ĐỊA NGỤC CÓ THẬT

Nguyễn Quang

PHẦN MỘT
CHƯƠNG 3c


RỐI LOẠN CẢM XÚC

Cảm xúc là một quá trình hoạt động tâm thần biểu hiện thái độ con người đối với các kích thích bên ngoài, cũng như bên trong cơ thể, là thái độ của con người đối với sự diễn biến của thực tế, của môi trường sống.

Cảm xúc gắn liền với các hoạt động tâm thần khác như tri giác, tư duy... nó bắt nguồn từ các kích thích trên các giác quan và biểu hiện các đặc điểm nhân cách cùng môi trường xã hội.

Cơ sở giải phẩu của cảm xúc phần lớn ở vùng dưới vỏ não, chủ yếu là vùng gian não (cảm xúc thấp) và một phần ở vỏ não (cảm xúc cao).

Cơ chế sinh lý cảm xúc là cơ chế thần kinh. Còn các biến đổi thể dịch trong quá trình cảm xúc chỉ là những khâu trung gian. Mỗi cảm xúc đều có biến đổi trong cơ thể: mạch máu co thắt lại hay giãn nở ra, đường huyết tăng hay giảm, tim đập nhanh hay chậm.

Có nhiều cách phân loại cảm xúc: cảm xúc cao và cảm xúc thấp, cảm xúc âm tính và dương tính. Cảm xúc chia theo cường độ: khí sắc, ham thích, xung cảm.

  1. Các triệu chứng giảm cảm xúc và mất cảm xúc:

            Nói đến cảm xúc cần đề cập đến khái niệm về ngưỡng hưng phấn. Khi ngưỡng hưng phấn cao thì kích thích có cường độ mạnh mới gây được phản ứng cảm xúc nhẹ hoặc có khi không gây được phản ứng cảm xúc nào. Ngược lại khi ngưỡng hưng phấn thấp thì kích thích có cường độ nhẹ hoặc thông thường lại có thể gây những phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

            a-Giảm khí sắc (hypothymia): là khí sắc buồn rầu, ủ rũ và là thành phần chủ yếu trong hội chứng trầm cảm (depression).

            -Trầm cảm: là một tâm trạng buồn chán, một ấn tượng ảm đạm mơ hồ rằng thân thể đã đổi khác, như bị bỏ rơi, như mất mát một cái gì, không còn tự tin ở mình nữa. Ngoài ra, trầm cảm nặng có thể đưa đến tự sát.

            Cụ thể: các tù nhân bị giam giữ lâu ngày trở nên lầm lì, ít nói. Họ nhìn lại thân thể mình trở nên gầy mòn, già hẳn đi sau một thời gian ngắn bị giam giữ... trọng lượng cũng sút đi thấy rõ nơi mỗi người, nhất là các tù nhân bị kiên giam thường không nhìn thấy cơ thân của mình nữa.

            -Hình ảnh Linh mục Nguyễn văn Vàng ngoài sáu mươi, sau ba năm nằm kiên giam thân hình co rút lại như một em bé lên mười với da bọc xương, những lúc bệnh nặng, trong cơn hấp hối, cụ được ra nằm bệnh xá và hai tay hay mân mê cơ thể mình, cũng như cúi người lên xuống nhìn đôi chân co rút teo hẳn lại... đôi mắt trầm buồn không nói gì cả.

            -Hình ảnh Linh mục Nguyễn huy Chương ngoài sáu mươi tuổi, sau hai năm kiên giam, thân hình phù lên, mặt mũi tay chân đều sưng to, khi bệnh quá nặng được chuyển đến bệnh xá, gặp ai ông cũng chỉ vào đôi chân sưng to của mình, đôi mắt như trầm lắng cô đọng lại một cái gì đó mà người tù bất hạnh nầy không nói hết được.

            Cụ thể: các tù nhân kém may mắn, không được gia đình thăm thường xuyên hoặc mất liên lạc với người thân cũng thường mang chứng nầy:

            -Tù nhân Nguyễn văn Nghi, tuổi trên ba mươi, mất liên lạc với gia đình, hay than vãn, buồn rầu và miệng luôn nói về chuyện tự sát, tự tử nhiều lần nhưng bị phát hiện, nên không thành. Ánh mắt thường nhìn lên như nhìn vào một cõi xa xăm trầm buồn.

            -Tù nhân Lê Xẹt trên ba mươi tuổi, sau nhiều năm bị giam kín rồi lao động khổ sai, cơ thể anh đầy ghẻ chốc nhất là lác... anh hay ngồi một mình và xót xa cho tấm thân của mình, đôi mắt nhìn xuống trầm buồn gỡ từng mảng tế bào chết rời khỏi cơ thể.

            Cụ thể: các lãnh tụ khi vào tù, một số không chịu nổi cuộc sống cơ cực, nên dần dần thoái hoá khiến các tù nhân vốn tin tưởng vào họ trước đây trở nên mất niềm tin. Họ thường trở nên ít nói, sống co rút, thầm lặng.

            -Tù nhân Trần ngọc Bích, tuổi ngoài năm mươi thất vọng vì người đứng đầu trong tổ chức của mình tự phong là Trung tướng, nhưng vào tù mới biết rõ vị chỉ huy đó chỉ là một sĩ quan Trung uý, và vào tù sợ hãi đến cộng tác với các cai tù. Tù nhân nầy trở nên trầm uất, thầm lặng, ít nói. Dường như ông ta cũng không than vãn với ai, chỉ “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

            -Tù nhân Nguyễn khắc Chính, một Luật sư ngoài năm mươi tuổi, đã gọi cán bộ quản giáo là Thầy, khiến nhiều tù rất thất vọng về vị chính khách trí thức nầy. Trước hiện tượng bất thường nầy họ trở nên trầm mặc.

