không nghe, không thấy. Mặc dù đóng vai như thế khiến ông được yên thân trong những ngày tù lâu dài, song theo thời giam tù nhân nầy trở nên trầm cảm, ít nói, lủi thủi, ẩn thân một mình.
            -Tù nhân Nguyễn văn Học, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, tù nhân có bệnh suyễn thật, nhưng cũng như các tù nhân khác vì quá sợ lao động khổ sai, nên giả vờ đóng vai bệnh nặng hơn, họ có cách thở do luyện tập giống như suyễn thật và mỗi lần đi khám bệnh có cách thở như thế sẽ được nghỉ trong ngày hôm ấy, do vậy khi bác sĩ hỏi họ chỉ có mấy câu trả lời thật gọn: mệt quá... rồi kéo o... o... khò khè... Lần nào, ngày nào lúc nào đi khám bệnh tay cầm cuốn sổ và ngôn từ chỉ gọn bấy nhiêu.

    • Phân chia theo hình thức phát ngôn:

          Nói một mình (monologue): Người bệnh nói lẩm bẩm một mình, nội dung không liên quan đến hoàn cảnh.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Hành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, sau một thời gian phải chịu đựng lao động khổ sai mà không có sự thăm gặp của gia đình, anh trở nên khủng hoảng, luôn luôn nói một mình với nội dung là nguyền rủa chế độ cộng sản mà anh đã hơn nửa cuộc đời cống hiến.
            -Tù nhân Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, tuổi bốn mươi, thường nói một mình cả khi đi đứng mà không ai biết rõ nội dung là gì.

          Nói tay đôi (dialogue): Các tù nhân loại nầy thường nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng hay đang tranh luận với ảo thanh, gặp trong tâm thần phân liệt hoặc loạn tâm thần phản ứng.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Hải, án trên mười năm, tuổi ba mươi, thường ngồi thiền và nói chuyện với một nhân vật hoang tưởng nào đó không ai biết, anh cho biết đang theo Đạo Tiên và mỗi lần ngồi toạ thiền là nói chuyện với thần tiên.
            Tù nhân Nguyễn văn Thạo, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, sau thời gian ở tù quá lâu, anh trở nên trầm cảm, thường ẩn mình một chỗ sau giờ lao động và ngồi thì thầm với chính mình mà không ai biết rõ là gì.

          Trả lời gián tiếp (incorrect answers): Hỏi một đàng, người bệnh trả lời một nẻo, không chú ý đến nội dung câu hỏi, gặp trong tâm thần phân liệt.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Nghinh, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, không có sự thăm viếng của gia đình, hoàn toàn sống nhờ sự cải thiện rau cỏ ngoài trời, sau thời gian dài thiếu thốn vật chất, anh bị chứng ù tai, mắt mờ, tâm thần nghễnh ngãng, nghe một đàng hiểu một nẻo, hỏi việc nầy trả lởi thế khác... Đặc biệt lúc nào cũng có câu đệm: -Thế à...thế à...
            -Tù nhân Trần văn Dũng, án trên mười lăm năm, tuổi hai mươi, vì bị đánh đập thật tàn nhẫn lúc chấp cung, nhất là bị tra tấn bằng roi điện theo lời kể của những người trong tổ chức, còn chính anh sau đó chỉ còn nhớ là bị điện giựt nhảy tưng tưng lên mà thôi. Những ai muốn trao đổi chuyện gì anh thường hiểu rất ít người khác muốn gì, nên thường anh chỉ làm theo ý mình từ cách ăn uống đến sinh hoạt, như rau nhặt về chỉ rửa sơ và ăn chứ không chịu nấu chín... quần áo thì lại giặt giũ rất kỹ... ai hỏi gì thường không trả lời và có trả lời thường là khác với nội dung câu hỏi.

          Không nói (mutism): không nói có nhiều nguyên nhân do hoang tưởng và ảo giác chi phối, do hiện tượng phủ định (trạng thái căng trương lực), do liệt cơ năng cơ quan phát âm (loạn thần kinh hysteria), do hoạt động tâm thần nghèo nàn (tâm thần sa sút), do hoạt động tâm thần bị rối loạn nặng (trạng thái lú lẫn).
            Cụ thể:
            -Tù nhân Võ văn Danh, án trên mười lăm năm, sau một thời gian dài giam giữ, anh trở thành một cái xác không hồn, như người bị câm, suốt ngày anh không nói gì hết cả, cũng đi lao động như các anh em khác, song ai muốn chọc ghẹo gì anh cũng không nói gì với nét mặt bình thản, nếu không nói là vẫn vui, giữ hoà khí với anh em.
            -Tù nhân Nguyễn Lân, án trên mười năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian dài lao lý, anh trở nên trầm nhược, kể cả lúc vợ con đến thăm gặp người tù nầy cũng không nói năng gì cả khi trực tiếp đối thoại với vợ con... Anh lại mang thêm chứng ảo thanh thường hay nhảy vào các kho rồi nhai gạo sống, cho đến khi các tù nhân khác bắt gặp thì anh chỉ bảo gỏn gọn trong mấy từ: -có Thần thánh gọi tôi làm như vậy.
          -Tù nhân Nguyễn văn Hường, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau một thời bị giam giữ lâu dài, mất liên lạc hoàn toàn với gia đình, anh trở nên trầm cảm, ít nói dần dần rồi im lặng hẳn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy trên nét mặt vẫn còn vui vẻ với mọi người.

          Nói lập lại (palilalia): Người bệnh luôn luôn lập đi lập lại một số chữ hay một câu, không ai hỏi cũng cứ nói.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Linh, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, thường luôn nói giữa chỗ đông người, cũng như những lúc một mình: -Ối trời ơi lâu quá không có thăm nuôi, mặc dù gia đình chỉ mới đến cách đó một vài tuần, ôi đói quá, ôi khổ quá... ôi trời ơi là trời... Mẹ ơi là Mẹ.
            -Tù nhân Nguyễn Pháp, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thường lập đi lập lại một số từ như: Nghiệp báo, nghiệp báo... chết, chết, trời ơi là trời... Tù nhân nầy bị lao phổi và sau đó bịnh nặng rồi chết trong trại giam. Người ta được biết lúc mới vào tù anh rất khoẻ mạnh, khi ra lao động khổ sai, nơi đây có quá nhiều người mắc chứng lao phổi khiến anh sợ hãi và có làm đơn lên ban giám thị yêu cầu cách ly những tù nhân nầy ra một khu riêng biệt, các tù nhân phản ứng dữ dội, vì họ vốn như những con cừu luôn cần sự sưởi ấm cho nhau. Vì yêu cầu đó mà anh bị các tù nhân khác cô lập cho đến ngày cũng mắc chứng lao phổi, nằm bệnh xá lâu dài và chết trong trại giam. Các bạn tù đến thăm viếng, anh chết trên vũng máu do thổ huyết... Những từ ngữ luôn trên miệng anh mà mọi người như vẫn còn nghe rõ: - Nghiệp báo,nghiệp báo.

  • Đáp lập lại: Đối với mỗi câu hỏi khác nhau, người bệnh trả lời bằng một câu nhất định.

Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Lý, án chung thân, tuổi hai mươi, mặc dù tuổi còn rất trẻ nhưng sau một thời gian bị giam giữ, anh trở nên trầm cảm, tính khí nóng nảy như đối với mọi câu hỏi tù nhân nầy chỉ trả lời ngắn gọn: -Không biết, không biết... ừ, ừ.
-Tù nhân Võ Văn Bộ, Linh mục, án tập trung lâu dài, ngoài sáu mươi tuổi, Người nguyên là Giám đốc Trung tâm Fatima Sài gòn rồi bị bắt giam, thường trả lời những câu hỏi khi làm việc với cán bộ: -Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng... Ngay khi viết các bản kiểm điểm thay vì đề tên nước, vị Linh mục nầy cũng chỉ ghi: Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng.

  • Nhại lời (echolalia): Khi hai người bệnh không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi.

Cụ thể:
-Tù nhân Võ văn Ánh, án chung thân, tuổi năm mươi, rất thích nghe người khác nói chuyện, thích đối thoại, nhưng mỗi khi ai đặt câu hỏi, tù nhân nầy không trả lời trực tiếp, song chỉ lập lại câu hỏi, có khi lập lại nhiều lần.
-Tù nhân Nguyễn văn Cúc, án trên mười lăm năm, tuổi trên bốn mươi, thích nói chuyện, thích đàm đạo về mọi chuyện, nhưng mỗi khi có ai đặt câu hỏi thì tỏ ra hiểu câu hỏi, rồi không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi kèm theo các câu nhấn mạnh ở đuôi: -Thế hả, thế à... Các tù nhân khác hay trêu anh ta có lẽ bị điếc nặng.

  • Cơn xung động lời nói (verbal impulsion): Người bệnh lầm lì suốt ngày không nói, nhưng thỉnh thoảng lại có một cơn xung động lời nói: nói một hồi lâu những câu vô nghĩa, tục tằn. Thường gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:
-Tù nhân Lê Giữ, án trên mười năm, tuổi hai mươi, bình thường ít nói, lầm lì, thế nhưng khi có sự bốc đồng về chuyện gì thường nổi cơn chửi rủa các đối tượng mà anh căm thù một cách thậm tệ với những ngôn từ thật thô tục, có khi chỉ là một tràng chửi thề.
-Tù nhân Võ Kích, án trên mười năm, tuổi trên bốn mươi, thường trong cuộc sống vui vẻ, thích trò chuyện với mọi người, song mỗi khi thời tiết tăng nhiệt độ, vào những lúc đó, nếu có ai làm mích lòng điều gì, lập tức khiến anh sẽ lên cơn chửi bới thô tục, thậm chí nhiều lần đến ẩu đả.

 

    • Phân chia theo kết cấu ngôn ngữ:
  • Rối loạn về kết âm và phát âm: như nói khó, nói thì thào, nói lắp, nói giọng mũi, nói giả giọng địa phương.

Cụ thể:
-Tù nhân Cai văn Thành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thích nói nhiều, nhưng phát âm rất khó, có khi nói lắp, có thể bị bẩm sinh từ nhỏ một phần, đến khi bị tra tấn theo lời tù nhân nầy thuật lại: anh bị đánh chấn thương nơi thanh quản bằng cú chặt karatê ngang cổ anh của cán bộ điều tra khi anh không chịu khai báo.
-Tù nhân Lê Chỉnh, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, vốn là một người ở đảo Lý Sơn, ngoài duyên hải miền Trung Việt Nam, nên giọng nói rất khó nghe đối với người trên đất liền, và sau một thời gian ở tù, do ít giao tiếp cũng như sợ sơ suất trong lời nói sẽ bị chụp mũ, dần dần anh trở nên nói khó, âm thanh phát ra như thì thào không ai nghe rõ điều gì.

