PHẦN MỘT
CHƯƠNG 3 g
RỐI LOẠN TRÍ NHỚ.
1. Giảm nhớ (Hypomnesia): Đây là sự suy giảm trí tuệ thể hiện qua việc giảm nhớ những sự việc mới xảy ra hay sự việc cũ gặp trong loạn tâm thần tuổi già, liệt tiến triển, loạn tâm thần suy nhược.
Cụ thể:
-Tù nhân Lê Chỉnh, án mười lăm năm, tuổi bốn mươi, anh nói trước quên sau và thật sự như tù nhân nầy thường tâm sự: từ ngày vào tù đến nay trí nhớ của tôi sa sút đi rất nhiều, trong dịp thăm gặp nhiều khi anh không nhớ rõ người thân là ai nữa.
-Tù nhân Hải Đăng, án hai mươi năm, tuổi gần sáu mươi, nguyên là một giáo viên ngoại ngữ, khi vào tù ông bị mù do bị nhốt ở phòng tối quá lâu, rồi trí nhớ giảm dần, nên hằng ngày ông luôn luyện tập ký ức như tập đọc lại những gì mà ông trực nhớ lại, đọc đi đọc lại nhiều lần, theo ông sau đó vẫn quên vì một là tuổi đã cao và trong điều kiện môi trường thiếu thốn về vật chất cũng như sự khủng bố trấn áp thường xuyên, cụ thể khi mọi người phải lao động khổ sai, ông cùng những người bệnh tật bị đưa đi nhốt ở một phòng riêng khác với những lời đe doạ, chửi bới làm nhục như nào là thành phần ăn bám, trốn lao động.
2.Tăng nhớ (Hypermnesia): người tù trong tình huống nầy nhớ lại những sự việc rất cũ, cả những sự việc không có ý nghĩa hay những chi tiết vụn vặt tưởng không thể nào nhớ được, gặp trong trạng thái hưng cảm.
Cụ thể:
-Tù nhân Đinh văn Hoạt, án chung thân, tuổi năm mươi, nguyên là một giáo viên và theo lời ông đã từng hợp tác với người Mỹ trước đây, ông hay kể về những sự việc rất cũ về ngày xưa như mới vừa xảy ra: ông nói về những chi tiết của triết học Đông phương, Tây phương mà tưởng chừng sẽ không ai nhớ nổi... và cuối cùng trong câu chuyện bao giờ cũng tiếc rẽ về một nền văn minh đương đại đã đến với chúng ta lần thứ nhất, chúng ta đã không tiếp đón và học hỏi cái hay mà lại đánh đuổi họ ra đi; lần thứ hai với người Mỹ trong biết bao cái tuyệt vời nhất của thời đại, thật là cơ may khôn cùng với dân tộc Việt Nam, nhưng rồi chúng ta cũng lại xô đuổi họ ra đi... ôi là những chuyện đáng tiếc cho dân tộc nầy. Quả thật bao giờ nói về điều nầy ông cũng lộ rõ sự hưng phấn của mình. Tù nhân bất hạnh nầy bị chết do áp huyết cao mà phải lao động khổ sai, vào một buổi sáng đang chuẩn bị đi ra hiện trường thì té ngã và chết tại chỗ, theo lời bác sĩ trại giam ông bị đứt mạch máu não.
-Tù nhân Bùi xuân Phương, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, ông luôn kể về lịch sử đấu tranh về nhân quyền của các tổ chức một cách tỉ mỉ, đến nỗi có nhiều chi tiết tưởng chừng không cần phải nhớ, và với tù nhân nấy chỉ thật sự hưng phấn khi kể về các tổ chức trong đó có tổ chức Duy dân của chính ông và Hội ái hữu các tù nhân chính trị trong nhà tù cộng sản do Linh mục Nguyễn huy Chương và chính ông thành lập tại trại Thung lũng tử thần, cũng chính vì tổ chức nầy ra đời đã đưa Linh mục Chương bị kiên giam đến chết. Đối với tù lương tâm, sự hưng phấn đến với mỗi người dường như cũng là cái nghiệp của người ấy.