            -Cảm xúc bàng quan: người bệnh giảm cảm xúc, ít biểu hiện cảm xúc qua nét mặt, ít hoạt động và trong sinh hoạt nhiều khi có sự bình thản đến đáng sợ. Các tù nhân loại nầy có thể coi thường cảnh lao lý, tới đâu hay tới đó, thờ ơ với tất cả, thường là người có kiểu thần kinh cân bằng chậm. Cai tù bảo sao làm vậy, không phấn đấu tốt, cũng không sốt sắng. Họ quan niệm: nước chảy, bèo trôi, nước sông công tù. Tất cả rồi sẽ qua đi, hết nắng đến mưa. Do đó lơ là với hoàn cảnh, ít kêu ca phàn nàn mà âm thầm chịu đựng:

  1. Họ khó nảy sinh tình cảm nhưng sâu sắc.
  2. Họ sống với kỷ niệm cũ.
  3. Họ khó làm quen, nhưng rất gắn bó.
  4. Tâm trạng ổn định.
  5. Họ say sưa trong vấn đề gì đó, các tù nhân loại nầy thường hay tìm cho mình một công việc tay chân như điêu khắc, làm gậy, vật kỷ niệm.v.v. Họ làm một cách chăm chú cần cù.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Lê Mại, bảy mươi tuổi, trước cái chết vì chứng tim mạch, hai bàn chân sưng húp trong một thời gian lâu dài, nhưng cụ rất bình thản đến đáng sợ cho đến phút ra đi.

            -Tù nhân Phạm văn Dụ, ngoài sáu mươi tuổi, trước cái chết vì chứng tim mạch, lao phổi, thân hình co rút lại với những cơn ho tuyệt vọng, nhưng ông vẫn giữ được bình tĩnh, xem cái chết nhẹ như tơ hồng.

 

 

            Từ thái độ bàng quang đến phản ứng nội tâm bình tĩnh chờ đợi:

  1. Họ luôn phản ứng đứng đắn, nghiêm túc chờ đợi, tiếp thu có nghiên cứu, suy xét ý kiến của cai tù, không phản ứng lung tung, nói năng đúng chỗ, và đã có nhận xét thì khó thay đổi, trầm lặng, khó tính. Đối với loại nầy, nếu người đi chuyển biến có uy tín sẽ tác động tốt đến họ, tâm lý của họ sẽ được khôi phục sau những cú sốc đầu tiên không tránh khỏi của bất cứ ai khi mới vào tù. Nhưng thường bọn cai tù thường hớ hênh, kiêu ngạo, những “thiên lôi” vô học nầy vốn tiền hậu bất nhất, nên sẽ rất khó khôi phục niềm tin để chuyển hoá.

            Cụ thể:

            -Huỳnh văn Thẩm, tuổi ba mươi, mặc dù bị án tử hình do trốn trại bị bắt trở lại, nhưng anh rất bình tĩnh, thản nhiên vì như thường xuyên có tiếng phát ra từ phòng kỷ luật nơi anh đang bị giam giữ: ”Mình làm mình chịu, không xin ai hết...” Người tù bất hạnh nầy bị bắn không lâu sau khi phiên toà lưu động mở ra và xét xử ngay tại trại giam.

            -Trần văn Hoan, tuổi ba mươi, án tử hình vì đào thoát bị bắt lại, trong thời gian chờ đợi ra pháp trường anh luôn ca hát, vui vẻ... Thường xuyên có tiếng vọng ra từ phòng kỷ luật nơi anh đang bị cùm: ”Chế độ toàn trị là thế thôi, nếu mình không thoát được thì chết....” Trước đó anh là tù nhân vượt biển bị bắt lại với án chung thân.

 

            -Trầm nhược và tự sát: Trầm nhược thường xuất hiện sau những thất bại liên tiếp, vì do kỳ vọng quá cao ”tham vọng lớn, mất mát lớn”. Trong môi trường tù, các tham vọng nầy thường tự cá nhân đặt lên vai mình.

            Trầm nhược cũng có thể là một phản ứng đối với sự mất mát thực thể hay huyễn tưởng do xa cách người thân, mất tình yêu hay mất lòng tự trọng. Các tù nhân mắc chứng trầm nhược thường buồn rầu, ủ rũ, không tiếp xúc với ai, chán nản mệt nhọc.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Phan như Huệ trên bốn mươi tuổi, án hai mươi năm với những hoài vọng bị thất bại, bị bắn trọng thương lúc bị bắt, chân bị gãy dù đã lành nhưng mãnh đạn hãy còn bên trong, sự đau nhức thường xuyên cùng nhiều thất bại liên tiếp khiến anh trở nên trầm nhược, anh treo cổ tự sát nhiều lần nhưng được các bạn tù phát hiện kịp thời.

            -Tù nhân Nguyễn văn Bình, tuổi ba mươi, án chung thân, kỳ vọng về một nền dân chủ thật sự và các công dân được hưởng những quyền cơ bản của con người, hầu như lúc nào anh cũng đăm chiêu về những vấn đề nầy, thường trầm ngâm ít nói, ánh mắt như để lại qua những ai đã từng sống chung với anh: nó như mở to hơn trong khát vọng về tự do, dân chủ và dân quyền, lá thư cuối cùng khi nhảy vào chảo nước sôi anh viết về niềm mong đợi ấy.