 

  • Rối loạn về ngữ pháp và lô gích của tư duy:

Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Ba, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài năm mưoi, khi diễn tả việc gì thường lộn cú pháp như: ăn cơm thì bảo cơm ăn; ăn thịt - thịt ăn; lao động - động lao; thăm nuôi - nuôi thăm...
            -Tù nhân Nguyễn văn Xuân, tuổi trên năm mươi, án chung thân, ông nhìn mọi người như không ai còn gần gũi ông nữa, trở nên lạnh lùng với mọi người và nhiều khi vô cùng cộc cằn, thô lỗ với các bạn tù khác một cách hung dữ.
            -Tù nhân Nguyễn đình văn Long, tuổi năm mươi, án hai mươi năm, lúc đầu co rút vì sợ hãi về sau dần dần xa cách các tù nhân khác, rồi cộng tác đắc lực với cai tù đến độ các tù nhân đều gọi y là: ”Long bọ  hung“. Điều đó nói lên trong ánh mắt trắng dã của y không biết bao nhiêu người là nạn nhân trong sự vô cảm đến không còn cá tính của y trong sự rối loạn về cảm xúc.

  • Ngôn ngữ phân liệt (schizophasia): trong từng câu có thể dùng ngữ pháp mang ý nghĩa, nhưng giữa các câu không có liên hệ gì với nhau về ý nghĩa lô gích cả. Gặp trong tâm thần phân liệt.

Cụ thể:
-Tù nhân Lý công Cường, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mở đầu câu chuyện với những câu nhập đề ai cũng có thể hiểu được, song đến nội dung không ai biết tù nhân nầy muốn nói gì, đến kết luận người ta có thể hiểu được như: Tụi nầy sẽ chết (ám chỉ cộng sản), chúng bá đạo độc ác... cơ trời báo cho biết chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Quỷ vương xuất hiện sẽ có quân vương ra đời, nhưng Thượng đế không chết thì Quỷ vương cũng khó mà chết.... Chư Thánh, Mẫu Thánh sẽ độ trì, hà bá sẽ lôi chúng, diêm vương đang chờ chúng.... Cộng sản sẽ sụp đổ, chế độ toàn trị sẽ sụp đổ.
-Tù nhân Bùi văn Bộ, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, với một mẫu chuyện như sau: Trời hôm nay nóng quá, bạn có thăm nuôi không, không phải tôi hỏi để xin xỏ gì đâu, tôi muốn biết sự cầu nguyện của tôi có mãn nguyện, tôi cầu cho mọi người được gia đình đến thăm thường xuyên, quỷ vương thì không  muốn ai được no đủ cả... chúng là thế, chúng sẽ chết, và trước khi chúng chết thì anh em mình không chết cũng què...Trời lại sắp mưa rồi.

  • Ngôn ngữ không liên quan (incoherence idea): Tư duy người bệnh lộn xộn, họ nói ra những từ rời rạc không có mối liên hệ gì với nhau và không có ý nghĩa gì cả. Thường gặp trong trạng thái mê sảng và lú lẫn.

Cụ thể:                                                                       
-Cụ Nguyễn Thiền, tuổi ngoài bảy mươi, án hai mươi năm, sau nhiều năm trong các trại lao động, cụ bắt đầu lú lẫn, nhiều lúc tới bữa ăn cụ không nhớ rõ mình đã ăn rồi hay chưa, cụ luôn tính khoảng cách gia đình đến thăm gặp thường ba tháng một lần, nhưng phép tính trên bàn tay cứ lộn mãi, cụ rất lạc quan và luôn vui vẻ.
-Cụ Nguyễn Còn, tuổi ngoài bảy mươi, án hai mươi năm, sau một thời gian dài trong các trại lao cải, nhất là lúc cụ mới bị bắt, dù tuổi đã cao song cũng bị tra tấn rất nặng, hai người con trai của cụ cũng hy sinh trong Mặt trận đấu tranh chống lại chế độ toàn trị cộng sản. Về sau cụ thường mệt mỏi và ốm đau thường xuyên, đến bữa ăn cụ hay nghĩ là mình đã ăn rồi, nói trước quên sau, thường thinh lặng suốt ngày.

  • Chơi chữ (word play): Trong lời nói, câu nầy tiếp câu khác theo vần. Ví dụ : Trời xanh ăn chanh...Gặp trong trạng thái hưng cảm và tâm thần phân liệt .

Cụ thể:
-Tù nhân Văn Triệu, án chung thân, tuổi gần ba mươi, thuộc nhóm Siêu thiên tử trong tù, hay làm thơ, đúng hơn là những câu vè và ngâm vịnh thường xuyên.
-Tù nhân Đỗ duy Thế, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, thường hay đọc những câu đối để vịnh về đạo đức hoặc chê bai người nầy người nọ, trầm uất, tù nhân nầy cũng thích làm thơ nhưng thật sự là những câu vè.

  • Chơi ngữ pháp (syntax play): Người bệnh đảo lộn và cắt xén một số thành phần trong mệnh đề.

Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn đình Bá, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, hay đảo lộn các câu khẩu hiệu như: Xã hội chủ nghĩa thành xếp hàng cả ngày; sớm đoàn tụ với gia đình thành sớm về với Ông Bà, xã hội chủ nghĩa không có buôn bán bóc lột vì chỉ có: bán mặt cho đất, bán lưng cho trời...

 

  • Sáng tạo ngôn ngữ (Neologism): Các tù nhân trong tình huống nầy đặt ra một ngôn ngữ lạ lùng, người khác không thể hiểu được. Ngôn ngữ nầy có tính chất tự kỷ và không thông dụng.Thường gặp trong tâm thần phân liệt .

Cụ thể:
-Tù nhân Dung, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, hay dùng tiếng dân tộc pha lẫn tiếng Việt mà chỉ có vài người trong nhóm của anh mới hiểu được.
-Tù nhân Triệu, án chung thân, tuổi ba mươi, dùng một số từ mà không ai hiểu gì cả ngoài vài người trong nhóm Siêu thiên tử với tù nhân nầy.

    • Phân chia theo mục đích ý nghĩa ngôn ngữ:

-Suy luận bệnh lý (moebid reasoning): Người tù luôn luôn nói về một chủ đề nhất định và thường là đi vào những cái vụn vặt, bí hiểm, xa rời thực tế, những vấn đề triết học siêu hình. Thường gặp trong tâm thần phân liệt.
Cụ thể:
-Tù nhân Hừng, án trên mười năm, tuổi trên năm mươi, ông hay nói về quân vương, về Nho giáo, song khi đi vào triết học không ai hiểu được ông muốn nói gì.
-Tù nhân Lịch, án chung thân, tuổi ngoài sáu mươi, cụ thường nói về airbus, nói về sự thuận lợi tương lai phát triển rồi nói về những con ốc vít của nó mà không ai biết thực hư như thế nào.

-Tư duy hai chiều (ambivalent thinking): Người bệnh còn tiếp nhận các ý nghĩ, những câu nói hoàn toàn trái ngược nhau. Gặp trong tâm thần phân liệt .
Cụ thể:
-Tù nhân Liêu Khầu, án mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, thường anh hiểu ngược lại những gì mà người đối thoại nói với anh. Trong cuộc sống hằng ngày anh rất tốt vời mọi người, nhưng trải qua nhiều lần kỷ luật và kiên giam khiến anh trở nên nghi ngờ mọi trường hợp xấu có thể xảy ra với anh, nên luôn đặt ngược mọi vấn đề và có khi hiểu ngược lại mới yên tâm.
-Tù nhân Lê văn Tấn, án tử hình được tha tội chết xuống còn hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, sau bản án tử hình với thời gian nằm kiên giam khá lâu, cụ trở nên nghi ngờ mọi thứ, ai nói gì cụ luôn đặt ngược lại vấn đề, mặc dù cụ rất thương và giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ. Có khi lại hiểu khác ý chân thành của người khác khiến nhiều người bất bình nhưng thông cảm cho cụ.

-Tư duy tự kỷ (autistic thinking): Người bệnh thu hẹp vào thế giới tự kỷ của mình, tách rời với thực tế, luôn luôn nói đến những vấn đề của thế giới bên trong kỳ lạ của mình. Gặp trong tâm thần phân liệt.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Hương, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, luôn nói về thế giới riêng của mình như những giấc mơ về những quần đảo thần tiên dù anh đang ở tù, hoặc giấc mơ về thế giới tuổi thơ.
-Tù nhân Phạm bá Công, án chung thân, tuổi ba mươi, luôn nói về tôn giáo, nói về Thượng đế trong thế giới suy niệm riêng của anh ta mà thật sự không ai hiểu nổi, Các tù nhân gọi trêu anh ta là: “Cụ Linh mục”, nhưng giá mà được học ở chủng viện thì sự diễn tả của anh ta sẽ giúp mọi người dễ hiểu về Thượng đế hơn.

-Tư duy tượng trưng (symbolic thinking): Đối với các sự vật, hiện tượng bên ngoài, người bệnh thường gán cho một ý nghĩa tượng trưng. Ví dụ số 5 là tượng trưng cho sự thống nhất (như 5 ngón tay thống nhất trong một bàn tay).
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Ngần, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, rất ít nói, và chỉ nói về một thế giới đại đồng mà Việt Nam sẽ đóng vai trò chủ yếu trong thế giới nầy vì Việt Nam có con sông Cửu long là nơi hội tụ của nhiều sông ngòi.
-Tù nhân Trần văn Ngành, án trên mười lăm năm, tuổi sáu mươi, nói về thuyết đại đồng và cho rằng Việt Nam là trung tâm của thế giới vì Việt Nam có chín con rồng hội tụ thành mõt là con sông Cửu long.