3. Quên (amnesia):
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn Tư, án chung thân, tuổi trên ba mươi, sau một thời gian lao lý trên mười lăm năm, anh trở nên bất bình thường trầm trọng như không còn nhớ rõ việc trước việc sau, chốc nữa sẽ làm việc gì. Mọi người khuyên anh luyện trí nhớ, anh rất cố gắng nhưng khi đọc xong chữ trước đã quên chữ sau. Sinh hoạt hằng ngày anh cũng hoà nhã với anh em nhưng dễ nổi nóng và rất hay bị kích động.
-Tù nhân Trần văn Trí, án chung thân, tuổi hai mươi, sau một thời gian dài lao lý trên mười năm, dù tuổi rất trẻ nhưng trí nhớ giảm hẳn, vì còn trẻ mọi người khuyên anh học thêm, tù nhân nầy cũng rất nỗ lực nhưng không có kết quả như học trước quên sau. Ngoài ra tù nhân nầy rất dễ bị kích động, có lần vì sự khiêu khích mà anh cùng một bạn tù trẻ khác đã quên hết sự nguy hiểm và dùng cuốc xẻng đánh nhau suýt chết. Sau vụ “quên” đó, anh trở nên thờ thẩn và chậm chạp càng không linh hoạt như trước nữa.
3.1 Quên toàn bộ hay quên toàn phần: Quên toàn bộ là quên những sự việc cũ và mới thuộc mọi phạm vi, gặp trong trí tuệ sa sút nặng. Quên từng phần là quên một số kỷ niệm, quên ngoại ngữ, quên thao tác nghề nghiệp. Gặp trong tổn thương khu trú ở một vùng nhất định của não hay do cảm xúc quá mạnh và đột ngột .
Cụ thể:
-Tình trạng quên từng phần hầu như các tù nhân thụ án lâu năm đều mắc phải, chỉ duy ở mức độ nặng nhẹ khác nhau như đan cử:
Tù nhân Trần văn Liên, án chung thân, tuổi năm mươi, sau thời gian hơn mười năm lao cải và di lý đến những trại giam khác nhau, gia đình thăm viếng cũng thưa dần vì kinh tế quá khó khăn, anh bắt đầu có triệu chứng ù tai và sau đó điếc dần cũng như chứng kém trí nhớ phát triển ngày càng nhanh, theo sự diễn tả của anh: hình như cái não của tôi nó cô lại chỉ còn ít tế bào trong số mười tỷ là còn hoạt động. Cụ thể như về quan hệ thân tộc ông chỉ còn nhớ tên vợ chứ không còn nhớ họ lót, các con có cháu nhớ tên quên chữ lót, có cháu chỉ còn nhớ tên lúc còn nhỏ. Hằng ngày trong sinh hoạt các vật dụng hay bỏ đâu quên đó và ai nói gì ông cũng vui vẻ chấp nhận nhưng luôn với câu: Thế hả, thế hả.
-Tù nhân Nguyễn văn Khoen, án trên mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, bị cụt một chân, ông còn nhớ một ít câu thơ và ngâm vịnh thường xuyên nhưng lại đọc trước quên sau, nhiều lúc ông tâm sự: Tức quá tuổi già và sự giam giữ cách ly với xã hội quá lâu dài trong thiếu thốn đã làm cho con người mình trở nên ngày càng đần độn.
3.2 Quên thuận chiều (amnesia anterograde): Là quên những sự việc xảy ra ngay sau khi bị bệnh một thời gian từ vài giờ đến vài tuần. Hành vi người bệnh trong thời gian đó hoàn toàn đúng đắn, họ hiểu cặn kẻ tất cả, nhưng về sau họ quên mọi chuyện xảy ra trong thời gian đó. Gặp trong chấn thương sọ não.