 

            -Vô cảm (apathia): là sự thờ ơ, dững dưng với tất cả những việc gì xảy ra chung quanh, hờ hững với hoàn cảnh của mình, không có gì gây được thích thú và phản ứng cảm xúc. Tù nhân thụ động lờ đờ, không thiết tha gì cả, thích nằm lì tại chỗ nếu có thể, hoặc ngồi lánh xa một góc nào đó như thường gặp trong tâm thần phân liệt

          ŸSự vô cảm đến không còn cá tính: Cuộc sống mất tự do của các tù nhân, nó hạn chế mọi thứ đến mức tối đa như bữa cơm hằng ngày vắt lại bằng quả trứng vịt, với thức ăn là nước muối khiến các yếu tố bẩm sinh cũng như di truyền tàn lụi. ”Hãy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều”.

Cụ thể: Có một viên Trung tá khi vào tù đến bữa cơm đã yêu cầu: phải dùng cân tiểu ly để chia cơm mới công bình, thật vậy các buổi chia cơm thường xảy ra những vụ đánh cải chửi nhau... dù đây đó có người từng là các viên chức trước đây.

-Tù nhân Nguyễn văn Hành, án trên mười năm, trên bốn mươi tuổi, hầu như mất liên lạc hoàn toàn với gia đình, có lúc chính anh lại nhặt chính lá thư của mình gửi về gia đình bị vứt ngay nơi anh làm vệ sinh quanh phòng giám thị, sự chịu đựng trong những điều kiện quá khắc nghiệt của trại giam, khiến anh trở nên bất bình thường thấy rõ như miệng lúc nào cũng lầm bầm chửi bới chế độ: toàn là một lũ cướp, tham ô nhũng lạm, vốn là phần lớn phạm tội giết người rồi kéo vào chiến khu để dung thân và nay nắm chính quyền chứng nào tật nấy, tao rành tụi bay quá mà.v.v. Tù nhân nầy vốn là một sĩ quan trong chiến khu về sau chống lại chế độ độc tài.

-Tù nhân Nguyễn văn Hạnh, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, mặc dù còn trẻ nhưng chỉ còn da bọc xương, sống nhờ vào các tù nhân khác, hầu như suốt ngày không nói tiếng nào, ai cho thứ gì thì mừng, ai nhờ việc gì thì giúp, kể các cai tù sai đâu chạy đó, mọi sự như phó mặc cho số phận.

 

            ŸĐàng khác, do phần lớn các quan hệ gia đình bị cắt đứt, như thư tín bị hạn chế nếu không nói bị cấm, các tù nhân thường bắt gặp thư của chính họ hoặc từ gia đình gửi đến bị xé vứt lung tung trên đường đến hiện trường lao động. Ngoài ra do địa điểm của các nơi giam giữ quá hiểm trở, nên việc thăm gặp của người thân rất khó khăn. Có gia đình khi trở về mang theo bệnh tật do tai nạn, hoặc suýt mất mạng sốt rét rừng... Việc quan hệ gần gũi giữa các tù nhân cũng bị cấm đoán, nhiều tù nhân bị gọi đích danh và cấm hẳn việc quan hệ với mọi người.

          Cụ thể: có giai đoạn tại trại Thung lũng tử thần chỉ cho phép thăm gặp ba tháng một lần và chỉ được nhận 3 kg quà tiếp tế từ gia đình.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hượt, tuổi trên ba mươi, án mười lăm năm, hầu như không có sự liên lạc với gia đình, cơ thể anh gần như khô đét lại vì phải lao động khổ sai với vét cơm cùng nước muối và rau trời. Anh trở nên trầm mặc ít nói, phó mặt theo tiếng kẻng dục lên thì đi, gọi về thì nằm phờ ra đó.

            -Tù nhân Trần văn Trinh, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, mỗi năm gia đình mới đến thăm, thêm chứng lao phổi và suyễn, khiến anh trở nên ngày càng mệt mỏi, yếu dần, làm biếng nói năng, hầu như bàng quang với mọi thứ chung quanh.

  1. Chính những yếu tố vật chất và tinh thần như thế khiến các tù nhân biến đổi dần đến không còn cá tính. Họ là những cá nhân còn đó nhưng vô hồn, mà nét chung về thể trạng của họ chỉ còn da bọc xương, hai má hóp vào, mắt lõm sâu, nước da xanh xao người nào cũng tái mét. Họ trở thành những hữu thể đặc thù trong sự triệt hạ của con người chứ không phải nhằm chữa trị con người. Và “vật cùng tất biến” như quan niệm triết lý Á đông. Các hữu thể đó được cải tạo dần đến mức không còn nhận ra chính mình rồi đi thật xa mãi mãi đến cái chết.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn văn Vàng, Linh mục, sau ba năm kiên giam chỉ còn da bọc xương, cơ thân teo lại gọi là rọm người, trông thấy kinh hoàng hơn cả người Somali sắp chết đói. Hữu thể đó đã được cải tạo thành quái vật người trong nền văn hoá vật người.

            -Tù nhân Lê văn Chờ, trên sáu mươi tuổi, án hai mươi năm, gia đình hầu như rất khó khăn, nên bữa ăn chỉ có nước muối là chính cùng vét cơm nhỏ, áp huyết cao ngày càng cao hơn khiến ông đột qụy và chết ngay sau giờ lao động trở về.

          ŸCác yếu tố di truyền như thông minh, bén nhạy, sáng tạo trong sinh hoạt hằng ngày chỉ còn ở mức thấp nhất.

