ĐỊA NGỤC CÓ THẬT

Nguyễn Quang

PHẦN MỘT
CHƯƠNG 3 b

RỐI LOẠN VỀ CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC.

 

I . Khái niệm về cảm giác và tri giác:

            1.Cảm giác là những gì chúng ta nghe, nhìn, ngửi... Cảm giác phản ảnh những thuộc tính riêng rẻ của sự vật tác động trực tiếp vào các cơ quan cảm giác của ta. Cảm giác còn phản ảnh những trạng thái bên trong của cơ thể như nóng ruột, cồn cào, khó thở... Tuy là một quá trình tâm lý đơn giản nhất, nhưng cảm giác có ý nghĩa quan trọng vì nó là cơ sở của các quá trình tâm lý phức tạp khác, không có nó ta không nhận thức được thế giới bên ngoài.
            Muốn gây được cảm giác, các vật kích thích phải đạt được tới một mức độ kích thích tối thiểu có thể dẫn tới cảm giác - gọi là ngưỡng tuyệt đối của cảm giác. Tất cả các vật kích thích chưa đạt tới mức tối thiểu đó đều ở dưới ngưỡng. Ngưỡng tuyệt đối càng thấp thì tính nhạy cảm càng cao.Theo Kant:
            -Cảm giác thường nghiệm có thể dẫn đến sai lầm.
            -Cảm giác thực nghiệm sẽ dẫn đến tri thức đích thực.

            2. Tri giác:Tri giác là một quá trình nhận thức cao hơn cảm giác. Tri giác là nhận thức những sự vật hiện tượng cụ thể tác động vào tín hiệu thứ nhất. Tất cả đều được ghi lại trong óc qua các biểu tượng và khi cần có thể tái hiện trong ý thức. Theo Kant:
            -Tri giác thường nghiệm đưa đến các nhận thức sai lầm.
            -Tri thức tiên nghiệm do thực nghiệm có thể đưa đến các tri thức tiên thiên, khoa học.
Trở về đầu trang

II . Rối loạn cảm giác và tri giác:

1) Tăng cảm giác (Hyperesthesia): Là tăng tính thụ cảm với những kích thích bên ngoài mà trong trạng thái bình thường ta không nhận thấy.
Ví dụ: các tù nhân nằm trong phòng tối, khi ra bên ngoài thường bị chói mắt ngay, màu sắc sự vật trở nên rực rỡ, tất cả thế giới bên ngoài như quay cuồng chao đảo... và người nào khi bước ra khỏi phòng tối kỷ luật cũng phải mon men vịn vào tường ít phút mới định thần.
   -Triệu chứng nầy hay gặp trong các bệnh loạn thần kinh cấp tính, trong trạng thái mỏi mệt.
   Ví dụ: các tù nhân suốt ngày dầm mình trên phân người, dùng chân trộn đều phân mới lấy ra từ nhà cầu cùng lá cây để làm phân xanh với mùi hôi thối nồng nặc... Nó luôn ám ảnh họ ngay trong giấc ngủ và dường như toả đầy thứ mùi khó chịu từ nơi con người mình.
   Ví dụ: các tù nhân mỗi lần nghe tiếng kéo cửa sắt, tiếng chìa khoá khua leng keng... những âm thanh đó đối với họ như tiếng sét đánh, súng nổ trong ám ảnh sợ hãi.

2) Giảm cảm giác (Hypoesthesia):Trái với tăng cảm giác, giảm cảm giác biểu hiện ở chỗ giảm độ thụ cảm với các kích thích bên ngoài, người bệnh tiếp thu mọi sự vật một cách lờ mờ, không rõ rệt, xa xăm.
   Ví du: nhiều tù nhân sau một thời gian giam giữ, nhất là những người cao tuổi, hoặc những người trẻ bị đánh đập quá nhiều trước đó, mọi tiếng động dù ở gần nhưng nghe như rất xa xôi với họ, tiếng nói của người chung quanh không nhận ra của ai.
   Cụ thể:
-Tù nhân Lê thế Chân, án chung thân, Trung uý thuộc chế độ miền Nam trước đây, bị tập trung cải tạo, trốn trại lên chung thân, bị đánh đập tàn nhẫn khiến anh trở nên trầm cảm, đau ốm thường xuyên sau đó, mệt mỏi và thích tách biệt với thế giới đang sống. Thường xuyên phải mất vài phút anh mới trở lại trạng thái ứng xử bình thường khi có sự nhắc nhở của người bên cạnh.
            Cụ thể:
        -Tù nhân Lại thế Hương án 20 năm, đào thoát bị bắt trở lại, bị đánh đập trọng thương đến hậu quả cơ quan bài tiết không kiềm chế được nữa, cũng như trong giao tiếp chỉ trả lời: -ừ. ừ... trước sự nhắc nhở của người khác về vấn đề gì đó, thậm chí các bạn tù phải nhấc hông lên, rồi hướng dẫn đến việc sắp làm, lúc đó anh mới hiểu ra.

          3) Loạn cảm giác bản thể (Cenestopathia): là những cảm giác đa dạng hết sức khó chịu như nóng ran trong người, cấu xé trong ruột, điện giật trong óc... Các cảm giác nầy khu trú không rõ ràng trong các cơ quan nội tạng.

               Cụ thể:
               -Tù nhân Nguyễn văn Cẩn, án phạt 20 năm, bị giam giữ lâu dài trong phòng tối tại nhà kỷ luật, mắt gần mù, bị tê liệt hai chân, lúc nào anh ta cũng than như có điện giựt trong óc, hoặc có gì cấu xé trong ruột. Tù nhân nầy cho biết đã từng ăn mùng mền trong nhà kiên giam vì quá đói.
               Cụ thể:
               -Tù nhân Bùi Huệ, án phạt 20 năm, do bị giam giữ lâu dài tại nhà kỷ luật-khoảng ba năm, bị tê liệt hai chân, cơ thể co rút lại, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt sâu chỉ còn nhìn thấy đôi chút tròng trắng lộ ra nói lên khát vọng xin được sống. Lúc nào anh cũng chắp miệng than có cái gì làm anh nóng ran trong người, nhức nhối như kim chích khắp toàn thân.
               Cụ thể:
               -Tù nhân Nguyễn văn Sồi, án phạt 20 năm, đang ngồi theo đội ngũ chờ lao động khổ sai, bật ngửa té ngã vì đột qụy, về sau bị bán thân bất toại, lúc nào cũng kêu đau nhức toàn thân, điện giựt trong đầu và kêu than: chết, chết thường xuyên.

        4)Ảo tưởng (Illusion): là tri giác sai lầm về các đối tượng có thật trong thực tế khách quan. Ví dụ khi nghe tiếng rít của thanh sắt kéo cửa hay tiếng khua lẻng kẻng của chìa khoá, các tù nhân tưởng là công an đang đến gần họ và các tù nhân sắp bị tra tấn.