Cụ thể:
Tù nhân Nguyễn văn Nở, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông bị đột quỵ , rồi liệt hẳn một cánh tay, theo các y sĩ trong tù ông bị đứt mạch máu não, về sau tù nhân nầy hầu như quên hết mọi chuyện cả quá khứ lẫn hiện tại, các bạn tù thường xuyên chăm sóc và gợi ý để ông có thể hồi phục trí nhớ, nhưng cơn bệnh ngặt nghèo do lao cải quá lâu đã dần đưa ông đến sự bại liệt toàn thân cùng trí nhớ mất hẳn và chết tại trại giam.
-Tù nhân Nguyễn văn Cẩn, án hai mươi năm, tuổi trên bốn mươi, bị nhốt kỷ luật, kiên giam quá lâu trong phòng tối đến gần mù mắt, tê liệt tứ chi, khi được ra ngoài phải mất mấy năm sau mới tập đi lại từ từ từng bước. Thế nhưng trí nhớ của tù nhân nầy chỉ ngày càng kém đi. Anh chỉ biết đã bị nhốt trong phòng tối nhưng không biết là bao lâu, bị tra tấn nhiều nhưng không biết đánh ở đâu.
-Quên trong cơn (amanesia congrade): người bệnh chỉ quên sự việc xảy ra trong cơn, trong thời gian bị bệnh, gặp trong cơn động kinh.
Cụ thể:
Tù nhân Nguyễn văn Phú, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, do bị tra tấn quá nặng, theo lời kể của anh, hậu quả về sau bị mắc chứng động kinh, thường vài hôm lại lên cơn động kinh, và trong cơn động kinh anh không còn nhớ gì hết, cả thân người run lên, tay chân co giựt hay co rút lại... Thế nhưng lúc hết cơn anh lại sinh hoạt bình thường..
-Tù nhân Lê văn Hưng, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, mắc chứng động kinh, vào những lúc đó hầu như ông không còn nhớ gì cả, song hết cơn động kinh tù nhân nầy trở lại sinh hoạt bình thường dù có chậm chạp do thời gian giam giữ quá lâu dài.
3.3 Quên do ghi nhận kém, do nhớ lại kém.
-Quên do ghi nhận kém (amnesia fixation): thường là quên thuận chiều.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Tài, án chung thân, tuổi ba mươi, mắc chứng bệnh suyễn, lao phổi, do thời gian lao cải quá lâu cùng các chứng bệnh nan y ngày càng thêm nặng khiến trí nhớ của anh kém dần, như khi lên cơn suyễn hoặc những lúc ho ra máu anh chỉ còn nhớ mình còn thở được đến hơi thứ mấy và không biết lá phổi có còn hoạt động nữa hay không.
-Trần văn Thuyên, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, bị tim mạch cùng áp huyết cao, mỗi khi lên cơn co giựt ông chỉ còn những lời cầu xin trăn trối: Cứu con với Chúa ơi... Không biết gì hết trong sự vật lộn với tử thần, sau đó ông chết trong đau đớn.
-Quên do nhớ lại kém (amnesia eoction): thường là quên ngược chiều.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn đình Tài, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, sau một thời gian dài ở tù cùng tuổi cao, trí nhớ ông hầu như giảm dần, ông chỉ còn nhớ tên một vài người bạn cùng chiến đấu với ông ngày xưa, nhất là trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông chỉ nhớ đã bắn có mười hai phát súng và luôn thêm câu xác nhận chỉ bắn có chừng ấy mà thôi, cấp bậc của ông là Trung tá trong chế độ miền Nam trước đây. Hầu như ông đã quên hết những tri thức mà ông đã thụ bẫm trước đây.
-Tù nhân Nguyễn văn Sền, án trên mươi lăm năm, tuổi gần bảy mươi, sau một thời gian lao cải lâu dài hầu như trí nhớ cụ giảm hẳn khi tuổi tù cùng tuổi đời ngày càng cao. Suốt ngày cụ chỉ lo trau chuốt những cây gậy cho thật đẹp, vì cụ bịnh già nên được miễn lao động nhất là mỗi khi ra hiện trường lại phải tốn công khiêng cụ về.