            Cụ thể: phần lớn các tù nhân không còn năng lực để tư duy vì thức ăn chính yếu hằng ngày là khoai mì và lá mì làm dưa, nếu không muốn nói là tiêm chất độc dần vào cơ thể..

            -Tù nhân Thái văn Lương, tuổi hai mươi, án trên mười năm, chỉ còn biết lo cải thiện, anh hay nói: bây giờ chỉ có ăn, ăn để tồn tại còn mọi chuyện sẽ tính sau.

            -Tù nhân Nguyễn văn Nhuệ, tuổi bốn mươi, án trên mười năm, hay phát biểu: bây giờ không còn phải suy nghĩ gì nữa, chỉ mong sao cho qua ngày vì đã kiệt sức lắm rồi.

          ŸViệc giáo dục chỉ là phương tiện tuyên truyền lập đi, lập lại theo một khuôn mẫu không có gì mới, nhất là giữa lý thuyết và thực tế là sự khác biệt vô cùng. Nhưng thắng lợi cuối cùng vẫn luôn thuộc về kẻ đi triệt hạ con người như họ hô hào: Tất cả chỉ nhằm mục đích tẩy não.

          Cụ thể:

            -Trưởng trại Nguyễn văn Bảy, khi thăm các tù trọng án và bảo: các anh hãy bảo trọng... Nhưng y vừa rời khỏi phòng giam, các cán bộ của y đã mang cả giày ủng nhảy lên người các tù nhân đang bị cùm và đánh đá túi bụi khiến ai cũng một phen kinh hoàng và xảy ra lập đi lập lại như vậy thường xuyên. Đó là sự giáo dục, an ủi của những người cộng sản.

            -Các buổi học tập chính trị thường xuyên được tổ chức như nào hiến pháp đều có ghi đầy đủ việc tôn trọng các quyền cơ bản của con người: tự do tôn giáo, hội họp, thông tin... Nhưng cụ thể khi gặp các tăng ni, tu sĩ đang bị tù, các trưởng trại đều thường gọi là “thằng”, như trưởng trại Bảy khi gặp các Nhà sư còn gọi “mày”. Nguyên văn: “Nầy, thầy chùa kia... mày học lớp mấy, ngày xưa tao cũng học Tam tự kinh... “Trong khi chính y vẫn thường xuyên tuyên bố trước toàn trại: đảng ta rất tôn trọng tự do tôn giáo... Các tù nhân chỉ biết cúi đầu thầm lặng: những người cộng sản nói vậy, nhưng không phải zậy !

            ŸCon đường thật sự mở ra trong việc chuyển biến con người của chế độ chuyên chế toàn trị không phải là mở đường để tạo ra một khởi đầu mới mà nó là cái chết. Đó là sự hoàn tất tốt nhất trong việc trả thù. Sự khốn cùng của triết lý -đó là điều quan trọng không phải làm cho con người được sống và sự sống lại, mà chết đi, chết lại nhiều lần và rồi chết thật

            Cụ thể:

            -Một tù nhân rất trẻ, chưa ngoài ba mươi, đã chết vì bệnh chó dại ngay tại trại giam, nguyên do chính là giám thị trại giam không ra ngoài điều trị, họ buộc phải điều trị bằng thuốc nam do một Nhà sư phụ trách về Đông y ở đây. Vị Đại đức nầy đứng ra lãnh trách nhiệm và sau nhiều than thuốc nam do ông chế... Song đúng ba tháng mười ngày thì tù nhân Nguyễn văn Thụ trào nước bọt, tru tréo như chó rồi chết. Tù nhân đáng thương nầy án phạt 11 năm, can tội chống chế độ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Luân, án chung thân, vị Linh mục nầy chỉ bị một mụt nhọt nhỏ ở lưng, thế nhưng không được chữa trị khiến mụt nhọt lan dần cho đến lúc nhiễm trùng và chết. Khi sắp chết, Người được ra khỏi kiên giam, vào bệnh xá trại giam, vị Linh mục vẫn bình thản lạc quan nhắn nhủ những người Việt Nam hãy vì còn người, và luôn đấu tranh cho quyền con người.

            ŸNhững hình thức lao động khổ sai để trả thù như đập đá, ngâm mình trong sình lầy suốt tám tiếng mỗi ngày, chưa kể việc tranh thủ làm đêm. Các tù nhân thường phải đi sớm về muộn, những hôm nào có sương mù thì được đi trễ vì bọn cai tù sợ xảy ra trốn trại, rồi nhiều buổi chiều tối cho đến buổi chiều cuối cùng trúng phải nơi người tù bất hạnh nào đó thật là bi đát trong tiếng kêu tuyệt vọng: thôi chết cho khoẻ tấm thân hơn là sống với cái ác đến bi đát quá.

          Cụ thể:

            -Tù nhân Trần xuân Hoàn, án tử hình, nguyên sĩ quan công an của chế độ cộng sản, luôn nhắn nhủ các tù nhân khác về bản chất giam giữ trong chế độ chuyên chính vô sản: -Đến đây thời ở lại đây... bao giờ bén rễ xanh cây mới về.

            -Tù nhân Linh mục Phong, ngoài năm mươi tuổi, lao động đến kiệt sức do ngâm mình suốt ngày trên ruộng sình, lâu ngày bị sưng phổi, ho nhiều từng cơn rồi ói ra nước vàng và chết tại trại giam. Đặc biệt vị Linh mục nầy vẫn ung dung không van xin để nghỉ bịnh, Người vẫn đi làm khổ sai cho đến khi gục ngã. Đặc biệt hơn nữa, lúc chết đi Người được các cán bộ cộng sản chôn một nơi riêng cao ráo hơn và chôn sâu để chứng tỏ Nhà nước tôn trọng tôn giáo... Vì họ biết chắc thế nào cũng có ngày Toà Giám mục lên thăm.