               Ảo tưởng theo giác quan gồm các loại:

               a) Ảo tưởng thị giác: ví dụ: nhìn cảnh quan trại giam tưởng như một tu viện. Trông thấy Giám thị trưởng, các cán bộ tưởng như sắp bị chửi mắng, còn các tù nhân thì liên tưởng đến rắn rít, ma quỷ và đầy cảm giác lo âu rằng mình sắp bị hại.
               Cụ thể:
               -Tù nhân Nguyễn văn Thể, Linh Mục, án tập trung, trong thời gian hơn một năm bị nhốt ở kiên giam, mỗi lần cánh cửa phòng riêng được mở ra để làm vệ sinh, vị Linh mục nầy liền phóng ra và vác thanh gỗ chận cửa chạy khắp trại giam. Vị Linh mục nầy tưởng rằng đó là cây Thánh giá mà ông phải gánh hằng ngày...
               b) Ảo tưởng thính giác: ví dụ các tù nhân nằm ở khu tử hình, khi nghe tiếng khua cửa vào lúc bốn năm giờ sáng, họ tưởng mình sẽ bị mang đi bắn. Các tù nhân đang bị giam cứu khi nghe đến cáo trạng, danh từ Viện kiểm sát, họ liền nghĩ đến việc mình sẽ bị ra toà, bị kết án. Hoặc nghe tiếng còi hụ tưởng sắp chuyển trại hay có tù nhân nào mới đến... Nghe tiếng kẻng là tưởng đến sự mệt mỏi, uể oải, phải lao động khổ sai.
               c) Ảo tưởng về vị giác: ví dụ các tù nhân bị thiếu thốn về vật chất lâu ngày khi nghe có mùi thơm từ nhà bếp khử hành mở, thường tưởng đến các bữa ăn thịnh soạn ngoài đời... khi nhai cơm với nước muối thật lâu thấy ngọt tưởng là đang ăn món cao lương mỹ vị... khi đói quá, các tù nhân nhai nuốt từng mảnh xương cá, cụ thể có Bác sĩ Vĩnh ở trại tam giam Trần Phú thuộc Tỉnh khánh Hoà, ngồi nhai xương cả ngày và tưởng là đang tái tạo can xi...

            Ảo tưởng theo bệnh lý gồm các loại:

       a) Ảo tưởng cảm xúc (affective illusion): tức là ảo tưởng xuất hiện trong các trạng thái của bệnh lý: lo âu, sợ hãi, trầm cảm, hưng cảm.
               Ví dụ: tâm trạng của các tù nhân lúc nào cũng lo lắng, sợ hãi, bị trấn áp, nên chỉ cần thấy bóng dáng cai tù thoáng qua... tưởng là sắp có khủng bố gì đây.

               -Ảo tưởng lo âu, xao xuyến (anxiety):
               -Lo âu là cảm nhận có một nguy cơ khó tránh nhưng không định được đó là gì, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực truớc nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ tạo ra xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngợp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân.
               -Lo âu là phản ứng của con người tự cảm thấy thấy thấp hèn, bất lực bị lệ thuộc vào kẻ khác.
               Ví dụ: lo âu thường xuyên của các tù nhân là sắp tới mình có được gặp gia đình, họ luôn bị đe doạ cúp thăm nuôi, không được nhận quà... và càng đến gần kỳ thăm gặp sự lo âu tăng cao thành xao xuyến, rồi hồi họp, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân.
               Ví dụ: trong thời gian giam cứu chờ ngày xét xử, tưởng tượng hình ảnh trước phiên toà, thời gian chờ đợi đi lao động khổ sai sau khi có bản án, hay thời gian nằm chờ xét xử trở lại... Các tù nhân luôn có sự lo âu, xao xuyến nhiều đến hoang tưởng.
               Cụ thể:
               -Các học thuyết mọc lên rất nhiều trong tù vì “các lý thuyết gia” luôn lo âu cho một dân tộc không có cây gậy dẫn đường, nên nặn ra đủ mọi thứ tư tưởng, như học thuyết Đại đồng của ông Thiện Đạt, một Đại Đức thuộc môn phái Phật Giáo Cổ Sơ Môn. Học thuyết Liên Tôn của Linh mục Nguyễn văn Vàng. Học thuyết Nhân bản Tiến bộ của Luật sư Nguyễn Khắc Chính. Học thuyết Duy Dân của Linh mục Nguyễn Huy Chương. Học thuyết Hoà giải Dân tộc. Học thuyết Bình sản.v.v. nhưng nội dung của nó không có gì mới lạ hoặc chỉ là những nét phát thảo, hình thành trong lo âu tưởng tượng thái quá so với khả năng tri thức của chính mình. Mặc dù vậy, họ cũng mất ăn, mất ngủ... thậm chí có khi bị kỷ luật đến mất mạng, trong khi nó chỉ là “đầu voi đuôi chuột”.
               Cụ thể:
               - Các tù nhân chết trong tù vì chứng tim mạch, áp huyết cao rất phổ biến. Thậm chí có nhiều trường hợp các tù nhân phải uống nước muối từ sáng sớm, để huyết áp tăng cao khi khám bệnh sẽ được nghỉ lao động khổ sai trong ngày hôm ấy, hoặc ngồi thiền luyện khí công đưa nhiệt độ cơ thể lên 38 0 đến 390... để được nghỉ trong ngày vì quá sợ lao động.
               Cụ thể: các tù nhân bị tim mạch hoặc áp huyết cao:
-  Nguễn văn Thuận, án chung thân, ngoài 60 tuổi, chết vì cao huyết áp.
-  Phạm văn Dụ, án 20 năm, ngoài 60, chết vì tim mạch.
-  Lưu Trung, án 17 năm, ngoài 60 tuổi, cao hyết áp.
-  Lý Sen, án 15 năm, ngoài 60 tuổi, cao huyết áp, tiểu đường.
-  Lê văn Tám, án 15 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.
-  Trần văn Cẩn, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.
-  Lê  Mại, án 20 năm, ngoài 70 tuổi, cao huyết áp, chết vì tim mạch.
-  Nguyễn quang Minh, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, cao huyết áp.
-  Nguyễn đan Quế, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp.
-  Lê thanh Quế, án phạt 15 năm, ngoài 50 tuổi, cao huyết áp, tim mạch.
-  Nguyễn văn Chờ, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, chết vì áp huyết tăng cao đột ngột.
-  Nguyễn đình Hoạt, án 20 năm, ngoài 50 tuối, chết vì áp huyết lên đột ngột.
-  Nguyễn huy Chương, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch, phù cả thân người và chết.
-  Nguyễn văn Vàng, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch.
-  Lê phạm Long, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, tim mạch.
-  Trương phúc Đức, án 20 năm, ngoài 50, chết vì tim mạch.
-  Nguyễn văn Nở, án 20 năm, ngoài 50 tuổi, chết vì tim mạch.
-  Nguyễn văn Nho, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, tim mạch.
-  Nguyễn văn Tống, án chung thân, ngoài 50, tim mạch và lao phổi.
-  Nguyễn văn Hiển, án 20 năm, ngoài 70 tuổi, tim mạch.
-  Nguyễn văn Lô, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, chết vì tim mạch.

               Cụ thể : tâm lý các tù nhân hay rụt rè, khúm núm, một thưa hai dạ... Thậm chí ngay cả với các thanh niên vừa mới lớn, nhưng khoát áo cai tù hoặc đóng vai du kích ... Các tù nhân dù cao tuổi cũng phải bẩm dạ, thưa cán bộ một cách sợ sệt đáng thương.
               Ví dụ: các tù nhân có sự sợ hãi đến độ cộng tác đắc lực với cai tù mà hầu như khi ra khỏi trại không ai quên được các tên: Đại tá Tí, Đại tá Châu, Trung tá Mai, BS Nhiếp, Thiếu tá Lãm, Nguyễn đình văn Long, Vũ văn Cẩn, Lý Sen, Trần đình Nguyên, Nguyễn văn Cần...
               -Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén, không nói ra được... Cụ thể mỗi chiều trước lúc điểm danh, dù chỉ vài phút ngắn ngủi, các tù nhân hay tràn ra hành lang để trao đổi thông tin, sưởi ấm cho nhau về tinh thần. Thái độ hoang mang, xao xuyến thấy rõ khi có tù nhân nào vừa mới thăm nuôi, họ luôn tìm gặp để thăm dò tin tức về thế giới bên ngoài, nhằm trấn an chính mình vì lúc nào cũng lo âu sợ hãi. Nên mới có câu khẩu hiệu luôn xuất hiện trước các trại giam: An tâm cải tạo...