-Rối loạn nội dung tư duy: Có ba hình thức chủ yếu về rối loạn nội dung tư duy: định kiến, hoang tưởng và ám ảnh.
2.1 Định kiến (fixed idea): Còn gọi là ý tưởng quá đáng. Định kiến là những nhận định phát sinh trên cơ sở những sự kiện thực tế nhưng về sau chiếm một vị trí trong ý thức không phù hợp với ý nghĩa của nó và có kèm theo một tình trạng cảm xúc mãnh liệt.
Ví dụ: Đối với một sự không vừa lòng nhỏ nhặt như sai hẹn, góp ý không chính xác. Tù nhân mang định kiến nầy cho đó là có tính chất coi thường họ, người bệnh luôn luôn nhớ tới việc đó tỏ ra bực tức, đau khổ, và tìm cách phản ứng trả thù. Người bệnh không thấy chỗ sai của định kiến nên không có sự đấu tranh phê phán lại, nhưng với thời gian gặp hoàn cảnh thuận lợi định kiến sẽ mờ nhạt dần và mất hẳn. Định kiến khác với hoang tưởng là sự xuất hiện của nó không kèm theo biến đổi nhân cách. Thường gặp trong các trạng thái trầm cảm tự ty, cho mình có phẩm chất xấu, nhiều khuyết điểm.
Cụ thể:
-Hầu hết các tù nhân đều mắc phải thứ định kiến nầy, họ luôn cho rằng: cộng sản không còn là con người, vì thực tế họ chứng kiến các sự ác do những người cộng sản làm, họ không tin con người lại có thể giết đồng loại như thế, bách hại nhau lại có thể xem đó là niềm vui. Nhưng dần dần các định kiến nầy cũng bớt đi khi có một số cán bộ cộng sản cũng biết làm hoà với tù nhân để xin ăn từ các tù nhân có thăm nuôi thường xuyên.
-Các cán bộ cộng sản cũng vậy, họ luôn có định kiến với các tù nhân là tay sai của đế quốc, phản quốc... Nhưng dần dần sống gần các tù nhân họ bị cảm hoá vì thật ra những con người gọi là kẻ thù của giai cấp hôm nay, họ là những con người không chạy theo đế quốc mà ở tù vì đấu tranh cho quyền của con người, trong đó có chính họ. Các tù nhân nầy ngoài một ít người vì sợ hãi mà đút lót như mỗi sáng phải lo cho quản giáo một gói mì ăn liền để được xếp vào vị trí nấu bếp khỏi phải lao động khổ sai, còn hầu hết các tù nhân đều cho trong cách thế của con người với con người như Thầy Châu Đạt, Tu sĩ Dòng Đồng công mỗi khi có cán bộ đau ốm, ông cho thuốc gấp đôi các tù nhân khác và thường là thuốc quí nữa, khiến các cán bộ cai tù mỗi khi đau ốm đều chạy đến Thầy. Nên dần dần các định kiến nầy cũng đổi thay cả về hai phía, nhất là càng đi về phía các trại phía Nam.

2.2 Hoang tưởng (dulusion): Hoang tưởng là những ý tưởng phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế khách quan, do bệnh tâm thần gây ra, nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích phê phán được. Hoang tưởng chỉ mờ nhạt hay mất đi khi bệnh thuyên giảm và hồi phục.
Dựa vào tính chất ta có thể nêu lên các loại hoang tưởng như sau:
-Hoang tưởng nguyên phát: là hoang tưởng xuất hiện không liên quan với ảo giác hay các rối loạn tri giác khác.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Ba, án mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, hay nói say sưa về một thế giới không hận thù, các tôn giáo hoà đồng trong Mặt trận Liên tôn... Con người sống chung với nhau trên hành tinh nầy như sống dưới một mái nhà chung.
-Tù nhân Nguyễn văn Đức, án tập trung lâu dài, tuổi ba mươi, luôn nghĩ mình là Hoàng tử, nhảy vào Việt Nam để cứu dân tộc nầy, và anh kể ra câu chuyện hoang tưởng qua trí tưởng tượng của mình như thật, người tù nầy cũng có giai đoạn nghĩ mình là một sĩ quan cao cấp và khai trên giấy tờ là một sĩ quan cấp Thiếu tá, khiến những người cộng sản vốn bắt lầm hơn bỏ sót, nên đã đưa anh vào các trại tập trung lâu dài.
            -Hoang tưởng thứ phát: xuất hiện trên cơ sở các rối loạn tri giác, cảm xúc, ý thức. Người tù trong tình huống nầy nhìn thấy những sự vật, những người chung quanh có một cái gì đặc biệt khác thường có liên quan đến mình. Họ giải thích cái đặc biệt, cái khác thường ấy theo lối suy đoán riêng của mình .
Cụ thể:                                                                
-Một số tù nhân khi thấy cổng trại có lúc bị xiêu vẹo, thấy cờ bị rách thì nghĩ rằng chế độ cộng sản sắp tàn, thấy cán bộ cộng sản người nào hầu như chỉ biết dựa vào nhà nước, mà dựa vào nhà nước thì không no đủ, nên phải nhờ vả xin từng chút một của tù vốn đã túng thiếu như vòi từng tí bột ngọt, bột nem, ruốt... họ lại liên tưởng đến người thân ở ngoài xã hội có đi ăn mày như thế không.
-Tù nhân Nguyễn văn Đức, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, vào những buổi trưa nóng nực, khi lao động khổ sai trở về, nếu có ai nhìn hay hỏi thăm sự mệt mỏi của anh, người tù nầy nghĩ rằng mình đang bị xoi mói, nên chửi mắng có khi gây gổ người đối diện với mình.

-Hoang tưởng suy đoán: Sự phán đoán của người bệnh bị lệch lạc và được cũng cố bằng một loạt dẫn chứng theo lô gích chủ quan. Nhiều sự kiện được họ giải thích một cách phiến diện và lệch lạc. Tất cả những gì trái với hoang tưởng đều bị bác bỏ. Hoang tưởng ngày càng hệ thống hoá và bền vững. Khi mới có hoang tưởng người bệnh còn giữ được khả năng lao động một thời gian dài và ngoài các hành vi bị hoang tưởng chi phối, người bệnh có thể sinh hoạt như người bình thường, làm cho người chung quanh phân vân không biết người ấy có bệnh hay không. Hoang tưởng suy đoán làm tan rã nhân cách người bệnh một cách sâu sắc.
Cụ thể:
-Đây là thứ hoang tưởng mà các lãnh tụ trong tù vấp phải nhiều nhất, như cộng sản Đông Âu sụp đỗ họ suy luận lô gích chủ quan như đó là do cơ trời đã định rằng tới thời điểm đó thì cộng sản phải như thế... Khi được biết qua tin đồn từ ngoài xã hội sẽ có Cao uỷ nhân quyền đến viếng thăm trại giam thì lãnh tụ nào cũng hớn hở thậm chí còn chuẩn bị ra tuyên bố.v.v. Nhưng khi có Cao uỷ đến thì nhiều người bị mang đi cất giấu thật khổ sở, đến khi Cao uỷ đi thì càng khổ sở hơn nữa như bị đoạ đày đến nơi cực khổ hơn, trong khi các tù nhân loại nầy thường suy đoán là sắp được Cao uỷ rước đi... mà nếu ai có ý nghĩ ngược lại họ sẽ cho có khi là phản bội anh em.
-Hoang tưởng cảm thụ: khác với hoang tưởng suy đoán, loại hoang tưởng nầy không có lô gích, nó lệch lạc và chỉ là những ý tưởng rời rạc không liên tục, có tính chất từng mảnh. Người bệnh không tham gia tích cực vào nội dung hoang tưởng như trong hoang tưởng suy đoán. Hoang tưởng cảm thụ ngay từ đầu xuất hiện đồng thời với các triệu chứng tâm thần khác: như rối loạn cảm xúc lo âu càng tăng, rối loạn tri giác kích động... Nội dung hoang tưởng có thể gắn với các sự kiện thực tế, hoặc mang tính chất hoang tưởng, nhân cách người bệnh không bị biến đổi nhiều.
Cụ thể:
-Trong một thời gian tại trại Thung lũng tử thần, các tù nhân luôn bị ám ảnh bởi chuyện đi Mỹ, ngay chiều về sau giờ lao động, các tù nhân đều chuẩn bị hành lý gọn để chờ người Mỹ đến rước, nên vào ban đêm khi nghe có tiếng rục rịch của động cơ máy cày, thậm chí của xe bò quanh trại giam ai cũng thức dậy uống nước trà và chờ đợi. Nhưng sáng hôm sau thì người nào cũng ngủ gục vì mất ngủ và rồi kiệt sức trên cánh đồng. Đây quả là hội chứng Mỹ quốc trong nhà tù cộng sản.

-Hoang tưởng di chứng: Là những hoang tưởng còn sót lại sau những rối loạn tâm thần, tồn tại một thời gian nào đó với tính chất một đơn chứng (monosymptom) cho đến lúc người bệnh phê phán được hiện tượng sai lệch nầy.
Cụ thể:
-Đại đức Nguyễn văn Lâm, trong trách nhiệm nhận lãnh việc chữa trị tù nhân bị bệnh chó dại khiến đưa đến cái chết cho tù nhân Nguyễn văn Thụ, tại trại A30 thuộc miền Trung Việt Nam, thế nhưng với di chứng nầy hầu như ông lại không cho đó là sai lệch trong hoang tưởng của mình, mà cho đó là tại số phận. Sau sự việc đáng thương với tù nhân nầy ông càng được cai tù tin cẩn hơn như cho tự giác.

Các loại hoang tưởng suy đoán:
-Hoang tưởng liên hệ: Người bệnh nghĩ rằng mọi việc xung quanh đều có liên hệ mật thiết với mình, như khi thấy hai người nói chuyện với nhau thì cho rằng họ bàn tán về mình, nghĩ rằng người ta nhìn mình một cách đặc biệt, xem thường mình. Những thái độ lời nói của những người chung quanh, người bệnh suy diễn cho là ám chỉ mình.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn đình Bá, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mỗi khi ai quan tâm đến anh, anh cho rằng họ đang theo dõi theo nguyên văn: Nhìn ánh mắt là tôi biết ngay mà, hắn đang theo dõi để báo cáo tôi. Khi diễn tả như thế anh nhăn nhó khuôn mặt vô cùng. Nhưng thật sự các bạn tù chung quanh chẳng có ai theo dõi cả, một đôi khi có người muốn thăm hỏi anh thế thôi.
-Tù nhân Trần Xiềng, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, cũng đầy sự hoài nghi không kém, thật sự có lẽ do hậu quả của việc truy lùng, khủng bố liên tục trong nhà tù. Nguyên văn lời anh thường suy đoán liên hệ: Tôi thấy hắn nhìn trong ánh mắt là sự theo dõi, những việc chúng làm không thể qua mặt tôi được. Nhưng sự thật nào có ai theo dõi anh ta, mọi cái nhìn của mọi người vẫn bình thường như mọi ngày.