3.4 Quên tiến triển, quên cố định, quên thoái triển:
-Quên tiến triển: hiện tượng quên tăng dần với thời gian, người bệnh mất khả năng ghi nhận và quên dần vốn kiến thức. Sự quên nầy tiến hành theo định luật Ribot, tức là sự việc mới quên trước, sự việc cũ quên sau.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Trọng, án mười lăm năm, tuổi bảy mươi, thời nào cũng bị ở tù vì theo cụ thời nào cũng có bất công và cụ chống lại những bất công đó, từ Pháp đến Mỹ, cộng sản... Tuổi cao mắt cụ yếu hẳn đến gần mờ, tai cũng không còn nghe rõ nữa, trí nhớ giảm hẳn như những gì vừa mới xảy ra cụ quên ngay, thế nhưng với những gì xảy cách đây dù vài chục năm cụ lại nhớ rất rõ.
-Linh Mục Nguyễn văn Thuyên, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, tâm hồn Ngài rất thanh thản mặc dù ngài bị chụp mũ tuyên truyền chống chế độ cộng sản, sống bên vị Linh mục nầy người ta nhận thấy không có sự oán thù mà chỉ có sự tha thứ, do tuổi cao cùng sự giam giữ lâu ngày, trí nhớ giảm dần như những gì thuộc quá khứ cụ nhớ rất rõ và nếu ai biết gợi ý cụ sẽ kể lại rất tỉ mỉ, song những gì đang xảy ra như đến giờ dùng cơm cũng phải có người nhắc và đưa đi dùng bữa, cụ mới nhớ ra.
-Quên cố định: hiện tượng quên không thay đổi, không tăng, không giảm.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn văn Quý, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, từ khi bị bắt, bị tra tấn, sau đó hậu quả mắc chứng hay quên, nhưng do ý chí quyết tâm luyện tập, dù tuổi ngày càng cao vẫn không tăng, anh sinh hoạt bình thường và lúc nào cũng ôm theo những mảnh giấy nhỏ đầy tiếng Anh bên mình để luyện trí nhớ.
-Tù nhân (Nguyễn văn) Điều, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, sau vụ thất bại trong âm mưu đào thoát, anh bị kêu án từ trập trung lên hai mươi năm, với thời gian giam giữ quá lâu khiến trí nhớ có giảm nhưng sinh hoạt bình thường, do cố gắng luyện tập, lạc quan thích giúp đỡ anh em nếu có nhu cầu, những gì thuộc quá khứ cũng như hiện tại phần lớn đều được hồi phục và nhớ rõ.
-Quên thoái triển: người bệnh nhớ lại dần dần các sự việc đã quên.
Cụ thể:
Linh mục Trần văn Long, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, mặc dù tuổi cao nhưng cụ rất minh mẫn, những ngày mới bị bắt do bị trấn áp và khủng bố thường xuyên nên trí nhớ của cụ có giảm sút, nhưng sau đó cụ lấy lại tinh thần, và thật sự những ai có dịp hầu chuyện với vị Linh mục cao niên nầy đều thấy cụ rất tỉ mỉ trong những câu chuyện ở quá khứ và cả những gì đang xảy ra,
-Tù nhân Nguyễn văn Tống, án chung thân, tuổi năm mươi, sau nhiều năm bị kỷ luật, kiên giam khiến trí nhớ ông bị giảm sút trầm trọng, nhưng sau đó ông đã cố gắng luyện tập ký ức và có thể nhớ lại dần dần kể cả những kiến thức mà ông đã từng thụ bẫm, trước đây ông là một giáo viên bậc trung học. Nhưng chẳng may số phận nghiệt ngã đã đến, ông ho ra máu thường xuyên, có khi thổ huyết trầm trọng nhưng trong điều kiện thiếu thốn thuốc men khiến căn bệnh lao phổi đã cướp đi sinh mạng của ông trong tù.