               -Ảo tưởng hưng cảm: Hưng phấn là trạng thái hoạt động của một trung khu hay một nhóm trung khu thần kinh khi có một xung động thần kinh truyền tới. Thật vậy, bất cứ một cảm giác, một tư tưởng, một hành động của con người cũng dựa trên cơ sở một hoạt động thần kinh nhất định.
               Toàn bộ hoạt động của hệ thần kinh cũng như của từng tế bào thần kinh đều diễn ra trong hai quá trình cơ bản là hưng phấn và ức chế.
               Hưng phấn giúp hệ thần kinh thực hiện được phản xạ, khi con người đang có một hoạt động ý thức thì lúc đó trên vỏ não có điểm hưng phấn ưu thế hơn các điểm khác. Để chinh phục con người phải biết tạo điểm hưng phấn ưu thế về vấn đề đó, như tạo nên sự hoạt bát nhanh nhẹn, cởi mở, dễ thích nghi với môi trường mới, nhưng có nhược điểm khi hưng phấn thường hay nói nhiều dễ bị hiểu lầm, dẫn đến “tiền hậu bất nhất “, đa ngôn.
               Cụ thể thể hiện qua các tù nhân :
-  Tù nhân Nguyễn văn Châu (Châu sángThế), án tập trung, vui vẻ hoạt bát, gặp ai cũng vồn vã như đã quen thân từ “kiếp trước”. Vì nói nhiều nên phải có cái gì để nói, do vậy ông luôn tạo ra những thông tin giả theo trí tưởng tượng của mình, các tù nhân chứng kiến lấy làm buồn cười về việc đưa tin của ông, nhưng họ cũng lấy làm thích vì ai cũng muốn có chút hy vọng trong tuyệt vọng như ông vừa quay lưng đi, lúc ngoảnh lại đã có tin tức mới của hãng thông tấn này nọ.
-  Nguyễn văn Chức, án 20 năm, nói cười huyên thuyên, người nghe và cả chính ông cũng không biết nội dung là gì, song rất vui vẻ.
-  Nguyễn văn Lịch, án chung thân, lúc nào cũng nói về những tin nóng rất lạc quan tếu vì chính ông cũng không rõ nguồn tin đó từ đâu đến, mà chính mình đang bị vây kín trong bốn bức tường, và cả người nghe cũng vậy, họ biết những gì ông nói chỉ là hoang tưởng, nhưng vì là con người nên có lúc muốn nghe một vài điều gì đó vẫn hơn không hay biết gì hết .
-  Lê phạm Long, án 20 năm, các tù nhân gọi nhà báo nầy là “Ông miệng có quai”, nghĩa là nói nhiều và có đủ mọi chuyện để nói trong cái gọi ảo tưởng của tư duy.

               -Ảo tưởng lời nói (verbal illusion): trong ảo tưởng lời nói người bệnh nghe rất rõ lời nói, nhưng nghe sai lệch câu này thành câu khác. Trong hoang tưởng thường người bệnh không nghe rõ mà hay suy đoán câu chuyện qua thái độ người chung quanh hay nghe rõ ràng câu nói nhưng tìm một ý nghĩa cho câu nói đó theo nội dung hoang tưởng của mình.
Cụ thể: về phía các cán bộ quản lý trại giam bao giờ cũng đầy thành kiến đối với các tù nhân, mọi quan điểm đến hành vi của tù đều là láo, phản động... Nên câu nói mở đầu thay lời chào khi gặp các tù nhân: Mày tao, thằng nầy thằng nọ, đồ láo khoét...
Cụ thể: khi các tù nhân khai bệnh đều bị nghi ngờ là giả vờ để trốn tránh lao động, như tù nhân Trần vĩnh Đắc bị mù, bị điếc thì cho là đóng kịch và có chuyện đã xảy ra: cán bộ y tế trại giam đã dùng que tre thọt vào tai của bệnh nhân để xem có điếc thật hay không, cũng như dùng kim chích nhẹ vào mắt để xem có mù thật sự hay không. Ông chỉ còn biết than trời và kêu thành tiếng “nghiệp báo, nghiệp báo vì ngày trước ta đã chích con người thế nào, nay họ đã chích lại ta thế ấy”. Ông nguyên là Tổng cục trưởng Nha cải huấn trước đây.
Cụ thể: Về phía các tù nhân bao giờ cũng trong thành kiến: đó là lời nói của quỷ đỏ, xấu xa nhất trên trần gian nầy. Như khi viên Giám thị trưởng trại Xuyên mộc xuống kiểm tra các phòng giam, tù nhân Minh Triết đã nhảy ra và quát lớn một cách giận giữ vào mặt viên Trưởng trại nầy:
-Hãy cút về Bắc ngay, quân ăn cướp, tay sai cho Nga Tàu, đồ bán nước, hãy cút về Bắc ngay... Tất nhiên anh ta bị kỷ luật tàn nhẫn sau đó và trong hiện tượng nầy diễn ra tình huống mặc ai nấy nói, cũng như hiểu theo ảo giác về lời nói của mình.

    - Ảo tưởng kỳ lạ (bizarre Illusion): Ảo tưởng kỳ lạ thường xuất hiện trong trạng thái mê sảng ở các bệnh tâm thần cấp tính. Đó là những ảo tưởng rất phong phú, kỳ lạ xuất hiện ngoài ý muốn người bệnh một cách dồn dập.
Ví dụ: thấy bóng đèn chiếu sáng lập loè thì bảo là hào quang của tiên thánh, thấy bóng đen thì bảo là quái vật, thấy sự biến đổi của mây trôi thì bảo là hình ảnh của tiên thánh đang di chuyển.
Cụ thể những “Ông Đạo” trong tù, các tù nhân nầy thường ngồi toạ thiền, và sau những lần nhắm mắt cùng cái đầu gật gật... Theo lời kể những giây phút siêu thoát ấy thật tuyệt vời: họ đã gặp hết vị tiên nầy đến vị tiên khác. Các tù nhân nầy lúc nào tâm thần họ cũng như trong mơ, ánh mắt luôn lờ đờ lim dim, huyền ảo. Họ là:
-  Nguyễn văn Ẩn, án trên 10 năm, ngoài 50 tuổi.
-  Nguyễn văn Lờ, án 20 năm, ngoài 50 tuổi.
-  Nguyễn văn Lộc, án trên 10 năm, luôn mặc áo đỏ.
-  Nguyễn văn Hải, án 15 năm, trên 30 tuổi.
-  Nguyễn Nam  án 20 năm, trên 40 tuổi.
-  Dương thiện Tịnh, án chung thân, trên 40 tuổi.
-  Dương thiện Tường, án 20 năm, trên 30 tuổi.
-  Võ Trực, án trên 10 năm, ngoài 30 tuổi.
-  Nguyễn văn Tiên, án 20 năm, ngoài 40 tuổi.
-  Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, ngoài 40 tuổi.

               Cụ thể :
               - Tù nhân Nguyễn văn Tháo, án 20 năm, thường tổ chức cầu cơ và theo chính ông thuật lại rằng: đã gặp một vị thánh tên Năm -vị thánh nầy cho ông biết nhiều tin tức thời sự, về tương lai của dân tộc, cũng như phong chức tước cho các tù nhân trong việc lãnh đạo đất nước. Vào một buổi tối, dịp cầu cơ để phong chức tước đã xảy ra, có người tham vọng đến chức Tỉnh trưởng, nhưng ông thánh Năm chỉ cho làm lính gác ở Quận... Sự việc bắt đầu mâu thuẩn từ đó và việc cầu cơ bí mật bị bại lộ. Hầu hết các tù nhân trong nhóm nầy đều bị cùm lâu dài trong nhà kỷ luật. Các tù nhân tổ chức cầu cơ nầy, sau khi rời khỏi nhà kiên giam, người nào cũng trải qua những trận đánh đòn đầy thương tích và người nào cũng trở nên lờ đờ, thẩn thờ, u uất, bệnh tật nghiêm trọng dẫn đến các chứng tâm thần từ sự thoái hoá của thân xác.