-Hoang tưởng bị hại: Đây là tâm trạng chung của các tù nhân bị giam giữ lâu ngày, các tù nhân thường nghi ngờ rồi khẳng định một người nào đó, một nhóm nào đó theo dõi và tìm cách ám hại mình, như bỏ thuốc độc vào thức ăn, nước uống, tổ chức giết hại, bắt bớ mình. Đối tượng mà người bệnh nghĩ rằng ám hại họ thường là những người thân cận như cha mẹ, vợ con, bạn đồng nghiệp.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Hồng, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, rất lạc quan vui vẻ, nhưng mỗi khi thấy bóng dáng của cán bộ cai tù thì ngay lập tức báo động cho các tù nhân khác biết: -Bọn ám hại chúng ta đang đến gần. Và mỗi ngày không biết có bao nhiêu lần báo động như thế.
-Tù nhân Trần văn Đồng, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, do lúc mới bị bắt có sự tiết lộ khai báo của những người trong tổ chức, nên về sau ông luôn nghi ngờ và rất sợ người. Khi có gia đình đến thăm, ông vẫn luôn mời mọi người trong phòng đến dùng trà, nhưng rất giữ kẻ và không nói gì hết vì sợ bị hại. Các bạn tù rất hiểu và cảm thông với ông về nỗi ám ảnh nầy.

-Hoang tưởng bị chi phối: Người bệnh cho rằng có người nào đó dùng quyền thế, phù phép hay một phương tiện nào đó để chi phối toàn bộ tư tưởng, hành vi, cảm xúc của mình. Ý tưởng bị chi phối thường là thành phần chủ yếu của ảo giác giả và hội chứng tâm thần tự động.
Khi nội dung hoang tưởng bị chi phối là thông qua các phương tiện vật lý như dòng điện, tia tử ngoại, quang tuyến, siêu âm... thì gọi là hoang tưởng bị tác dụng vật lý.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Lắm, án chung thân, tuổi năm mươi, tù nhân nầy tâm sự:  ông luôn bị một người nào đó dùng phù phép ám hại, vì trước đây ông đã từng bị ám hại như thế.
-Tù nhân Lê Giữ, tuổi gần ba mươi thì luôn nghĩ có dòng điện luôn chạy qua người khiến anh ta trở nên hung dữ và khó chịu trong người, luôn nổi nóng và gây gổ với người khác.

-Hoang tưởng ghen tuông: người bệnh với những hiện tượng vô lý hay những bằng chứng không rõ rệt như khẳng định vợ hay chồng mình có quan hệ bất chính với người khác. Hành vi của họ luôn luôn bị lôi cuốn vào sự tìm tòi những biểu hiện về sự bội bạc đó như kiểm tra thư từ, ảnh,ví, áo quần...
Cụ thể:
-Hầu hết các tù nhân khi thấy có người bạn tù nào bị gọi làm việc hoặc làm việc định kỳ, họ đều cảnh giác về người đó, có khi họ nghi oan về người đó vì phần lớn đều dựa vào những bằng chứng không rõ rệt để cách ly tù nhân đó vì đã làm việc vào ngày đó và có những vụ kỷ luật xảy ra.v.v. Nhưng thật sự mạng lưới an ninh của cai tù được sắp đặt đã báo cáo cả rồi, và nạn nhân bị làm việc hôm đó đôi khi lại là một tù nhân khả kính nào đó mà cán bộ cai tù muốn chia rẽ họ với nhau.
-Tù nhân Bùi Xuân Phương, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, thường nói: Bạn với kẻ thù là kẻ thù... Nên những người trong tổ chức với ông thường rất khó quan hệ với các tổ chức khác, mặc dù họ cùng ở chung trong nhà giam với nhau và có nhiều tổ chức cũng như các mặt trận khác nhau. Các tổ chức dù trong tù nhưng công việc bảo vệ nội bộ rất chặt chẽ.

-Hoang tưởng tự buộc tội: Người tù tự cho mình phạm sai lầm lớn, có phẩm chất xấu, có nhiều tội lỗi... đáng bị trừng phạt. Hoang tưởng tự buộc tội thường đưa đến ý tưởng và hành động tự sát.
Cụ thể:
-Tù nhân Trần đình Nguyên, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, có lần quì xuống và van xin cán bộ cai tù muốn sai bảo chuyện gì thì y cũng làm, vì theo lời y tự đấm ngực là kẻ tội lỗi, nguyên văn: -xin cho tôi được ăn phân cán bộ cũng xin kham, hằng ngày y vẫn luôn quì lụy mặc dù đã lớn tuổi.
-Tù nhân Văn Bình, án chung thân, tuổi ba mươi, anh nhảy vào chảo nước đang sôi kết liễu đời mình để phản kháng về nhân quyền, nhưng cũng nói lên sự mệt mỏi, thất vọng trước kẻ bạo tàn.

-Hoang tưởng nghi bệnh: người bệnh tự cho mình có bệnh giang mai, bệnh ung thư, bệnh lao và đưa ra một loại bằng chứng về các bệnh nầy. Họ cho là bị lây bệnh trong hoàn cảnh nào đó, liên tục đi khám bệnh, làm nhiều xét nghiệm và mỗi lần thấy kết quả âm tính, họ không tin vào sự khám xét đó.
Cụ thể:
-Hầu hết các tù nhân đều mắc chứng nầy, vì môi trường thiếu vệ sinh của trại giam, cơ thể không đủ dinh dưỡng ngày càng còi hẳn, khiến các tù nhân luôn ưu tư về mọi thứ bệnh mà thật sự người nào cũng có bệnh, từ đau bụng tiêu chảy - chứng nầy rất phổ biến và thường xuyên trong tù, bệnh tim mạch đến lao phổi.v.v. Thật vậy các tù nhân đều mắc phải ít ra một trong các chứng đó.
-Tù nhân Trần văn Cẩn, Nguyễn phú Thuận... mặc dù có huyết áp cao nhưng đã phải uống thêm nước muối để áp huyết tăng cao hơn mới có thể nghỉ lao động khổ sai.

-Hoang tưởng tự cao: người bệnh cho mình thông minh, tài giỏi, xuất chúng, việc gì cũng làm được, sức lực mạnh mẽ không ai bằng... Họ cho mình có thể chỉ huy tất cả các hạm đội trên thế giới. Có địa vị cao, quyền lực lớn, vàng bạc châu báu hàng kho.
Cụ thể:
-Các trưởng trại đều hoang tưởng rằng Đảng là Ta, Ta là Đảng mà đảng đã thắng được đế quốc Mỹ thì không chuyện gì trên thế gian nầy mà không làm được.
-Một số các tù nhân như nhóm Siêu thiên tử nghĩ rằng Ta là con của Trời, Ta  thông minh nhất, tài giỏi nhất, cái gì cũng nhất... và việc điều khiển cả thế giới nầy chỉ là thời cơ.

-Hoang tưởng phát minh: Người bệnh tuy không học tập về y khoa nhưng cho rằng mình đã phát minh ra những phương pháp điều trị các bệnh nan y có kết quả và viết tài liệu phổ biến các phương pháp đó... Người bệnh tự cho mình nghĩ ra những phát minh mới về vật lý, hoá học độc đáo kỳ lạ, những phương án cải tạo và xây dựng xã hội phi thực tế và đem trình bày với mọi người, tìm cách thuyết phục họ thừa nhận.
Cụ thể:
-Trong các trại lao cải luôn xuất hiện các thầy thuốc nam, họ đều là những “nhà phát minh” ra các công dụng của cây cỏ, dù hiệu quả của các dược liệu nầy không xa lạ với các thầy thuốc Đông y truyền thống, tuy vậy nó lại được cán bộ cộng sản khuếch đại rất nhiều để chữa trị bệnh tâm lý của tù nhân vì môi trường tù rất thiếu thốn mọi thứ khiến tù nhân nào cũng bị ám ảnh đến bịnh hoạn của chính mình. Quả thật những “nhà phát minh” thì trốn tránh được không phải lao động vất vả như các tù nhân khác, còn các cai tù thì chữa trị được nhiều thứ bệnh cho tù nhân đến gần cái chết hơn mà không bị tai tiếng, cũng như không mất một xu nào cả.

-Hoang tưởng được yêu: Người bệnh cho rằng có nhiều người yêu mình say mê đắm đuối, tìm cách gặp mình để biểu lộ những say mê tha thiết đó nhưng họ không yêu lại.
Cụ thể:
-Chứng hoang tưởng nầy các lãnh tụ cũng như các chức sắc tôn giáo trong tù đều mắc phải, họ luôn nghĩ có nhiều người ái mộ, tôn sùng mình.v.v. Sự thật phần lớn các chức sắc trong tù thăm nuôi đầy đủ hơn mọi người, nên họ đến sự thường không vì các giá trị tinh thần.
-Doanh nhân Bùi ngọc Phương, được mệnh danh là “vua dầu lửa” của miền Nam trước đây, rất nhiều người đến với ông trong sự ”ái mộ”, thậm chí có người còn quì xuống để được chiêm ngưỡng bàn tay “quý nhân“ của ông. Có lẽ doanh nhân nầy luôn nghĩ họ đến do mến phục mình, nên người nào kể cả nhiều cán bộ đều có quà “mọn”, song có lần vào dịp thăm nuôi ông giấu tiền mặt vì nghĩ rằng các cán bộ ông đều cho quà chúng như con cháu, chẳng may số tiền ấy do tuổi già ông cột không chặt vào chân đã rơi vãi dọc đường khiến việc giấu tiền mặt bị bại lộ, ông bị kiên giam đến chết.
Các loại hoang tưởng cảm thụ:
-Hoang tưởng nhận nhầm: Người bệnh khi bố mẹ đến thăm thì không thừa nhận mà cho rằng những người đó giả dạng bố mẹ mình. Ngược lại khi người lạ xuất hiện thì lại cho là bố mẹ mình. Đôi khi họ nhận những người bệnh khác là những người thân thích.
Cụ thể:
-Loại hoang tưởng nầy thường mắc phải đối với các tù nhân khi mới vào trại giam, vì từ môi trường tự do ngoài xã hội sang môi trường mất tự do, họ trở nên sợ hãi vô cùng khiến sự xác định nơi mỗi cá nhân trở nên hoài nghi về mọi thứ, nhất là trong lúc điều tra bị trấn áp khủng bố họ lại càng đa nghi về mọi chuyện, như quà từ gia đình gửi đến thường chỉ qua song cửa sắt và không được gặp trực tiếp người thân, nên họ nghi ngờ có thể là thuốc độc để sát hại họ, nên có người không chịu nhận quà vì cho đó là của cai tù bỏ thuốc độc để sát hại mình.v.v. Có khi cha mẹ đến thăm họ cho là giả, mới nghe tên chưa được gặp họ đã từ chối vì cho là sự dối trá của cơ quan điều tra.
-Tù nhân Huỳnh Thì, án hai mươi năm, tuổi chưa đến ba mươi, sau một thời gian ở tù, đã từ chối gặp gia đình khi có người thân đến thăm, anh nói thật tình trong sự đáng thương: Tôi không còn người thân nào cả, đừng lừa dối tôi... Tôi không còn người thân nào cả. Thật sự người tù bất hạnh nầy đã trở nên bất bình thường và sau đó đã mang chứng tâm thần rất nặng trong tù.