          ŸMất cảm giác tâm thần (psychicalanesthesia): có loại mất cảm giác tâm thần, mất mọi phản ứng cảm xúc, nhưng nếu môi trường được thay đổi thì vẫn tiếp xúc được. Có loại mất hết phản ứng cảm xúc như trên nhưng lại còn cảm xúc đau khổ về hiện tượng mất cảm xúc của mình. Triệu chứng nầy gọi là mất cảm xúc tâm thần đau khổ (suffering psychical anesthesia). Nhiều khi vì quá đau khổ mà người bệnh có hành vi tự sát. Triệu chứng nầy gặp trong loạn tâm thần hưng trầm cảm, trầm cảm thoái triển, tâm thần phân liệt.

          Cụ thể:

            -Tù nhân Trần văn Cẩn án trên mười lăm năm, tuổi ngoài bốn mươi, do bị cùm lâu ngày trong nhà kỷ luật nên nửa thân người hầu như bị mất cảm giác, lúc ra khỏi kiên giam anh phải tập đứng ngồi ngay tại chỗ thật khó khăn, nhiều khi sự cử động làm toàn thân đau đớn khiến anh có lúc than vãn muốn chết cho khoẻ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Phương, án chung thân, tuổi ba mươi, một chân mất cảm giác dần do bị bắn lúc bị bắt và mảnh đạn vẫn còn. Sự đau đớn cùng nỗi tiếc rẽ về cái chân đang bị chết dần do khộng được chữa trị của mình... khiến anh có lúc nghĩ đến việc kết liễu cuộc đời.

                                                             

            2) Các triệu chứng tăng cảm xúc:

            -Cảm xúc không ổn định (emotion labile): người bệnh dễ chuyển từ cảm xúc nầy đến cảm xúc khác một cách nhanh chóng, từ vui chuyển sang buồn, từ khóc sang cười, từ lạc quan sang bi quan. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể não bộ, các trạng thái suy nhược.

            Cụ thể:

            -Tù nhân Nguyễn thanh Liêm án mười lăm năm, tuổi trên ba mươi, lúc lạc quan lúc thật bi quan, rất hiền hoà nhưng bất chợt nổi cơn rất hung dữ, tù nhân nầy bị tra tấn nhiều trong lúc chấp cung, cuộc sống khó khăn hầu như gia đình ít thăm viếng.

            -Tù nhân Nguyễn văn Sinh, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, hầu như không có gia đình thăm viếng, có lúc thật vui vẻ, song có lúc lên cơn thật hung dữ sẽ gây gổ với bất cứ ai nếu có sự xích mích với anh ta. Người ta được biết sau khi được tha khỏi trại giam, anh đã dùng súng gây với công an địa phương và bị bắn chết ngay tại chỗ.

            -Cảm xúc say đắm (etasy): người bệnh trước một kích thích của hoàn cảnh nào đó mà mình thích thú có cảm xúc say đắm, tức là một trạng thái tăng cảm xúc mạnh có tính chất nhất thời. Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng vừa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, vừa có khả năng đem lại cho cá nhân một sự hấp dẫn về mặt tình cảm. Khi hứng thú con người có ý thức đầy đủ, có cảm xúc, cảm hứng đặc biệt với đối tượng.

            Cụ thể: nhà giam, nơi con người bị cưỡng chế, trấn áp, nên các tù nhân không còn hứng thú trong công việc bị áp đặt, hoặc có thái độ ngược lại và lấy đó làm thích thú. Các hành động phá hoại ngầm trở thành yếu tính của các tù nhân. Chính họ lấy làm hứng thú trong cuộc đấu tranh bất bạo động nầy để đối kháng lại với các cai tù. Sự hứng thú giúp con người vượt qua những khó khăn trở ngại, nó tăng sức đề kháng về nhiều mặt và kích thích con người hoạt động, hy vọng.

            -Tù nhân Trần minh Tuấn, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, trong sự bí mật đầy hứng thú, hồi họp cùng các bạn trẻ bị giam giữ ở các phòng khác đồng loạt ném tờ rơi, bướm khắp toàn trại để phản kháng và đòi cải thiện chế độ lao tù... Hoặc lấy làm thích thú vô cùng khi giả vờ đánh nhau để được vào nhà kỷ luật hầu mang thuốc cho các bạn hữu đang bịnh nặng trong kiên giam.

            -Tù nhân Võ văn Mắn, Nguyễn văn Mừng, đều có án trên mười năm, rất vui vẻ tình nguyện giả vờ hái dừa trộm để mang thuốc men, quần áo... cho các tù nhân bị kiên giam lâu dài.Tuổi hai mươi.

            Cụ thể: câu nói “nước sông công tù“ là đặc trưng tinh thần làm việc của hầu hết các tù nhân: động tác lập đi, lập lại lờ đờ chậm chạp như đập xơ dừa đến tơi tả thành xơ... những nhác cuốc đúng hơn là những “nhác gừng“ mỗi khi vắng bóng cán bộ... thậm chí quét cái sân cũng sợ tốn sức lực.