          5. Ảo giác (hallucination): là tri giác như có thật về một sự vật, một hiện tượng không hề có trong thực tế khách quan gần như một thái độ ngụy tín. Ảo giác nầy xuất hiện và mất đi không phụ thuộc theo ý muốn của người bệnh. Ảo giác có thể kèm theo rối loạn ý thức như mê sảng hoặc kèm theo rối loạn tư duy như hoang  tưởng.
               Cụ thể: trong tù xuất hiện rất nhiều giáo chủ và các kẻ xưng vương, họ là:
-        Giáo chủ Nguyễn văn Thu, án tập trung. ngoài 30 tuổi.
-        Giáo chủ Huỳnh Hừng, án 15 năm, ngoài 50 tuổi.
-        Giáo chủ Nguyễn Nam, án 20 năm, ngoài 40 tuổi.
-        Giáo chủ Nguễn văn Lộc, án trên 10 năm, ngoài 40 tuổi.
-        Giáo chủ Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, ngoài 30 tuổi.
-        Giáo chủ Vĩnh Hy, án tập trung, ngoài 40 tuổi.
-        .Nhóm Siêu Thiên Tử, phần lớn các tù nhân thuộc nhóm nầy có án chung thân, họ còn rất trẻ, có người chưa tới 30 tuổi. Họ tự xưng là những người con của Trời, xuống thế để hành đạo và biến đổi đời.
CÁC LOẠI ẢO GIÁC :

Ảo giác thật: người bệnh tiếp nhận ảo giác như một sự vật có thật trong thực tại, không phân biệt được ảo giác với sự vật thật .
  Ví dụ: các tù nhân nghĩ rằng mình vẫn luôn đảm trách hoặc sẽ giữ những chức vụ quan trọng trong tổ chức xã hội... nhưng thực tế đang là một người tù với một tương lai đầy bất trắc, không thể lường trước được việc gì sẽ xảy ra.

  Cụ thể :
-        Nguyễn văn Viên, án tử hình, song vẫn luôn nghĩ mình sắp được mời ra làm Thủ tướng cho đến ngày bị mang ra trường bắn.
-        Nguyễn văn Vàng, án 20 năm, Chủ tịch mặt trận Liên tôn, vẫn luôn nghĩ mình là một Chủ tịch, một lãnh tụ hàng đầu của quốc gia.
-        Nguyễn huy Chương, án 20 năm, vẫn luôn nghĩ mình là một Chủ tịch. một lãnh tụ hàng đầu, bị kiên giam đến chết.
-        Đinh tiến Khẩu, án 7 năm, vẫn luôn nghĩ mình ở cương vị một Thủ tướng.
-        Lý công Cường, án 20 năm, luôn nghĩ mình là Thủ tướng, và đó là cơ Trời ban xuống. “Dù có thế nào ta cũng là lãnh tụ vĩ đại vì ta đã dám chống lại cộng sản”.
-        Châu (sáng Thế), tên thật Nguyễn văn Châu, án tập trung, tự phong cho mình là vua nhập thế để cứu dân tộc khỏi hiểm hoạ cộng sản, nên lúc nào, hành vi cũng mang dáng dấp của một “Quân vương” đến với chư dân, như cử chỉ khoan thai, nụ cười độ lượng, bước đi thanh thoát...
-        Nguyễn khắc Chính, án chung thân, một Luật sư lúc nào cũng nghĩ mình sẽ trong cương vị Thủ tướng, Tổng thống và đất nước nầy không thể thiếu ta được. Các tù nhân muốn gặp đàm đạo với ông đều phải hẹn trước, song với cai tù thì dường như lúc nào ông cũng bị ám ảnh, sợ hãi: chúng sẽ giết ông, nên ông hay gọi chúng là “Thầy” trước mặt, là “thằng“ sau lưng, vì chúng có thể là cứu tinh và cũng là kẻ sát hại một nhân vật quan trọng như ông.
               -Nguyễn văn Đức, án tập trung, nguyên là một Hạ sĩ trong chế độ miền Nam trước đây, và ước mơ của y là được làm Thiếu tá. Nhân có lời kêu gọi của chính phủ mới yêu cầu các sĩ quan trong chế độ cũ phải ra trình diện, y tự xưng là Thiếu tá và cũng từ đó y nhận lãnh hết án tập trung nầy đến án tập trung khác. Vào tù lúc nào y cũng cho rằng mình là một Hoàng tử hoá thân vào nhà tù để cùng sống với thần dân... Và cách sống của người tù nầy cũng rất “Hoàng tử”, như có thăm nuôi là phân phát hết cho người kém may mắn, giúp đỡ mọi người một cách ân cần trong cách thế của người trên đối với bề dưới, dù chỉ mới chưa đầy 30 khi mới vào tù.
               -Nguỵễn văn Châu, án 20 năm, lúc nào cũng nghĩ mình đang là một nhân vật có tầm cở từ Thứ trưởng trở lên, thực tế học lực chỉ ở cấp hai, trong cách sống luôn cố đóng vai cho có vẻ Bộ trưởng ... Tất nhiên vì là ảo giác thật nên với người chung quanh là không thật đến lố bịch.

              Ảo giác giả: cũng như ảo giác thật mang tính chất cụ thể, nhưng khác với ảo giác thật là hình ảnh ảo giác không phải từ ngoài đến mà lại khu trú trong đầu, từ trong cơ thể phát ra, bệnh nhân nhận thức được chúng không phải bằng giác quan mà bằng trong ý nghĩ.
               Vi dụ :người bệnh nghe tiếng nói từ trong đầu.