-Hoang tưởng gán ý: người bệnh tri giác các hiện tượng, sự việc xung quanh như là dấu hiệu tượng trưng, có ý nghĩa riêng biệt đối với họ. Trên đường đi gặp một cái hố thì họ cho rằng hố là tượng trưng cho cái huyệt chôn người và báo hiệu rằng họ sẽ chết trong một ngày gần đây.
Hoang tưởng gán ý khác với hoang tưởng liên hệ là nó được xây dựng trên hiện tượng và sự việc đó như một dấu hiệu tượng trưng chứ không liên hệ suy đoán theo một lô gích lệch lạc như trong hoang tưởng liên hệ.
Hoang tưởng gán ý thuộc loại hoang tưởng cảm thụ, còn hoang tưởng liên hệ thuộc loại hoang tưởng suy đoán.
Cụ thể:
-Tù nhân Lê văn Ba, tuổi năm mươi, án trên mười lăm năm, khi đi ngang qua cái hố thì nghĩ cái huyệt và bảo sợ có người sắp chết vì như trại Thung lũng tử thần có giai đoạn ngày nào cũng có vài người chết, phần lớn là tù hình sự; thấy cây ngã thì bảo thế nào cũng có tù bị đánh vì thật sự ngày nào lúc nào các tù cũng bị đe dọa bị cùm kẹp.
-Tù nhân Nguyễn văn Nuôi, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian ở tù lâu dài vẫn còn nhớ đến chuyện đánh số đề từ ngoài xã hội như thấy con số 3,4,5... đều nghĩ đến những con số liên hệ, và thật sự khi các tù nhân được tự giác, một số đều tham gia vào trò chơi cờ bạc nầy, thậm chí có người còn trong trại giam vẫn chơi qua trung gian các tù tự giác hoặc cán bộ cai tù mua số hộ.

-Hoang tưởng đóng kịch (còn gọi là hoang tưởng đổi dạng). Người bệnh tri giác xung quanh như những cảnh trên sân khấu, trong phim ảnh, trong kịch trường... cùng một người nhưng khi đóng vai nầy vai khác, người nầy thay đổi vị trí cho người kia và hoàn cảnh chung quanh cũng biến đổi không ngừng.
Cụ thể:
-Ra khỏi nhà là phải mang mặt nạ, thế nhưng với các tù nhân thời không chỉ có một mà nhiều mặt nạ, ngay với các bậc chân tu dù không nói láo được thì giữ sự yên lặng, hà tất không thể nói thật và đó là sự khôn ngoan. Chính sự đóng kịch giữa cai tù và tù nhân cũng như giữa tù nhân với cai tù, nó như định luật muôn thuở. Người ta đặt sự tồn tại của con người trên sự tin cậy lẫn nhau, nhưng nơi đây con người tồn tại trên sự không tin tưởng lẫn nhau.
-Linh mục Liên bị điên thật và ai cũng nhận ra như thế, các cán bộ tù cũng nhận ra điều nầy nhưng bảo tin vị Linh mục nầy bị điên thật để đặt bút ký cho tại ngoại chữa trị thì không giám thị nào chịu làm và cũng không cho đi bệnh viện để khám nghiệm. Nguyên nhân sâu xa vì các cai tù vẫn chủ quan nghĩ rằng căn bệnh của tù nhân nếu có chỉ là một sự hoang tưởng đóng kịch.

-Hoang tưởng biến hình bản thân: Họ cảm thấy có thể mình đã biến hình thành hình chim, hình thú vật hay cây cỏ. Hoang tưởng nầy thường kèm theo với loạn cảm giác bản thể, ảo giác giả và liên quan với hoang tưởng bị chi phối.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, tuổi bốn mươi, sau giờ lao động thường anh ta ngồi một chỗ nhìn trời, các bạn tù hỏi anh về những lúc ấy anh cho biết: những lúc ấy tôi biến thành chim bay đi khắp muôn phương cùng các tiên thánh.
-Tù nhân Nguyễn văn Sồi, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, sau thời gian bị giam giữ lâu dài, ông bị đột quỵ tê liệt một nửa thân người, thường kể về những giấc mơ biến thành cây cỏ của mình như một linh cảm sự đi xa mãi mãi về hư vô của chính ông .
-Hoang tưởng kỳ quái cấp: người bệnh như đang sống trong một cảnh kỳ dị lạ lùng trong một thời gian ngắn. Họ như đang đứng giữa cuộc đấu tranh của hai phe, hai lực lượng. Thắng lợi của bên này hay bên kia phụ thuộc vào hành vi tác phong của họ. Các sự kiện đều có hai ý nghĩa, người đàn ông đang nói chuyện với họ vừa là bác sĩ vừa là gián điệp. những người chung quanh vừa tham gia vào trận xung đột, vừa là nạn nhân của trận xung đột đó, nơi họ đang đứng vừa là trại giam vừa là chiến trường. Tâm trạng họ vừa sợ hãi vừa thích thú.
Cụ thể:
-Các tù nhân khi đi khám bệnh tại bệnh xá trại giam đều có tâm trạng chung: họ vừa nhìn các thầy thuốc vừa là bác sĩ đang chữa trị cho họ, song cũng là những người thay cán bộ cai tù để theo dõi họ, thật vậy có rất ít thầy thuốc bảo vệ quyền lợi cho tù nhân trong tù, vì nếu họ đứng ra bênh vực các bạn tù thì sẽ không bao giờ được làm ở bộ phận y tế, vai trò chính của các bác sĩ trong tù là tìm ra bệnh giả sẽ có công trạng hơn là công việc chữa trị.
-Hình ảnh của Bác sĩ Nhiếp, Bs Châu luôn trong tâm trí của các tù nhân đã qua trại Thung lũng tử thần, vì hầu như công việc chính của họ không phải để cứu giúp con người, nhưng để tìm ra những virus chống lại chế độ còn tồn tại nơi mỗi tù nhân để tiêu diệt họ, và điều tồi tệ cũng không phải vì lý tưởng nào cả mà vì để họ được sống trên sinh mạng cùng cái chết của người khác.
          -Hoang tưởng kỳ quái kéo kéo dài: loại hoang tưởng nầy có nội dung khuếch đại với tính hưng cảm. Người bệnh cho mình nắm quyền cai quản thế giới, lãnh đạo toàn thể địa cầu, xây dựng hạnh phúc cho tất cả mọi người, thông minh rất mực, sáng tạo các qui luật tự nhiên và các tác phẩm khoa học nghệ thuật lớn. Hoang tưởng nầy thường kèm theo cảm xúc hưng phấn, sắc thái vui vẻ và hay gặp trong hội chứng paraphremie cấp và trong bệnh liệt tiến triển.
Hoang tưởng kỳ quái kéo dài có thể có nội dung phủ định với cảm xúc buồn rầu thường gọi là hội chứng Cotard, người bệnh tự cho mình mắc tội nặng nề, phải chịu một cảnh hành hình khủng khiếp, họ cho rằng tim, phổi mình bị hư hỏng cả, ruột gan thối nát, các phủ tạng biến mất. Người bệnh cho rằng nhà cửa , thành phố bị sụp đổ tan hoang, ngoại cảnh điêu tàn, tất cả những người thân đều chết và họ đau khổ triền miên. Có thể gặp trong tâm thần phân liệt.
Cụ thể:
-Trong sinh hoạt hằng ngày có dạng tù nhân thuộc loại nầy, sự hưng phấn của họ liên tục hầu như không có sự kiềm chế như khi có một nguyên nhân nào dù rất nhỏ họ cũng cười thật lớn vang cả phòng giam, sự hoang tưởng kỳ quái nầy thường kéo dài với mỗi tù nhân trong trạng huống nầy có khi kéo dài rất lâu, nhiều khi các bạn tù khác trong sự thân mật nhắc khéo họ về sự hoang tưởng nầy nhưng dường như nó trở thành cố tật với các tù nhân sau một thời gian dài bị cách ly với xã hội.
-Tù nhân Võ văn Ánh, Nguyễn văn Trận... Họ thuộc nhóm nầy, luôn than vãn trầm buồn và cho rằng người thân đã chết hết, mặc dù có thể vẫn còn nhưng do mất liên lạc, mọi quan hệ với người thân xem như đã hỏng hết... và chính họ đôi khi than phiền cơ thể rã rời do gan tim cật đã bị hư hỏng... Nhưng thật sự chỉ là hoang tưởng, tất cả vẫn còn, tất nhiên không còn tốt trong một môi trường quá khắc nghiệt.
2.3 Ám ảnh: là những ý nghĩ, hồi ức, nghi ngờ, hành vi và động tác... không phù hợp với thực tế, xuất hiện trên người bệnh với tính chất cưỡng bức. Người bệnh ý thức được đó là do bệnh tật, biết đó là sai, tìm cách xô đuổi nhưng không sao thắng được. Đó là điều khác nhau giữa hoang tưởng và ám ảnh.
            Ám ảnh có khi xuất hiện riêng rẽ, có khi kết hợp với nhiều ám ảnh khác để thành ra hội chứng ám ảnh. Có các loại ám ảnh như sau:
             Ám ảnh trừu tượng: Là loại ám ảnh không kèm theo nội dung làm cho người bệnh lo sợ. Đó là loại suy nghĩ vẫn vơ, ám ảnh tính toán, ám ảnh suy luận, ám ảnh nhớ lại.
            Cụ thể:
            -Các tù nhân thường có những giấc mơ rồi la lớn vào ban đêm, họ nhớ lại những sự tra tấn dã man mà họ phải chịu nhục hình trong thời gian hỏi cung, hoặc những trường hợp còn sống sót sau khi trốn trại. Họ nhớ lại những nỗi kinh hoàng những lúc bị bỏ đói phải ăn cả chăn màng, và điều kiện vệ sinh phải vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát.
            -Tù nhân Trần văn Phước, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, trốn trại bị bắt lại bị đánh đến gần chết rồi bị mang ra phơi nắng trước cổng trại giam để mỗi cán bộ khi đi ngang qua mà tỏ lập trường giai cấp, mỗi người cứ đấm thoi vào tù nhân đang bị hấp hối, về sau khi hết thời gian bị kỷ luật và may mắn sống sót trở về phòng giam, đêm nào anh cũng thường có những giấc mơ kinh hoàng.