            Thế nhưng, đào tường khoét vách để trốn trại thời rất nhanh nhẹn, thông minh, ý thức trỗi lên một cách toàn diện vì có húng thú nhất là đứng trước sự sống còn. Cũng như những vụ đánh cắp hoa màu để mưu sinh thật là bén nhạy, hầu như các tù nhân dù chân chất đến đâu, sau một thời gian ở tù vì lý do sinh tồn đều biết đánh cắp hoa màu để tồn tại. Họ không còn mặc cảm tội lỗi vì như thế sẽ có thể đánh mất bản thân mình trong một tình huống nếu không ăn cắp cũng phải biết che dấu cho các tù nhân cùng cảnh ngộ, để cùng sống với nhau trong lúc đói khổ tột cùng.

            -Tù nhân Nguyễn văn An, tuổi ba mươi, từ án thấp và mỗi lần trốn trại bị tăng án đến chung thân. Bình thường trông rất lù đù, chậm chạp, nhưng không ai ngờ lúc bạo động trốn trại diễn ra, anh là người la lớn nhất và xông xáo vô cùng, mặc dù nhỏ con ốm yếu thật, song những tiếng hô hào lớn nhất, cổ động nhất đều phát ra từ anh; và có lẽ cũng là lần trốn trại đưa anh lên chung thân, khi bị phát hiện và không thể chạy kịp, chính anh từng hô hào kích động trước đó thế nào thì lúc nầy lại kêu lớn ngược lại: cứu tôi với cán bộ ơi, bọn chúng đang đào thoát kia kìa... Cứu tôi với cán bộ ơi...

            -Hình ảnh cán bộ quản giáo tên Thẩm, Trung uý công an, và quản chế trong vụ bạo loạn trốn trại có tù nhân Nguyễn văn An ở trên, trước đó quản giáo nầy rất hung dữ, khắc nghiệt vô cùng với tù, nhưng vào lúc bạo loạn nỗi lên y đã quá sợ hãi chạy tháo thân chui vào chuồn heo gần đó mà trốn, các tù nhân tự giác cũng dớn dác chạy theo, cho đến khi tình hình bị đảo ngược lại, người ta thấy cán bộ quản giáo nầy quần áo đầy phân heo và tiếp tục quát tháo. Các tù nhân nghe rất rõ tiếng y trả lời viên trưởng trại về việc: “tại sao mày nhơ bẩn đến thế...” -Dạ thưa...em đang phục kích.

            Cụ thểhơn có Linh mục, theo biên bản kỷ luật trước toàn trại: tội ăn cắp hoa màu (ông ăn dừa lúc lột dừa và lén mang về để kho), nhưng ông vẫn tươi cười, xem đó là một cách cải thiện: có những lúc cái vật chất lấn lướt cái tinh thần, chứ không phải “luôn một đường chấp kinh”, và sự hãi hùng đến kinh sợ trước bao tàn nhẫn của các cai tù. Nó diễn ra như dưới thời các bạo chúa, chúng có quyền bắn, xé xác phanh thây các tù nhân một cách hứng thú, tất cả đều là người Việt. Nó diễn ra hơn những phim cao bồi về mặt tính thể của con người thể hiện tính chất hào hùng để vượt qua đến hy vọng... Còn ở đây, nó thể hiện sự quái ác tột cùng của con người khi không còn nhân tính, để từ đó cũng gọi là xây dựng một tương lai Thiên đường trần thế.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chức, Linh mục, án hai mươi năm, tuổi ngoài năm mươi, rất ít có thăm nuôi, ông vẫn tươi cười khi bị đọc kỷ luật về tội ăn cắp trước toàn trại. Lúc ra khỏi kỷ luật, ông cũng lạc quan vui vẻ như bình thường.

            -Tù nhân Nguyễn văn Lan, án chung thân, gần sáu mươi, trong cuộc sống hằng ngày rất đạo mạo, nghiêm khắc... Thế nhưng một hôm có việc phơi đường giữa sân trại, mọi người lấy làm ngạc nhiên thấy ông chạy ra bỏ đường vào áo rồi cuốn lại chạy vào phòng cũng như kêu gọi các bạn tù khác cùng làm như thế... Ông bảo ăn cắp của cộng sản không có tội, và có người bảo: nay mai đảng viên cộng sản cũng là các công dân vậy... phải có pháp luật, pháp luật chứ. Khiến ông đang hứng thú trở nên đỏ mặt và giận giữ lắm.

            -Khoái cảm (euphoria): người bệnh vui vẻ một cách ngây ngô, thấy mọi việc chung quanh đều hợp với lòng mình, nên cười nói một cách thích thú, có khi cười hố hố suốt ngày. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể não bộ, loạn tâm thần sau chấn thương sọ não, liệt tiến triển.

            Cụ thể: các tù nhân loại nầy thường là những người còn sống sót sau những lần trốn trại. Họ đã bị đánh đập và tra tấn dã man như:

            -Huỳnh Thì, án phạt 20 năm, hay cười âm thầm một mình, không nói năng với ai hết và có khi cười hô hố một mìmh rất lớn.

            -Bùi Huệ, Phan như Huệ, đều có án 20 năm, tuổi bốn mươi, hay cười hô hố một mình, nhiều lúc vang cả một góc phòng giam, cái gì cũng cười được không cần biết nội dung là gì cả.

 

            3) Các triệu chứng rối loạn cảm xúc:

            -Cảm xúc hai chiều (ambivalence): người bệnh đối với một đối tượng, một sự việc nào đó lại có hai loại cảm xúc trái ngược nhau như vừa yêu vừa ghét, vừa thích cười vừa không thích, thường gặp trong tâm thần phân liệt.