               Cụ thể qua các tù nhân:
-        Huỳnh Thì, án 20 năm, bị đánh đập khi trốn trại về sau mắc chứng trầm uất, lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nói chuyện với người yêu, hoặc với Thần thánh, thích ngồi một mình, mắt nhìn lên trời hay nhìn chăm chăm xuống mặt đất như đang nghe lời đối thoại.
-        Nguyễn văn Đỏ, án chung thân, lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nghe và đáp lại lời của những người ngoài vũ trụ.
-        Nguyễn văn Lộc, án trên 10 năm, lúc nào cũng kể cho mọi người nghe: ông đã vừa nghe tiếng nói của các vị tiên và mách bảo. Khi có tiếng thoảng qua lùm cây, bụi cỏ... ông cho đó là hiện tượng có tiên thánh đi ngang qua.
-        Nguyễn văn Nghi, án 6 năm, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tù nhân nầy bừng tỉnh dậy và la lớn: chúng giết tôi, chúng giết tôi... và tôi đã nghe rõ tiếng lên cò bóp đạn của bọn chúng. Thật sự những âm thanh ấy chỉ có từ trong tiềm thức của người tù nầy, các tù nhân khác vẫn yên giấc và không nghe thấy gì cả.
-    Nguyễn văn Lô, án 20 năm, thăm nuôi thường xuyên, nhưng lại chơm chỉa đồ ăn của người khác. Trong các cuộc họp kiểm điểm ông nói: có tiếng gọi từ xa đến và bảo ông làm như thế... rồi ngã vật người ra vì chứng tim mạch. Các tù nhân khác vì lý do nhân đạo không ai dám phê bình gì cả.
-    Nguyễn văn Lân, án 12 năm, thường xuyên nhảy vào nhà kho để ăn cắp đồ đạc của các tù nhân khác, có khi trốn ngồi trong kho và ăn luôn gạo sống cho đến khi anh em đi tìm và bắt gặp. Tù nhân nầy bảo có tiếng gọi và sai khiến anh ta.
-        Nguyễn văn Bình, án chung thân, lần thứ nhất nhảy xuống giếng tự tử và được cứu sống. Trả lời câu hỏi tại sao, anh bảo: có tiếng gọi hãy làm để phản đối về sự đối xử quá tồi tệ đối với các tù nhân. Lần thứ hai, anh thắt cổ tự tử, và được phát hiện kịp thời. Anh trả lời: có tiếng gọi hãy làm điều đó để phản đối chế độ lao tù quá hà khắc và đòi hỏi nhân quyền cho con người. Lần thứ ba, anh đã nhảy vào chảo nước sôi, có lẽ cũng đòi hỏi quyền sống cho con người và anh đã ra đi vĩnh viễn.
-        Cao văn Bình, án chung thân, luôn nằm co rút một chỗ, thường xuyên nằm bệnh xá vì bệnh lao phổi do lao động kiệt sức. Các tù nhân khuyên nên hoạt động, song tù nhân nầy bảo: có tiếng gọi hãy nằm yên, nếu không chúng sẽ giết, hãy nằm yên và im lặng, đợi chờ.
-  Võ văn Bộ, án tập trung, lúc nào trên các tờ kiểm điểm khai cung, ông cũng đề “Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng“ thay cho tên nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trong ánh mắt của vị Linh mục nầy như luôn có tiếng gọi: Mẹ đây, Mẹ sẽ thắng... Và tất nhịên vị Linh mục nầy đã bị kỷ luật sau mỗi lần ghi như thế.
-  Nguyễn văn Luân, án chung thân, luôn đấu tranh cho quyền con người không mệt mỏi, ông tâm sự như luôn có tiếng gọi thôi thúc của nhiều người bất hạnh trên đất nước nầy, và ông đáp lời mà hành động. Trong suốt thời gian ở tù, hầu như lúc nào cũng bị kiên giam vì những đòi hỏi cho quyền sống của con người, đòi cải thiện chế độ lao tù.v.v.
-  Bùi văn Bộ, án 20 năm, ngoài 60 tuổi, hay đau ốm và nằm bệnh xá thường xuyên, ông luôn ngồi co rút cầu nguyện, tù nhân nầy luôn trong sự sợ hãi, ám ảnh chúng sẽ giết ông, ông nói: có tiếng gọi của Bề Trên nhắc nhở ông - con hãy luôn tỉnh thức và cầu nguyện, chúng đang tìm mọi cách giết hại con.
Trở về đầu trang

Các loại ảo giác thật:

  Ảo giác thính giác: Ảo thanh có thể xảy ra liên tục hoặc từng thời gian, có loại ảo thanh bình phẩm, loại ảo thanh mệnh lệnh như ra lệnh cho người bệnh lao vào ô tô, nhảy xuống ao, đi trốn, đi tìm... Ảo thanh ảnh hưởng đến cảm xúc làm người bệnh lo lắng, buồn rầu, giận giữ, vui vẻ, phấn khởi... Tuỳ nội dung ảo thanh mà người bệnh có thể phản ứng bằng cách bịt tai, lắng nghe, trả lời với ảo thanh, hoặc có hành vi chạy trốn, tự sát hay tấn công người khác.
  Ảo thanh rất hay gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và có thể là một triệu chứng khởi đầu của bệnh nầy. Ngoài ra ảo thanh còn gặp trong các bệnh loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già, loạn tâm thần do tổn thương ở não bộ.
  Cụ thể :
-  Nguyễn văn Bảy, ngoài 60 tuổi, trưởng trại giam A30 ở miền Trung Việt Nam, lúc nào y cũng quát tháo, chửi mắng từ cán bộ đến tù nhân, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có uy quyền mới thực sự chứng tỏ mình đang nắm quyền lực. Ví dụ: Tù nhân sắp hàng đi chậm, y bảo đi như rùa; tù nhân đi nhanh, y bảo: đi đâu mà như ăn cướp... đi ngay thẳng thì y bảo: đi đâu mà như tù... không lúc nào mà y không la hét để chứng tỏ quyền lực, nhất là khi có biến cố gì đặc biệt như các tù nhân nỗi loạn trốn trại, lúc đó miệng y cũng không ngớt réo vang lên các từ: cùm cùm, bắn bắn...
-  Nguyễn văn Yên, ngoài 60, trưởng trại giam A20, thuộc miền Trung Việt Nam, sự đàn áp khét tiếng ở trại nầy nên được mệnh danh là “Thung lũng tử thần”, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có quyền lực, ta là đảng cầm quyền, dường như y luôn sẵn sàng có quyết định kỷ luật kiên giam đối vói các tù nhân, nên nếu có báo cáo dù đúng sai không cần biết, trước hết với y là là mang đi cùm rồi nghiên cứu sau. Hậu quả là không biết có bao nhiêu người bị giam cầm trong nhà kỷ luật và đã chết rũ ở đó vì cái gọi là quyền lực chuyên chính vô sản trong tay y.
   Trong số các tù nhân bị giam giữ tại đây gồm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tỉnh trưởng, Quận trưởng, và các sĩ quan cao cấp Tướng tá... Do đó, y thường cười lớn một cách hãnh diện, hai hàm răng luôn khép lại, quả là ta có tướng mệnh cao nên mới cầm tinh loại nầy.
   Tính chất đặc biệt nơi các trưởng trại giam, kể cả y, đó là không ai chịu về hưu, dù tuổi tác đã cao, người nào cũng xin được phục vụ, cống hiến tiếp vì dường như có tiếng nói từ trong những người nầy, theo cách chung tỏ lộ, nếu ta rời khỏi quyền lực thời không còn gì nữa hết, cũng như trong quan niệm của những người vô thần: chết là hết.
-  Nguyễn văn Bàng, ngoài 50, một trưởng trại A20 khác, thuộc miền Trung Việt Nam, như có tiếng gọi của đảng trong y: ta đang cầm quyền và đang giang cánh tay quyền lực nên lúc nào y cũng quát tháo cán bộ và chửi bới tù nhân một cách thô tục, ngay cả với cán bộ nữ y cũng dùng những lời tục tĩu để la mắng mỗi khi gặp họ, những lời của y khó mà tường thuật lại.
Đặc biệt hành vi cử chỉ của các cai tù nầy đều mang tính chất bất bình thường, vì người nào cũng ăn nói rất tục tằn với phụ nữ ngay cả khi có mặt của các tù nhân khác.
-  Nguyễn văn Dư, ngoài 50, phó trưởng trại A30, thuộc miền Trung Vịêt Nam, y mắc chứng ho lao, đi lại rất khó khăn, thế nhưng cũng rán mà gào lên để tỏ uy quyền, như có sự thôi thúc bên trong y: phải chứng tỏ ta có uy quyền, y luôn tạo mâu thuẩn giữa các tù nhân để cai trị, luôn gọi người nầy đến người khác để tạo sự nghi ngờ giữa các tù nhân với nhau đến giết nhau. Những tù nhân càng uy tín, có địa vị từ ngoài xã hội, y càng mời lên làm việc nhiều hơn, để tạo sự ngờ vực và xói mòn uy tín người ấy.
-  Nguyễn văn Nhu, ngoài 50, truởng trại Z30D, thuộc miền Nam Trung bộ Việt Nam, ngoài tiếng kêu của lòng tham quyền lực, còn có cái gọi của dục vọng khả giác thấp hèn trong y, mà cũng nét chung của các cán bộ trại giam về chuyện hủ hoá với phụ nữ, không một phụ nữ nào có nhan sắc chẳng may sa chân vào nơi đây mà lọt qua mắt bọn cai tù nầy. Theo lời của các tù nhân nữ, tội trốn ra nước ngoài, trong khoảng tuổi hai mươi đã kể lại, mỗi lần các cô ta muốn đi phép về nhà, họ lên ngay văn phòng của viên giám thị trưởng rồi ôm đùi ông ta khóc sướt mướt, và cô gái nói thật rõ trước mặt nhiều tù nhân: ”cho đến khi nước mắt như ướt cả đùi ông” và thế là được đi phép. Tất nhiên khi ra khỏi văn phòng sau đó là la lớn, quát tháo... phát ra từ chứng ảo thanh về thính giác, ít nhất cũng là sự khởi đầu của chứng loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già.
-  Nguyễn văn Bôi, ngoài 50, một trưởng trại khác của A20, thuộc miền Trung Việt Nam, đặc điểm y rất sợ về hưu, theo lời tâm sự của y với các tù nhân tự giác hay đi phép và tống quà cho y, vì nó là một sự chấm hết, nhất là y có cô vợ nhỏ còn trẻ cư ngụ gần trại giam... Y luôn uống rượu, khuôn mặt đỏ lên như thêm quyền lực một chút vốn đã là một hung thần, cấp bậc Đại tá, lúc nào cũng hô hào, cũng la lối, và vỗ tay tự tán thưởng như biểu hiện của các triệu chứng về tâm thần, nó là thứ ảo thanh, mọi thứ ngôn từ trong y phát ra để luôn chứng tỏ rằng: ta đang trị vì.
-  Lại văn Hùng, ngoài 30 tuổi, y quát tháo và chửi mắng các tù nhân đến mức họ đặt biệt danh cho y là: ”Hùng La”. Nhưng rồi mọi sự như không có gì khi không có y, cả cán bộ và tù nhân không ai sợ y, nó như một làn gió tỏ uy quyền thoảng qua. Điểm đặc biệt bà vợ thứ hai luôn tỏ uy quyền hơn y ngay cả trước mặt các tù nhân, bà luôn chửi đổng khi tù xuất trại đi ngang nhà bà để chứng tỏ ta thật sự mới là người đang có quyền lực hơn chồng về mọi chuyện. Trên tay bà thường có con dao phay sắc, nhọn và có khi rượt cả viên giám thị uy quyền nầy trước mặt các tù nhân.
-Lê văn Thành, trạc 50, trưởng trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, y không la lớn và hô hào như các trưởng trại khác, có thể vì gia đình y là một gia đình vốn đã có quyền lực trong chế độ, song khuôn mặt đầy trầm ngâm của y như luôn mang theo tiếng nói từ bên trong: hãy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều. Thật vậy, con người y cũng thâm độc và luôn chứng tỏ đầy quyền lực như các trưởng trại khác, y thường xuyên tổ chức những buổi học tập, mít-ting và xuất hiện trong cách thế đầy quyền lực. Các tù nhân đã chứng kiến cảnh vợ lớn và vợ bé của y đánh nhau và rượt chạy vào trại giam, có lẽ vì ít nói nên các tù nhân đã có chút cảm tình và giấu kỹ bà vợ nhỏ tại bệnh xá trại giam, ngày hôm sau của buổi đánh ghen, các tù nhân chứng kiến một chiếc xe con chạy vào trại giam, khi trở ra có một người đàn bà trẻ cúi sạp mình xuống khi xe chạy ra khỏi cổng, tất cả những thứ ảo thanh của một thứ tâm lý thần kinh không bình thường: đó là ảo thanh của người vợ bé: ta có quyền yêu; ảo thanh của bà lớn: ta có quyền và được pháp luật công nhận; ảo thanh của kẻ đang cầm quyền: ta có toàn quyền. Đảng là ta. Và đảng là trên hết.Ta đã cống hiến quá nhiều rồi, nay ta cần được hưởng một chút.
-   Nguyễn văn Bố, ngoài 50 tuổi, phó trưởng trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, cũng ít nói hơn các trưởng trại giam khác, nhưng sự khủng bố và đàn áp các tù nhân khủng khiếp đến mức mang bí danh “Bố ráp”, trong y như có tiếng nói của sự trả thù, nên lúc nào y cũng tìm cách ghép tội, buộc tội các tù nhân vốn đã trong cảnh khốn cùng. Cụ thể ghi gặp một tù nhân nào chưa kịp chào, hay được y hỏi: -mầy đang làm gì đó... mà chưa kịp trả lời hoặc trả lời thiếu chữ thưa dạ... thế là liền sau đó bị gọi lên làm việc, tất nhiên bị đi nhà kỷ luật về tội thiếu nếp sống văn hoá mới không lễ phép với cán bộ.
-   Ảo giác thị giác: cũng thường gặp nhưng ít hơn ảo thanh và đôi khi kết hợp với ảo thanh. Nội dung của ảo thị rất đa dạng như thấy ngọn lửa, thấy đom đóm, thấy khói, sương mù, thấy hình ảnh sinh vật mờ mờ hay rõ rệt. Kích thước của sự vật có thể lớn lên, đó là ảo thị khổng lồ -macropsia; ảo thị nhỏ đi microsia; và có thể là ảo thị tự thấy mình -autoscopia.
    Nội dung của ảo thị có thể làm người bệnh say mê, nhìn ngắm một cách thích thú hoặc ngơ ngác, bàng hoàng, sợ hãi... hoặc biến tha nhân thành những nỗi kinh hoàng như trong ảo giác của chính mình. Ảo thị hay gặp trong các bệnh tâm thần cấp như loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc, đôi khi trong tâm thần phân liệt, loạn thần kinh hysteria.