            -Ám ảnh tính toán:Người bệnh luôn luôn bận tâm đến tất cả những bậc thang, những cửa sổ của mỗi nhà, những cột điện, những chữ cái trên các tấm biển.
            Cụ thể:
            -Tâm trạng nầy thường hay gặp đối với các tù nhân đang bị giam giữ nơi nhà kỷ luật kiên giam, suốt ngày nằm đếm những con thằn lằn chạy qua lại trên trần nhà, đếm chung quanh chỗ nằm của mình có bao nhiêu viên gạch, có bao nhiêu vết máu do muỗi đốt còn dính lại trên tường, cùng bao nhiêu chữ ký của những người đã từng qua nơi họ đang nằm.
            -Tù nhân Trần văn Trang, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, thường xuyên lẩm nhẩm và đếm đi bao nhiêu bước từ cổng trại đến hiện trường lao động, quanh trại có bao nhiêu cây dừa, bao nhiêu hàng rào kẽm gai.v.v. Ông thường nói làm như thế để bộ não của mình nó làm việc, nếu không sẽ bị lú lẫn.

:           -Ám ảnh suy luận: người bệnh bắt buộc phải suy nghĩ vì sao quả đất lại tròn, chuyện gì sẽ xảy ra nếu như quả đất hình vuông...
            Cụ thể:

    • Các tù nhân đều có suy nghĩ trong cảnh đời lao lý đầy nhục hình: Tại sao người Mỹ lại bỏ chúng ta, do các công dân Hoa kỳ không còn nhẫn nại khiến Quốc Hội Hoa kỳ đi đến quyết định không giúp miền Nam nữa, hay đã đến lúc vào thời điểm đó người Mỹ đã đạt được mục tiêu nào đó như ở Trung quốc chẳng hạn, hay chính chúng ta vì quá tham nhũng thối nát trong vấn đề viện trợ khiến người Mỹ nản lòng, thế rồi sẽ có nước nào là Đồng minh của Mỹ cũng có lúc bị bỏ rơi như những người Việt Nam Tự do hay không.
    • Nhiều tù nhân trong suy luận rằng: Người Mỹ không bỏ chúng ta, Họ sẽ trở lại nhưng trong cách khác, người Mỹ không có thua cuộc, chỉ có chúng ta mới bị hoang tưởng về điều đó, những người miền Nam mới là người thua cuộc vì sự mục rữa từ bên trong của cơ chế đầy những quan chức tham ô, khiến quân đội và các công dân mất niềm tin; và miền Bắc mới càng thua đậm, họ đã và sẽ không thắng được chính mình từ sự tự cao, tự đại một cách hoang tưởng của những con người với những hoàn cảnh tha hoá khác nhau và cùng vào Lương sơn bạc: số người tốt không đủ để cầm cương với những con ngựa bất kham vốn được chiêu dụ từ những thành phần có bản chất hình sự cướp giựt rất thích hợp cho việc đánh cướp chớp nhoáng của du kích, nó lại càng thích hợp hơn khi lao mình vào đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, không tình người mà bản chất hình sự rất thích hợp trong vai trò nầy. Khi hoà bình lập lại, vốn ngựa quen đường cũ: từ thượng tầng đến hạ tầng đều là cách ở Lương sơn bạc, những con người quen cướp giựt nay nắm chính quyền lại có cơ hội tham ô nhũng lạm hợp pháp... Nên xét về đại thể dân tộc Việt Nam thua và sẽ thua nếu không nhận ra và kịp thời một sự khởi đầu mới.

            -Ám ảnh nhớ lại: người bệnh luôn luôn phải nhớ trái với ý muốn của mình như tên họ, quê quán, tuổi của nhiều người, cũng như những thuật ngữ khác nhau.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Thiền, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài bảy mươi, cụ thường xuyên đọc lại tên, họ của mình, bao nhiêu tuổi, tên các con, tên vợ là gì... vì theo cụ phải làm thường xuyên như thế để khỏi bị mất trí nhớ... Một đôi khi có ai gọi, vì chưa thích nghi kịp nên trả lời ngay chính những điều đang nghĩ.
            -Các tù nhân có tôn giáo thì thường lần hạt vì đó là cách vừa cầu nguyện vừa khiến trí óc mình làm việc, ngoài ra có người còn tin rằng mỗi bài kinh là một phát đạn bắn vào cộng sản vô thần.

             Ám ảnh cảm thụ: là loại ám ảnh cảm xúc mà nội dung làm cho người bệnh lo sợ, buồn rầu, đau khổ.
            Cụ thể:
            -Tù nhân Nguyễn văn Liễn, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau một thời gian cải tạo bị mắc chứng lao phổi nặng, thường trầm buồn, ít nói, lo sợ nhiều về cái chết sẽ xảy ra đối với anh ngay trong trại giam không kịp về với gia đình.
            -Tù nhân Nguyễn văn Đồng, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, vui vẻ khi khi gặp anh em, thích tâm sự nhưng chỉ nói về nỗi buồn cùng sự đau khổ của mình khi phải xa cách xa đình quá lâu, về sau anh phát bệnh với một ung nhọt nhỏ nhưng không được điều trị thích đáng nên nhiễm trùng và chết.
            -Ám ảnh sợ (phobia). Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù người bệnh biết tính chất vô lý và tìm cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại.
            Cụ thể:
            -Sợ khám xét cá nhân, sợ khám xét chung, sợ chuyển trại, sợ chuyển phòng, sợ bị cúp thăm nuôi, sợ không được nhận thư và gửi thư, sợ bị kêu làm việc với cán bộ an ninh, sợ kỷ luật, kiên giam... đủ mọi nỗi sợ vì các tù nhân bị khủng bố liên tục cho đến chỗ chết, và cái xác chết cũng trở thành thứ phương tiện để dùng làm sự trấn áp, răn đe những tù nhân còn sống như với các tù nhân trốn trại bị bắn chết thường được chôn rất cạn, để mùi hôi thối bốc lên hầu răn đe những tù nhân còn lại mỗi khi đi ngang qua.
            -Tù nhân Trần văn Nghĩa, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, ngoài những nỗi ám ảnh sợ như trên, anh còn sợ “nhóm thanh trừng” trong trại giam, họ gồm vài tù nhân cực đoan hay gây gổ và xông vào đánh các bạn tù được đi rộng bên ngoài với lý do thanh trừng tù chính trị thoái hoá, như ra ngoài rồi buôn bán đổi chác, có lẽ theo quan niệm của những người cực đoan nầy: tù chính trị không được làm kinh tế, không được yêu... những người nầy khi trở về, có một giai đoạn ở trại Xuân Lộc thuộc miền Nam, các giám thị đã bỏ mặc để cho chúng gây mâu thuẩn giết nhau, khiến trong trại giam vào những ngày nghỉ thật hỗn loạn: vài người trong nhóm thanh trừng nhân danh chính nghĩa? tấn công vào các bạn tù khác cho dù người đó đã chịu hơn cả chục năm trong lao lý khiến sau đó đều lâm trọng bệnh. Người ta chứng kiến riêng anh Nghĩa bị đánh dường như đến hơn ba lần khác nhau vì lý do nhỏ nhặt ở bên ngoài, khiến anh vốn là một tù nhân không có thăm nuôi suốt hàng chục năm đã ốm yếu thành người như tàn phế sau đó... Nhiều tù nhân suy nghĩ nếu đất nước mà rơi vào những con người tâm thần bất an và đầy sự cực đoan nầy sẽ như thế nào.

Ám ảnh sợ khoảng rộng (agoraphobia)
Cụ thể:
-Tù nhân Trần minh Nguyệt, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, một kỹ sư, sau một thời gian dài lao lý, khi chuyển về một trại ở miền Nam, anh được tự giác, lúc trở về trại giam cũng bị trấn áp của nhóm cực đoan, khiến anh bị ám ảnh hơn về một xã hội - theo tâm sự - mà anh đang đi tìm rộng lớn hơn ở bên ngoài xã hội. Anh bị nghi có quan hệ với một thiếu nữ, nhưng không ai có bằng chứng và nếu có bằng chứng thì giám thị đã không cho tự giác thậm chí còn kỷ luật là đàng khác.                                     
-Chung quanh các trại giam thuộc miền rừng núi có nhiều mương rẫy, đất đồi được khai hoang và trồng trọt, ở những nơi đó đều có dựng chòi và các tù nhân dù án cao nhưng đã ở lâu năm, nhất là tuổi cao được bố trí đến ở các nơi đó để canh thú rừng vào ban đêm; và thường chỉ sau một thời gian ngắn những tù nhân nầy bị sốt cao, họ sẽ được trở lại trại giam qua sự xác nhận của y tế, song người nào khi trở về cũng trong bệnh hoạn cùng nỗi ám ảnh về cái khoảng rộng mênh mông ở thế giới bên ngoài. Đặc biệt phần lớn các trại giam, nếu muốn được sắp xếp vào vị trí giữ chòi, hà tất phải đút lót cho cán bộ cộng sản rất nhiều.

-Ám ảnh sợ chiều cao:(hypsophobia).
Cụ thể:
-Hầu hết các nhân vật có tầm cở khi vào tù đều mắc chứng nầy, chiều cao ở đây là những ảnh hưởng vốn có từ ngoài xã hội, thật vậy họ luôn bị theo dõi rình rập của cai tù và có thể bị đưa vào kiên giam bất cứ lúc nào. Vì sinh mệnh của họ bị đe doạ thường xuyên nên các tù nhân luôn tự an ủi bằng câu: Trời kêu ai nấy dạ.
-Tù nhân Cao khắc Vĩnh, án trên mười lăm năm, tuổi năm mươi, nguyên là Hiệu trưởng một trường Cao đẳng Sư phạm trước đây, ánh mắt ông như luôn đăm chiêu trầm lắng, không một động tác nào của ông mà không bị theo dõi, may mắn cùng sự thận trọng đã cứu ông. Một người bạn cũng Giáo sư Đại học, hình như cùng tổ chức với ông, ông Trương Phúc Đức đã bị kiên giam đến chết, và tuổi cũng chỉ khoảng năm mươi; một người khác nhà giáo Lưu Kỉnh đã không khuất phục trước kẻ thù, không van xin trong cơn đau bao tử đến lúc chết ngay tại phòng giam, án chung thân. Quả thật Thầy Cao đã đóng vai thật khôn ngoan trong nỗi ám ảnh về sự ảnh hưởng vốn có của mình từ ngoài xã hội: Ông đã chết trước khi bị giết chết và may mắn còn sống sót.