            Cụ thể: các tù nhân thuộc các tổ chức khác nhau, họ luôn đùm bọc nhau trong cùng cảnh ngộ, nhưng lại không ưa nhau vì sự đố kỵ giữa tổ chức nầy và tổ chức khác, giữa mặt trận nầy và mặt trận kia. Họ giống như những con nhím chung chuồng, gần nhau là lông đâm vào nhau. Tâm trạng chung của các tù nhân là mong sớm được đoàn tụ với gia đình nhưng lại ngại giảm án vì sợ mang tiếng xấu là không còn khí tiết, mất phẩm chất... Nhưng với những người cộng sản có “thủ tiết” thì lâu lâu họ cũng “đè ra“ và giảm cho vài tháng, việc nầy giống như gắn huy chương cho những người vốn chế độ không ưa lúc sắp chết.

            -Tù nhân Thế Vinh, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, mừng được gặp và ở lại với gia đình cả tuần lễ tại nhà thăm gặp, nhưng ưu tư lo lắng vì các tù nhân khác sẽ nghĩ xấu về mình như đã biến chất nên mới được ở lâu đến thế. Ông vốn là giáo viên và vào tù thường được cho dạy con cán bộ.

            -Tù nhân Phạm quang Hồng, án trên mười năm, tuổi ba mươi, Tu sĩ, được đảm trách công việc văn hoá, thông tin, đây là công việc thuộc loai “quí tộc“ trong trại giam, không phải lao động khổ sai như anh em tù, hay bị cùm như các Tu sĩ khác, song trên nét mặt nghiêm nghị không biết có bao giờ ông nghĩ tại sao mình được ưu tiên đến thế tại một nơi như Thung lũng tử thần.    

            Cụ thể: các thông tin trong tù rất quí nếu không nói là đói thông tin, nên khi nhận được bất cứ tin tức gì từ ngoài xã hội đều được tiếp nhận mà không cần sàng lọc, cho dù họ rất ghét các tin đồn nhảm.

            -Tù nhân Nguyễn văn Chơi, án chung thân, tuổi bốn mươi, rất mong có được các thông tin từ bên ngoài, nhiều tù nhân khác biết thế nên hay tạo các thông tin giả làm quà... Tất nhiên thường sau đó là có nước trà bánh ngọt kín đáo cho người đưa tin... vì ông thường có gia đình thăm viếng. Và ông rất mừng khi có tin tức mới, người ta nhận thấy tù nhân nầy có cử chỉ khác thường khi nghe tin lạ, rồi trở nên sợ hãi như quay mắt nhìn xem có ai đứng gần đó hay không.

          Cụ thể: các tù nhân rất ghét việc mua bán đổi chác vì có thể gây ảnh hưởng xấu đến nhân cách.Thế nhưng họ cũng lén lút đổi chác hoặc đánh cắp hoa màu để mưu sinh .

            -Đặc biệt các tù nhân lương tâm rất ít người bị kỷ luật về tội danh nầy. .

            -Cảm xúc trái ngược (paradoxial sentiment): người bệnh có cảm xúc trái ngược như nghe tin người thân mất mà lại tỏ vẻ mừng mừng, nhận được tin vui mà lại buồn rầu. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt.

            Cụ thể: các tù nhân bị giam giữ nơi những vùng núi non hiểm trở, mỗi khi gặp gia đình thường đều có sự vui mừng lẫn lộn vì các tin tức lành, dữ thường cô đọng lại có khi đến hai, ba năm mới gặp một lần. Do đó:

            -Trước các tin về người thân mất mát, họ thường tỏ vẻ tư an ủi: thôi ra đi cho khoẻ, sống mà khổ sở quá thà đừng nên sống. Thật vậy, cuộc sống quá khổ cực trong tù khiến họ liên tưởng đến người thân ngoài xã hội cũng như thế.

            -Trước các tin mừng như con cái lập gia đình.v.v. Họ cũng không vui, và thường là buồn rầu vì họ nghĩ đến ngày vui ấy không có sự hiện diện của mình.

            -Trước các tin giảm án, họ cũng không vui, mặc dù có mừng vì rút ngắn được thời gian ở tù, nhưng những người trong tổ chức sẽ đánh giá mình tha hoá chăng? Ngược lại không giảm cũng buồn, vì không sớm được đoàn tụ với gia đình, nhưng cảm thấy vui qua sự tự an ủi: mình là người khí tiết, thuỷ chung mới đến nông nỗi nầy.

            -Lo âu (anxiety): người bệnh có cảm giác luôn luộn bị đe doạ bởi một cái gì rất đáng sợ. Hiện tượng nầy hay gặp trong nhiều bệnh tâm thần và là triệu chứng chủ yếu trong loạn thần kinh lo âu.

            -Tù nhân Nguyễn Xiềng, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, luôn lo âu không biết sắp tới mình có được thăm gặp hay không, nào án cao quá không biết có ngày về hay không, nhất là khi nghe tin người vợ sắp cưới sau một thời gian chờ đợi đã đi lấy chồng, sự việc khiến anh càng thêm bi quan, từ lo âu trở nên trầm cảm, ngoài giờ lao động anh thường trùm mền và khóc một mình.

            -Tù nhân Nguyễn văn Đức, án hai mươi năm, tuổi ba mươi, luôn tâm sự nỗi băn khoăn lo lắng của mình với mọi người: nào không biết thư có đến được gia đình và tại sao trong một thời gian dài mình không nhận lá thư nào cả, bị giam giữ nơi rừng sâu nước độc... không biết có ngày về hay không. Từ sự lo âu thái quá đến nóng nảy, anh thường hay gây gổ với các tù nhân khác, đánh nhau thường xuyên từ những nguyên nhân không đâu vào đâu cả. Sau những vụ ẩu đả, anh cũng nhận ra điều đó, nhưng cái nhiệt độ trên 400 C vào trưa hè giữa rừng sâu... anh lại tiếp tục lo lắng, bực bội và lên cơn gây gổ.