Cụ thể :
-  Nguyễn văn Tiến, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào cũng rình rập, khủng bố các tù nhân như bắt gặp một tù nhân nào đứng lệch hàng ngũ, y liền doạ nạt kết tội chống đối; y thường gợi ý các tù nhân nói chuyện, song nếu có sơ hở một tí như quên thưa trình, chắc chắn thế nào cũng bị qui kết về tội vi phạm nội qui và phải vào nhà kỷ luật ít ra một tuần lễ; quả thật cái nhìn của y với các tù nhân là đầy ảo giác sai lầm, thứ ảo giác lệch lạc từ tư tưởng đấu tranh giai cấp, những ai không cùng trên tảng băng giai cấp đều là kẻ thù đầy tội lỗi. Và trên cái nhìn bất bình thường nầy đã dẫn y đến việc nhận hối lộ của tù, bị bắt quả tang rồi bị sa thải sau đó.
-   Trần văn Tiến, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào khuôn mặt cũng hầm hầm, sát khí tìm cách hãm hại các tù nhân, trong con người y như đầy sự ảo thị, đến như hơi thở của tù cũng là tội lỗi, ví dụ như có tiếng ho hăng, tằn hắn khi xếp hàng, y cho là chống đối... vì đó là lá phổi của kẻ thù giai cấp; như nấu nướng sớm hay muộn một chút đều bị y qui kết tội âm mưu phá hoại, có ý đồ đốt phá trại giam, thấy tù nhân sắp xếp đồ đạc gọn gàng thì bảo là có ý trốn trại hay sao thế... còn lơ là một chút thì bảo sinh hoạt không phù hợp với nếp sống văn hoá mới.
-   Nguyễn văn Tri, cán bộ an ninh trại giam, tuổi 30, lúc nào trong tay y như cũng có sẵn cây bút để ghi chép và buộc các tù nhân ký vào bản kiểm điểm, rồi vào nhà kỷ luật, y có trình độ hơn các cán bộ khác và thường những ai làm việc với y, kết quả cuối cùng bao giờ cũng là lời buộc tội phải ký vào biên bản kỷ luật. Trong y dường như mang đầy ảo giác: tất cả lời nói đến hành vi của các tù nhân đều là giả dối, nó là tàn dư của tư bản bốc lột, tội lỗi, nên không thể có một âm thanh, màu sắc, huơng vị tốt từ giai cấp nầy được.
-  Thi, cán bộ an ninh trại giam, khoảng 30 tuổi, con người rất lùn nầy hầu như rất tiết kiệm lời nói, chỉ dùng đồ vật như chìa khoá, ổ khoá, bất hoặc cái gì có sẵn trước mặt là y dùng để ném tù nhân đang làm việc với y. Trong y dường như có ảo giác về hình ảnh của các tù nhân: họ không phải là con người, là ký sinh, cặn bã xã hội... y thường dùng những lời đó để miệt thị tù nhân khi ném các đồ vật. Ngược lại y là kẻ chạy trốn nhanh nhất, kể cả chui rào khi thấy cấp trên. Và khi y cùng một số cán bộ chạy trốn như thế, họ lại cố làm như đang thanh tra phòng giam, trấn áp tù nhân với những cặp mắt láo liên, hối hả của thứ ảo giác bất thường.
- Chính, khoảng 30 tuổi, cán bộ an ninh trại giam, có biệt danh là “Chính heo”, vì lúc nào cũng theo xin đồ ăn của các tù nhân mới thăm nuôi và xin rất nhiều qua trật tự thi đua vơ vét về cho y. Khi xét quà thăm gặp, y thường nói: quà tốt, ngon như thế nầy thì ngoài xã hội bốc lột biết dường nào. Thứ ảo giác sai lầm trong y đó còn thể hiện ở khu tập thể khi chồng của một phụ nữ là cán bộ đi công tác, y đã quan hệ bất chính và bị bắt quả tang. Song với phần lớn cán bộ ở khu tập thể nầy thì chuyện đó không có gì lạ lắm. Trong cách nhìn của các tù nhân: có phải đó là cách sinh hoạt của những kẻ duy vật, hay thế giới đã đổi thay trong quan hệ tình dục, mà các tù nhân ở đây thường thụ án trên cả chục năm.
-  Lâm, cán bộ an ninh, trạc 30 tuổi, trong ánh mắt sâu chỉ có màu trắng và một chút con ngươi đen muốn chìm hẳn, dường như y luôn có ảo giác quyền lực: đó là quyền giết người, y không có nụ cười, con người ốm o, ho hăng khục khặc nầy lúc nào mở miệng ra là: cùm, cùm, cho nó chết... Nét chung về ngôn từ của bọn cán bộ trẻ nầy là không có từ nào về sống còn, sống sót, sống với, cứu người, giúp người.v.v. Đó là những từ quả là xa lạ với chúng. Những ai đã từng qua trại Thung lũng tử thần, thật sự đều rùng mình khi nhớ lại từng cán bộ an ninh ở đây, mỗi tên đồ tể ấy đều có nét riêng của sự ác khác nhau. Và người ta không ghê tởm sự hôi thúi của xác chết bằng chính mùi tanh lạnh lùng của kẻ giết người, trước cái chết của đồng loại chúng còn nhân danh và nói: cái chết là xứng đáng, chúng bay đáng tội chết. Giết một người đã là khác thường, giết nhiều người gọi là có chính nghĩa? Đó quả là một thứ ảo giác của triệu chứng tâm thần thời đại.
Trở về đầu trang

Ảo giác khứu giác:
Người bệnh ngửi thấy nhiều mùi khác nhau như mùi hôi thối của trại giam, mùi tanh của khu kỷ luật, mùi khói từ nhà bếp, mùi ghẻ lở... Mùi ngửi được thường là mùi khó chịu.
Các tù nhân dù trải qua các nhà kỷ luật từ lâu, song thứ mùi hôi tanh ấy vẫn còn cứ đeo đuổi họ mãi: cái mùi đặc biệt của con người khi vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát.
Mùi hôi thối của những người làm phân xanh, lúc nào hai chân cũng đạp trên những bãi phân vàng do chính họ vừa mới thải ra - hãy còn nóng. Thứ mùi đặc thù ấy cùng với vi trùng đủ loại như đã bám sâu vào da thịt họ, rồi từ trong phổi như luôn thở ra mùi hôi thúi.
Các tù nhân dầm mình cày cấy trên đồng ruộng sình lầy, khiến họ luôn ngửi thấy mùi sình non bốc ra thở vào từ mũi họ.

Ảo giác vị giác: Ảo vị thường đi đôi với ảo khứu, người bệnh cảm thấy một vị không có trong thức ăn, nước uống và vị đó thường là đắng, chua, cay. Ảo vị và ảo khứu có thể gặp trong tâm thần phân liệt, u não, động kinh.
Ví dụ: các tù nhân thường có vị đắng trong miệng sau những lần bị bố ráp thường xuyên trong tù, vì mỗi lần như thế đều có sự mất mát về vật chất dù không là bao nhiêu, nhưng những cái cuối cùng thường vẫn là những cái rất lớn như các vật kỷ niệm, cái chén, cái bát, đôi đủa.v.v. kể cả những mất mát về tinh thần như đi kỷ luật kiên giam.

Cụ thể: mỗi lần có sự chuyển phòng, chuyển trại, khám xét kiểm tra phòng giam... vị đắng như tiết ra từ khứu giác của các tù nhân.
Cụ thể: mỗi khi nghe đọc giảm án hoặc tha tù, các tù nhân có cảm giác của vị chua,cay... để được tha ra khỏi các Thung lũng tử thần.

Ảo giác xúc giác: người bệnh có cảm giác như kim châm, điên giựt, tê lạnh, ẩm ướt, nóng bỏng, sâu bọ bò trên da hay các vật lạ dưới da, có thể gặp trong loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc và tâm thần phân liệt.

Cụ thể: các tù nhân vì đói quá ăn phải khoai mì độc bị say, họ đều kể lại lúc đầu có cảm giác tê tê cái lưỡi đến co giựt, nóng bỏng trong người và trong da họ như có loài bò sát đang di chuyển.
Cụ thể: các tù nhân say nấm, nếu may mắn thoát chết, họ kể về cảm giác kim châm, lạnh toát trong người và có lúc nóng ran như điện giựt, cùng với ói mửa, sốt tiêu chảy.
Cụ thể: các tù nhân bị đánh đập sau những lần hỏi cung, họ cảm thấy cơ thể như bị rã rời ra từng mảnh, da thịt bong đỏ đến bầm tím những nơi bị đánh và sự đau đớn đến tột cùng... Các thần kinh giựt lên trên não bộ như kim chích, và có tù nhân bị thoi vào bụng nhiều quá làm rối loạn đường ruột, nên lúc nào họ cũng có cảm giác đi cầu và thực tế các tù nhân đáng thương nầy bài tiết ra ngoài thường xuyên lúc nào không hay..

Ảo giác nội tạng: người bệnh cảm thấy rõ ràng trong người những dị vật, những sinh vật nằm yên hay động đậy.
Ví dụ: cảm thấy có con đỉa trong tay, rắn trong bụng, nước chảy trong đầu.