4. Giảm nhớ (paramasia):
4.1 Nhớ giả (pseudoreminiscence): đối với những sự việc có thật trong cuộc sống của người bệnh trong một thời gian và không gian nào đó, thì người bệnh lại nhớ vào một thời điểm và không gian khác.
Cụ thể:
-Tù nhân Thái văn Mân, án hai mươi năm, tuổi gần sáu mươi, sau thời gian lao cải quá lâu dài cùng với tuổi cao khiến trí nhớ của cụ ngày càng giảm sút, ví dụ cụ không còn nhớ rõ mình bị bắt lúc nào, nhớ lộn xộn năm nầy qua năm khác, nhớ sai những giai đoạn đã từng làm việc từ triều đại nầy lẫn qua triều đại với năm tháng khác.
Tù nhân Nguyễn trọng Tân, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, do tuổi già sức yếu cùng thời gian lao cải kéo dài khiến trí nhớ của cụ trở nên lộn xộn về không gian và thời gian, như nhầm ngày sinh với ngày ra toà, nhầm Tết Tây thành Tết Ta... Sinh hoạt hằng ngày trông thì đi lại bình thường nhưng hay quên vật nầy ở chỗ nọ chỗ kia.
4.2 Bịa chuyện (confabulation): người tù trong tình huống nầy quen các sự việc đã xảy ra và thay vào chỗ quên lại kể đến những sự việc không hề xảy ra với mình, nhưng bản thân người bệnh không biết là mình bịa ra. Nội dung bịa chuyện có thể thông thường hay kỳ quái. Nhớ giả và bịa chuyện thường gặp trong các bệnh thực thể nặng ở não.
Cụ thể:
-Các tù nhân từng qua trại Thung lũng tử thần đều không quên được hình ảnh hai nhân vật Nguyễn văn Châu tức Châu sáng thế và cụ Nguyễn văn Lịch. Những người nầy biết rõ thị hiếu của tù chính trị là thích nghe tin tức, nên lúc nào bất kể giờ nào, ngày nào họ cũng có thể phịa ra những thông tin rất bịa đặt từ BBC, VOA... để làm quà cho các bạn tù. Thật sự như cụ Lịch không bao giờ dùng những thông tin đó để lừa bịp ai và có điều chính cụ lại tin vào những sự bịa đặt ấy là thật.
-Tù nhân (Trần văn) Bình, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, anh có khoa nói và hay kể chuyện ma cũng như trinh thám, và ai cũng biết từ những cốt truyện đó anh đã phịa ra những chuyện khác theo cốt truyện đã có sẵn thật hay, mọi người biết rõ anh phịa nhưng lại rất thích nghe. Về sau anh đào thoát, có tin anh đã thoát được.
4.3 Nhớ nhầm: người bệnh nhớ việc mình thành ra việc của người khác, hoặc ý nghĩa sáng kiến của người khác thì nhớ ra là của mình, những điều nghe người khác kể lại hoặc thấy ở đâu thì tưởng là những điều mà bản thân mình đã sống qua. Có người bệnh lại tưởng mình đang sống trong dĩ vãng (ecmnesia). Gặp trong bệnh động kinh.
Cụ thể:
-Tù nhân Nguyễn Hay, án trên mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, ông hay nhớ nhầm chuyện nầy sang chuyện khác, nhất là mỗi khi có ai kể chuyện gì mà ông được nghe ông vẫn thường nói tiếp lời: À tôi cũng như thế... Tôi cũng vậy. Tôi cũng đã trải qua tình cảnh như thế.v.v. Sinh hoạt hằng ngày ông rất vui vẻ, sẵn sàng giúp đỡ mọi người.
-Tù nhân Nguyễn Học, án trên mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, anh hay kể lại những chuyện của người như thể của chính anh, hay nói về những phát minh những công trình khoa học như chính anh đã từng tham gia, nhưng khi hỏi về nội dung thì anh không thể trả lời được.Trong sinh hoạt hằng ngày tù nhân nầy rất thích đọc sách và thích giao du với những người có trình độ.