-Ám ảnh sợ chỗ đóng kín (claustrophobia).
Cụ thể:
-Trong cuộc hành trình của những ngày lao cải, thường ai cũng trải qua những ngày bị giam kín cách ly trong phòng tối để khai cung, căn phòng cacho nhỏ và thật nhỏ ấy, nó giống như một cái huyệt chôn người sống, bên ngoài với nhiều lớp tường bao bọc, không có ánh sáng, các tù nhân đưa bàn tay mình lên song không thấy gì cả, hằng ngày nhận được hai cục cơm trưa và vắt lại bằng quả trứng vịt nhưng không biết nó có màu gì, nhiệt độ ban ngày không dưới bốn mươi độ C... Nên những ai khi rời khỏi nơi nhà kỷ lụât nầy đều mang nỗi ám ảnh sợ cái không gian bé nhỏ giết người đó mà không biết những người đấu tranh cho Hoà bình xanh có bao giờ đã từng quan tâm đến.
-Tù nhân Trần văn Sơn, một tù nhân tuổi ba mươi bị điên trong tù, khi lên cơn anh bị kéo lê lết vòng quanh trại giam để nhốt vào nhà kỷ luật, trên đường bị lôi đi dù trong cơn điên anh vẫn còn bị ám ảnh về cái khoảng không gian kinh hoàng đó: -Xin đừng mang tôi vào đó... Cái lò hoả thiêu, nóng, nóng lắm... Hãy giết tôi đi... Đừng mang tôi vào chỗ kín đó.

-Ám ảnh sợ người (anthrophobia).
Cụ thể:
-Đây là tâm trạng chung của các tù nhân khi mới bị bắt từ ngoài xã và được đưa vào phòng giam tập thể, mỗi phòng không đầy năm mươi mét vuông nhưng chứa đến cả trăm con người, căn phòng chừng một trăm mét vuông thì chứa trên hai trăm người... Điều thứ nhất mà ai cũng nhận ra sự khác thường là TẤT CẢ ĐỀU Ở TRUỒNG vì nhiệt không dưới 45 0C. Mắt người nào cũng đỏ hoe, mồ hôi thì chảy như tắm, sự gây gổ, đánh cải chửi nhau xảy ra liên tục trong phòng do môi trường quá nóng khiến tính khí con người trở nên bất thường. Các tù nhân khi rời khỏi loại phòng giam tập thể nầy sẽ luôn mang theo nỗi ám ảnh sợ người như mùi nồng sặc của con người tiết ra, và trong căn phòng cả trăm con người ấy chỉ có một nhà cầu, những kẻ bị bệnh lậu, giang mai từ ngoài xã hội dù được dồn lại một góc nhưng mủ của bọn chúng chảy ra bốc lên tanh hôi khiến ai đến gần cũng muốn ói. Cao điểm của các loại phòng nầy là vào những năm 1977,1978,1979... cùng những năm 1980, khi phong trào bỏ nước ra đi lên cao điểm và nhiều người bị bắt lại.
- Tù nhân Lê văn Tám, án trên mười lăm năm, tuổi ngoài năm mươi, sau gần chục năm lao cải ở trại Xuân Phước còn gọi là Thung lũng tử thần, ông từng bị vào Nhà Đỏ -nhà kỷ luật của trại nầy, ông bị chứng áp huyết cao, có lần bị xuất huyết đường ruột suýt chết. Sau đây là suy nghĩ của riêng ông và cũng là của rất nhiều người khi qua trại nầy: Bọn chúng còn quá trẻ tuổi chưa đến ba mươi, toàn là từ miền Bắc mới đưa vào, nhưng không biết ác sao mà ác thế, tôi cũng là người miền Bắc - ông nhấn mạnh - chưa bao giờ thấy chúng tha cho một ai dù là chỉ vi phạm nhỏ, chuyên ghép tội và bắt các tù nhân nhận tội, nếu không chúng dùng roi điện quất cho đến đầy thương tích mới thôi. Chúng không có nụ cười, con ngươi của chúng như chỉ có mỗi tròng trắng mà thôi... Trong sự ám ảnh nên ông có cái nhìn như thế, quả thật vì bọn cán bộ trẻ nầy hay trừng con mắt để làm uy nên chỉ thấy lòng trắng nhiều hơn. Ông kể lại khi chúng cùm tréo tay ông ôm ngược vào thân cây, lòng ngực ông muốn xé ra đau đớn vô cùng, nước mắt ông chảy vì đau cho dù cố gắng chịu đựng, chúng còn thoi đá vào người và bảo tại sao lại khóc, dù chúng chỉ đáng tuổi con cháu trước người già cả. Những thao tác của chúng giống như một đồ tể với mục đích cuối cùng là làm cho con người không cùng giai câp phải chết, nếu có cùng giòng máu đi nữa nhưng khác lập trường giai cấp thời phải chết. Câu đầu của Tam đoạn luận: Làm người phải chết và bây giờ tại Việt nam: Không cùng giai cấp phải chết.

-Ám ảnh sợ cô đơn (monophobia).
Cụ thể:
-Sinh hoạt nơi các trại lao động khổ sai có nét chung, giờ thảnh thơi nhất trong ngày có lẽ là khoảnh khắc thời gian trước giờ điểm danh buổi chiều để bị nhốt “vào chuồng” ban đêm. Trước ít phút điểm danh đó, các tù nhân thường đổ ra các hành lang để trao đổi trò chuyện với nhau, giống như những chú cừu trong đàn cừu cần sưởi ấm cho nhau. Ai ai cũng tìm người tâm sự để được nói hay được lắng nghe, đúng hơn là tránh nỗi ám ảnh cô đơn trong thời gian bị cách ly xã hội lâu dài.
-Tù nhân Nguyễn văn Chơn, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, đảm trách công việc của một bệnh xá, luôn có người bên cạnh, bề ngoài vui vẻ và giúp đỡ rất nhiều người trong việc chữa trị, nhưng lúc nào tâm sự với ai cũng nói lên nỗi lòng của mình rất cô đơn, trống vắng do xa cách gia đình quá lâu dài.

-Ám ảnh sợ ung thư (cancenophobia).
Cụ thể:
-Tù nhân Lê văn Hiển, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, cùng chung vụ với các Linh mục Dòng Tên Việt Nam do thời gian lao cải lâu dài và nằm nhà kỷ luật khá lâu khiến cụ bị tháo dạ thường xuyên và cụ luôn ám ảnh về mình có thể bị ung thư đường ruột, về sau cụ bị chết do các biến chứng từ đường ruột và không biết có phải là ung thư thật hay không.
-Tù nhân Nguễn văn Chuyển, án hai mươi năm, tuổi gần bảy mươi, trông cụ rất mạnh khoẻ nhưng lại luôn ám ảnh về chứng ung thư như hơi đau bụng một tí là cụ than có thể đường ruột bị hư, có một tí mụt nhọt cụ cũng đầy lo lắng... Chính vì trong một trường quá khắc nghiệt khiến cụ bị ám ảnh mọi thứ, cũng từ sự sợ hãi quá mức nên cụ nổi tiếng trong việc đút lót cán bộ thậm chí nghe tiếng đồn từ rất nhiều tù nhân ông còn nhận một nữ cán bộ làm con nuôi, trong khi đối với các bạn tù thì rất dè sẻn từng tí một... Vì theo ông chỉ có cán bộ mới sẽ đưa ông đên nơi chữa trị ung thư... mà đúng là ung thư tâm thần.

-Ám ảnh sợ chết (thanatophobia).
Cụ thể:
-Tù nhân Trần văn Phùng, án trên mười năm, tuổi ngoài năm mươi, mặc dù bề ngoài rất vui vẻ, gặp ai cũng chào hỏi, song trong ông luôn mang nỗi âu lo sợ hãi về cái chết, ông thường tâm sự: Trong tù dễ chết quá, tất cả mọi nẻo đường từ vệ sinh ăn ở sinh hoạt, nhất là cách cai trị của các cán bộ đều nhằm đưa đến cái chết và sau rốt họ chỉ mất tờ giấy khai tử.
-Tù nhân Thái văn Mân, án chung thân, tuổi ngoài sáu mươi, luôn nghĩ đến đoạn đường dài đã trải qua, rồi những ngày sắp đến với tuổi già mà sự giảm án hầu như nhỏ giọt khiến luôn băn khoăn: không biết sẽ có ngày về với gia đình hay không, hay là về với ông bà trước rồi gia đình sẽ bay về sau. Nhất là dù tuổi cao nhưng đã bị đánh đập rất nhiều lúc bị bắt tại địa phương, hậu quả suốt những ngày trong tù ông mắc nhiều chứng nan y như đường ruột, tim mạch, suyễn, phổi.

-Ám ảnh sợ vật nhọn (aichmophobia).
Cụ thể:
-Có lẽ điều ám ảnh nầy dành cho phía cán bộ cai tù nhiều hơn cả đến nổi họ nghiêm cấm các tù nhân không được giữ bất cứ vật bén nhọn nào, và công việc kiểm tra hầu như xảy ra thường xuyên tại nơi ăn ở của tù nhân cũng như chung quanh. Hậu quả của những vụ trấn áp với lý do không được dùng các vật bén nhọn nầy đã dẫn đến không biết bao tù nhân bị vào nhà kỷ luật, vì trong sinh hoạt hằng ngày không thể không có các vật bén nhọn như dao, các vật cắt để chế biến thức ăn. Trong nỗi ám ảnh nầy vì các cai tù phải lo cho chính bản thân của họ, các giám thị trại giam sợ nhất là những cuộc bạo loạn mà đối tượng đầu tiên bị nhắm đến trước tiên chính là các cai tù, đàng khác để trật tự trong trại giam được ổn định. Một khi các tù nhân lương tâm bị mang đi giấu, nhốt chung với tù hình sự như có lần tại trại Xuyên Mộc, mọi người đều chứng kiến vào mỗi trưa đề thường xảy ra cảnh thanh toán nhau giữa các nhóm, các đại bàng, chúng dùng dao nhọn hay vật nhọn đâm ngay vào tim của đối thủ khiến chết ngay tại chỗ là chuyện bình thường.
-Tù nhân Nguyễn văn Hường, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, nguyên văn: -Có những lúc lưỡi lê nòng súng nó làm cho mình sợ hãi, nhưng đến một lúc nào đó thì nó không là gì cả, anh đã bị chúng biến thành một con người còn đó nhưng với ánh mắt thẩn thờ, tấm thân khô đét lại đầy bệnh hoạn, cán bộ chấp cung đã dùng các vật nhọn để thụi, đâm thọt vào người tù nhân nầy.