            Cụ thể: các tù nhân luôn cảm nhận về các nguy cơ khó tránh, nhưng không xác định được đó là cái gì, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực trước nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ kèm theo xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngộp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân, các tù nhân thường có hội chứng chung về sự mệt mỏi gọi là Oải.

            -Tù nhân Lý Sen, án trên mười lăm năm, trên sáu mươi tuổi, các tù nhân gần gũi ông đều nhận thấy ngày nào cũng có tiếng than mệt mỏi, dù ông được miễn lao động khổ sai, sự lo âu thái quá trước cái chết, vì án còn dài mà tuổi đã cao, lo cả thức ăn phải giữ làm sao cho khỏi hôi thối, nhất là nỗi lo hằng ngày phải đút lót cán bộ an ninh nầy món gì, cán bộ an ninh kia món chi... để được yên thân, nhiều nỗi lo khiến ông đến xao xuyến, mất ngủ, rồi uể oải rã rời cả toàn thân thật sự cùng chứng tiểu đường mang theo từ ngoài xã hội vào trại giam. Ông vào tù vì tội tư sản. Trong số những người cộng sản ông nhớ nhất theo lời ông ”Thằng cha Đỗ Mười...”

            -Tù nhân Nguyễn văn Mười, án trên mười năm, tuổi hai mươi, vì ngại lao động khổ sai nên xin làm trực sinh và công việc chính hằng ngày là đổ nhà cầu, đó là công việc mất vệ sinh, khiến anh bực bội nhưng không sao tránh khỏi được, tù nhân nầy tâm sự cảm thấy ngộp thở, khó chịu khi nhớ lại mùi ấy trong giấc ngủ.

            Ngoài ra, các tù nhân thường cảm thấy thấp hèn và trước những thất bại, họ tự ti, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác, không còn tự lo được gì cả.

            -Tù nhân Nguyễn văn Thành, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, ngoài giờ lao động, thời gian còn lại chỉ mong sao có ai gọi nhờ vả việc gì để anh làm cho qua ngày tháng, nhất là công việc nấu nướng hằng ngày anh rất thích. Nếu không có việc gì thì mang quần áo rách ra vá lại đến hết giờ.

            -Tù nhân Nguyễn văn Hàn, án trên mười năm, tuổi trên năm mươi, cùng nhiều tù nhân khác có điểm chung nầy: họ hay ngồi thinh lặng mọi lúc có thể để lần hạt đọc kinh lẩm nhẫm trong miệng hay niệm Phật... Họ phó thác tất cả: Con xin vâng.

            Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén không hiện ra được, không nói ra được... mà có nói ra nếu không khéo lọt đến tai của quản lý trại giam có thể bị cùm kẹp, kỷ luật. Đặc biệt, ở trại giam cán bộ quản giáo chỉ làm tăng thêm sự xao xuyến lo âu chứ không làm giảm nhẹ, thật vậy lúc nào họ cũng gây nên các khó khăn cho tù, khủng bố, đe doạ bằng mọi cách.

            Cụ thể: Từ khi xuất trại, trên hiện trường lao động, đến lúc trở về, các tù nhân chỉ nghe thấy toàn một thứ ngôn ngữ thúc dục, chửi bới, la mắng, đe doạ từ miệng của các quản giáo và quản chế như: nhanh lên, đá cho nó vài đá, thằng nào chống đối hãy bước ra đây, cho nó vào nhà cùm, không lao động cúp thăm nuôi, không cho nhận quà, không được nhận thư, viết thư.v.v. Thật sự những vụ đấm đá xảy ra thường ngày, có khi quản giáo, quản chế mới học võ ngứa ngáy tay chân hay gọi các tù nhân vào giữa các lùm khoai mì rồi đánh đá cho đã tay chân... Khiến các tù nhân mỗi khi xuất trại, nhất là ở các đội trọng án thường lo âu, xao xuyến đến sợ hãi vô cùng.

            -Cán bộ Nhàn quản giáo đội trọng án tại trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, đánh đập, khủng bố tù nhân một cách tàn nhẫn. Tuổi chưa tới ba mươi.

            -Cán bộ Thẩm, cũng như cán bộ Nhàn nêu trên.

            -Cán bộ Nên, cũng như cán bộ Nhàn, Thẩm nêu trên, ngoài việc đánh đập còn cắt cả nhượng chân của các tù nhân trốn trại bị bắt lại.

            -Cán bộ Lâm, Thi, tuổi chưa đến ba mươi, phụ trách an ninh của trại được mệnh danh là Thung lũng tử thần thì mỗi khi làm việc với ai, thường dùng roi điện và bắt nằm xuống đánh cho hộc máu, bầm mình rồi dẫn vào nhà cùm mới buông, hai hung thần nầy đều nhỏ con, nước da lúc nào cũng tái mét, đặc biệt Thi chỉ cao hơn một mét, và cũng là một trong những cán bộ đã đánh Linh mục Nguyễn quang Minh nhiều nhất. Con người sinh ra vốn làm điều thiện và một đôi khi phạm phải điều ác, nhưng với những con người nầy hầu như không bao giờ biết làm lành, chúng sinh ra chỉ để làm điều ác sao mà ác thế.