-Ám ảnh sợ tất cả (panphobia).
Cụ thể:
-Đây là tâm trạng chung của các tù nhân, chỉ có rất ít và có lẽ cũng chỉ có một hai người là không biết sợ khi chẳng may vào các trại tập trung cộng sản, và người mà ai cũng rõ trong đấu tranh cho quyền của con người là Linh Mục Nguyễn văn Luân và ông đã đi đến cái chết. Còn tất cả đều mang nỗi ám ảnh sợ đủ thứ... nghĩ đến sự thất bại cuối cùng đến cái chết vẫn còn sợ, như ít ra là sợ bị chôn cạn làm hoen ố môi trường.
-Tù nhân Nguyễn văn Mậu, án chung thân, tuổi ngoài bảy mươi, thật tội nghiệp mỗi khi nghe có cán bộ đến, hoặc gọi cụ đi làm việc là tay chân cụ run bấn cả lên. Môi cụ run run nói lên nỗi ám ảnh dù cái chết với cụ đã rất gần do tuổi cao, nhưng chính môi trường với những con người dã tâm khủng bố khiến già trẻ đều sợ: Tất cả họ đeo theo mình ám ảnh sợ hãi không phải về cái chết vì ai nấy thật sự đều không sợ cái chết, xem cái chết nhẹ như tơ hồng nên mới dám chống lại cộng sản, nhưng nỗi ám ảnh sợ thật sự đó là: cái chết được trải ra và những kẻ đứng ra hành quyết con người lấy làm khoái sướng, họ là con người thật có nhân tính, song nhân tính ấy nay được trang bị bằng mệnh đề: Kẻ thù giai cấp phải chết. Tất cả chúng ta sống gần họ nhiều khi thấy họ rất dễ mến là đàng khác, vì thật sự nó chỉ khác cái nọc nằm ở đuôi.
-Ám ảnh  lo sợ thực hiện: Các tù nhân lo sợ ám ảnh biến thành sự thực như lo sợ mất ngủ và mất ngủ thật.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Rở, án chung thân, tuổi ngoài năm mươi, ông thường tâm sự: Tôi rất sợ mất ngủ và thường xuyên mất ngủ thật... lý do hay nghĩ vẫn vơ về mọi thứ, những ý tưởng cứ đến liên tục và cứ thế cho đến gần sáng nới chợp mắt được.
-Nguyễn văn Răng, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông cho biết đêm nào cũng không ngủ được, mặc dù rất sợ mất ngủ và cố gắng ngủ, nhưng đêm nào cũng đến gần sáng mới chợp mắt được. Nó giống như ở kiên giam vậy chỉ ngủ vào ban ngày còn ban đêm thì thức.

-Ám ảnh hồi ức: Tù nhân trong trạng huống nầy hay nhớ lại một sự kiện hết sức khó chịu, một sự đau khổ trong quá khứ làm cho họ xấu hổ, hối hận và cố gắng quên đi nhưng không sao quên được.
Cụ thể:
-Tù nhân Trần văn Trang, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, luôn ám ảnh và nhớ lại cuộc nổi dậy đào thoát bị thất bại khiến ông từ tập trung lên án cao, và trở nên trầm uất vì nay tuổi đã cao khó mà thực hiện việc đào thoát được nữa. Những hơi thuốc lào thật dài như đưa tù nhân nầy vào quên lãng những nhọc nhằn, tủi nhục, đau đớn, kỷ luật kiên giam bị đánh đập tàn nhẫn đến bản án lâu dài.
-Tù nhân Nguyễn văn Cá, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, trầm uất, anh luôn mang nỗi ám ảnh sau vụ bạo động trốn trại thất bại, đó là khi việc đào thoát không thành anh đã quay lưng lại các bạn tù đang đào thoát bằng những câu: Cứu tôi với cán bộ, bọn chúng đã ép buộc tôi... Cho dù có kêu cứu và lập công khai báo để chuộc tội nhưng bọn cai tù cũng không tha cho anh, chúng tiếp tục tăng án cao và chuyển đến trại Thung lũng tử thần.

-Ám ảnh nghi ngờ: Tù nhân rơi vào tình huống nầy hay nghi ngờ các sự việc đã làm không biết có quên thực hiện hay không, như phân vân không biết đã phủ kín chiếu chỗ nằm hay chưa khi ra khỏi phòng giam, soát đi soát lại các phép tính đã làm, thư đã dán phong bì rồi bốc ra dán lại nhiều lần vì nghi ngờ không biết có gửi đúng hay không. Sự kiểm tra nhiều lần cũng không làm người bệnh yên tâm và buộc họ phải tiến hành kiểm tra một cách liên tục.
Cụ thể:
-Các tù nhân thường mắc chứng nầy nghi ngờ đủ mọi thứ như khi ra khỏi phòng họ hay làm dấu ở chỗ nằm để xem khi trở về có bị mất dấu hay không, hầu suy đoán có đang bị theo dõi hay không, nhất là trước lúc ra đi luôn xem những vật cần dấu kín đã cất đúng chỗ hay chưa. Mọi ánh mắt dù ngay của đồng phạm cũng luôn đặt sự nghi ngờ nơi họ.
-Tù nhân Nguyễn văn Đệ, án chung thân, tuổi trên bốn mươi, sự nghi ngờ trong anh đến mức có khi đội ngũ đã xếp hàng chuẩn bị xuất trại mà anh còn chạy vào phòng giam để xem những vật dụng mà có lẽ chỉ chính anh mới biết đã cất giữ theo ý hay chưa... nhờ chức vụ  đội trưởng nên có lý do trả lời vói cán bộ vì quên sổ sách.v.v.

 Khuynh hướng và hành vi ám ảnh :
-Khuynh hướng ám ảnh: Là sự xuất hịên trong ý nghĩ các xu hướng thực hiện một hành vi vô lý và thường nguy hiểm, trái với lẽ phải, trái với ý chí và trái với tình cảm.
Ví dụ: Đột nhiên người mang chứng nầy muốn chửi một kẻ qua đường, ném đá vào xe đang chạy, nhảy qua cửa sổ, đâm chết người thân.
Khuynh hướng nầy làm cho bệnh nhân đau khổ và sợ, một phần sợ mình thực hiện cái xu hướng đó, một phần không hiểu tại sao mình có những ý nghĩ quái gở như vậy.
Cụ thể:
-Hành vi quái gở nầy thường thấy xuất hiện nơi các cán bộ quản lý trại giam, mặc dù sinh hoạt trong điều kiện tự do hơn, song như nhiều cán bộ đã phát biểu: Các anh là tù trong, chúng tôi là tù ngoài. Thật vậy dù có điều kiện hơn các tù nhân nhưng với môi trường khắc nghiệt khiến họ cũng bị biến đổi về tâm sinh lý nhất định. Đột nhiên khi đang dẫn tù đi, họ thấy chó thì chửi chó, thậm chí còn ném đá chúng. Có người thì thích đánh đá các tù nhân suốt dọc đường từ khi xuất cổng trại giam cho đến hiện trường lao động. Có người lại chửi thề thô tục suốt dọc đường đi.
-Tù nhân Nguyễn Lên, án chung thân, tuổi trên bốn mươi, thường nói chửi thề suốt ngày, và mỗi khi nói như vậy, tù nhân nầy sau đó tỏ rõ sự tiếc rẻ, hối hận về điều mình nói, song khoảnh khắc sau đó lại nói tiếp, rồi tỏ ra ân hận tiếp.

-Hành vi ám ảnh có 2 loại:

  • Hành vi ám ảnh: những động tác thực hiện ngoài ý muốn, ngoài sự cố gắng tự kiềm chế. Đó không phải là những động tác tự động mà là những động tác có ý chí đã thành thói quen khó bỏ được, chúng không kèm theo ám ảnh sợ.

Cụ thể:
-Cán bộ Nguyễn Nên, quản giáo, tuổi ba mươi, mỗi khi gặp nữ cán bộ cùng cơ quan hoặc các cô gái quanh trại giam mà y gặp trên đường đi, y liền phát ngôn những lời thật tục tĩu của giới trụy lạc... một cách thích thú không e thẹn, một số các cán bộ trại giam đều có sự thể hiện của khuynh hướng nầy, ngay cả các trưởng trại có khi còn sỗ sàng hơn thế.
-Trưởng trại Nguyễn văn Bàng, tuổi năm mươi, mỗi khi gặp cán bộ nữ, y ăn nói thật thô tục như ngoài những lời chửi thề, gọi phụ nữ là con nầy đĩ kia, cả những lời dùng trong giao phối. Với nam cán bộ thì y dùng những lời mạt sát như thằng nầy, thằng kia, toàn một lũ ăn hại, ăn bám.v.v. tiếp theo nhau là điệp khúc chửi thề thô tục.

 

-Nghi thức ám ảnh: Là những hành vi, những động tác ám ảnh phát sinh cùng với ám ảnh sợ, những nghi ngờ, sợ sệt ám ảnh, có ý nghĩa như để tự vệ, để giải trừ, để thoát khỏi nguy hiểm tưởng tượng.
Ví dụ: người tù có ám ảnh sợ các bạn tù lần lượt ra đi, khi đi ra khỏi nhà kỷ luật, bệnh xá hay nhìn lại đôi ba lần mới yên tâm.
Cụ thể:
-Tâm trạng chung của các tù nhân trong tình huống nầy là nghi ngờ có gì bất trắc đang xảy ra chung quanh mình, biểu hiện qua các động tác như mỗi khi đi hay  quay nhìn lại, giả vờ cúi xuống sửa dép, hay đánh rơi vật gì.v.v. để xem có ai theo dõi mình hay không, nhưng thật ra hầu hết các nỗi ám ảnh đó là do sự tưởng tượng thái quá mà thôi.
-Tù nhân Giang Long Quang, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, ánh mắt ông như luôn dáo dát nhìn về phía trước như xem có ai sắp ám hại mình hay không, tù nhân nầy hay nói: tôi đã bị quá nhiều kẻ hại mình từ các du kích, công an địa phương cho đến trại tù cũng chưa yên trong chế độ nầy, nên tôi quá sợ. Bây giờ chỉ còn là sự cảnh giác trước cái chết mà thôi