Cụ thể: các tù nhân được điều trị bệnh với các loại thuốc phổ biến trong tù là: xuyên tâm liên, khung chỉ... Vào mỗi buổi sáng hay chiều về, nếu đi khám bệnh họ sẽ được phát một nắm thuốc cả chục viên như thế và người nào cũng có cảm giác như ợ lên đầy mùi thuốc gọi là thuốc dân tộc nầy.
Cụ thể: các tù nhân bị tra tấn, bị kiên giam lâu ngày, nên mỗi khi thời tiết thay đổi họ có cảm giác cơ thể đau nhức vô cùng, như có ai đang tra tấn từ trong máu huyết của mình.
Cụ thể: những người bị tra tấn bằng sắt đun qua lửa - sắt nung đỏ, mỗi khi thời tiết thay đổi, các tù nhân nầy thường la lớn và sự đau đớn tột cùng như có ai đang tra tấn đốt cháy trên toàn thân họ... kể cả những ấn tượng về mùi thịt cháy khét cùng tiếng nổ của da thịt khi bị nướng bung lên... như đang hiện ra trước mắt họ.
Trở về đầu trang

Các loại ảo giác giả: ảo giác giả có thể có đủ loại như ảo giác thật.

Ø      Ảo thanh giả: ảo thanh giả là loại thường gặp nhất trong các ảo giác giả. Người bệnh nghe tiếng nói trong đầu không rõ là của đàn ông hay đàn bà, của người lạ hay quen. Người bệnh nghe như tư duy mình vang thành tiếng và từ đó cho là tư duy bị bộc lộ hay tư duy bị đánh cắp. Tâm trạng người bệnh sắp làm gì, nói gì, đọc gì, nghĩ gì thì tiếng nói bên trong đã nói lên trước.
Ảo thanh giả là một hội chứng của tâm thần tự động (mental automatision):

Cụ thể: các tử tù luôn ám ảnh về cái chết, nên mỗi khi có sự sột soạt khua ổ khoá lúc đêm khuya, họ sẽ nghĩ là mình sắp bị mang ra trường bắn.
Cụ thể: các tù nhân sau khi bị thẩm vấn, bị kết cung, nhất là khi nghe cáo trạng, sau đó họ bị ám ảnh liên tục về ngày ra toà.
Cụ thể: vì bị cưỡng bức lao động trên những cánh đồng, nên hằng đêm các tù nhân luôn bị ám ảnh về tiếng kẻng, đó là tiếng báo hiệu của sự trả thù, bị đánh đập trên hiện trường và tháo mồ hôi đến kiệt sức trong niềm sợ hãi trước sự sống còn.

Ø      Ảo thị giác: ảo thị giác cũng giống như tất cả các ảo giác giả khác. Người bệnh nói lên những hình ảnh giống như biểu tượng xuất hiện ngoài ý muốn, những cảnh tượng được gợi ra dưới dạng hình ảnh đơn độc hoặc phong phú giống như trên sân khấu.
            Ảo thị giả có thể không có hình thù, hoặc có hình thù rõ rệt, không có màu sắc hoặc có màu sắc sinh động. Hiện tượng quái khách như người lạ nhập vào cũng là một ảo thị giả.

            Cụ thể: hiện tượng nầy rất phổ biến trong tù do thiếu thốn vật chất, hoặc vì sự ức chế về tinh thần, nên dẫn đến huyễn hoặc. Các tù nhân sống trong vai người khác để thoả mãn những dục vọng. Đây quả là một hiện tượng của sự không ổn định về thần kinh vậy.
            Cụ thể: tù nhân Nguễn văn Lộc, luôn mặc áo quần màu đỏ và ngày nào cũng phát biểu việc gặp các chư tiên của mình; tù nhân Nguyễn văn Tháo đêm nào cũng tổ chức cầu cơ và gặp thánh Năm, để rồi ban phát chức tước cho các tù nhân dựa vào việc nhân danh ông thánh. Tù nhân Nguyễn văn Tiên luôn nhân danh hình ảnh tiên thánh để chữa bệnh cho các tù nhân khác: thánh bảo uống thứ nầy, tiên bảo uống thứ kia mới lành bệnh.v.v .

Ø      Ảo giác khứu giác, vị giác, xúc giác nội tạng: khác với ảo giác thật là có tính chất làm sẵn, bị cưỡng bức người bệnh than phiền là do sự chi phối từ bên ngoài mà cảm thấy những mùi những vị khó chịu trong thức ăn, nước uống, các loài vật lạ và sâu bọ trong người.

            Cụ thể: các tù nhân thường có cảm giác môi trường trại giam nào cũng nhơ nhớp, đầy mùi tanh hôi. Thế nhưng họ quên mất rằng nơi phòng làm việc của các Giám thị trại giam, nó không khác gì cơ ngơi sang trọng của các lãnh chúa thời hiện đại.                                Cụ thể: về phía cán bộ trại giam luôn có thành kiến: tù là dơ dáy, tội lỗi, xấu xa... Thật vậy, môi trường trại giam nào cũng rất ẩm thấp, không đủ điều kiện vệ sinh, nhưng các tù nhân bao giờ cũng cố gắng vượt qua những gì bẩn thỉu nhất để sinh tồn.
            Cụ thể: các tù nhân thì cho rằng cán bộ trại giam xuất thân từ rừng rú, loài quỷ đỏ, nên lúc nào cũng ăn nói thô tục, quan hệ tình dục bừa bãi, các điều trên họ chứng kiến hằng ngày... nó như một thứ man dã, xấu xa vô cùng dưới mắt các tù nhân: những kẻ gọi là đi chuyển biến người khác đáng được cần phải cải tạo.

Ø      Ảo giác vận động: người bệnh có cảm giác là những động tác nào đó không phải do ý muốn của mình mà do bị cưỡng bức, bị chi phối từ bên ngoài. Họ đang ngồi yên nhưng có cảm giác như ai đó làm tay chân họ vận động.

            Cụ thể: tù nhân Nguyễn văn Lô, một tù nhân đã ngoài 60, đứng đầu một tổ chức chống cộng, gia đình thăm nuôi thường xuyên. Thế nhưng trong một lần kiểm điểm về tội ăn cắp thức ăn của các tù nhân khác, ông bảo: lúc đó như có ai kéo tay và bắt ông làm như thế. Nói đến đó xong ông ngã xuống và ngất xỉu.
            Cụ thể: tù nhân Nguyễn văn Lân, nguyên là một sĩ quan, trong cuộc sống hằng ngày rất chuẩn mực, song thường lén lút vào nhà kho ăn cắp gạo và nhai sống tại chỗ. Khi bị kiểm điểm, tù nhân nầy bảo: có ai đó thường xuyên thúc dục tôi vào nhà kho và bắt tôi phải làm như thế, lúc đó tôi không còn biết mình là ai nữa.
            Cụ thể: Trưởng trại Nguyễn văn Bảy, vào lúc giữa đêm khuya thường chạy như tập thể dục xung quanh khắp trại giam, có khi chỉ mặc quần đùi áo cánh, song ông bảo: như có ai cảnh giác ông sắp có tù nhân trốn trại và chúng đang ẩn nấp đâu đây.

Ø     Ảo giác giả qua ngôn ngữ: do sự chi phối ở bên ngoài, buộc lưỡi người bệnh phải cử động và cơ quan phát âm của họ phát ra những câu ngoài ý muốn của họ .

   Cụ thể: Trưởng trại:Nguyễn văn Bảy
                          Trưởng trại:Nguyễn văn  Yên
                          Trưởng trại:Nguyễn văn  Bàng
                          Trưởng trại Nguyễn văn Nhu
                           Phó Trưởng trại:Lại văn Hùng
            Các Trưởng trại trên miệng luôn lầm bầm, nhiều lúc họ nói những câu để chứng tỏ uy quyền mà có thể chình họ cũng không hiểu nội dung của câu nói mang ý nghĩa gì như:
            -Ta thắng địch thua, Đế quốc Mỹ bỏ chạy... ( trong khi câu chuyện ấy đã qua cả chục năm rồi ).
            -Năm nay có nhiều sự kiện lớn... (lúc nào, năm nào cũng với những câu nói đó và với hàm ý sẽ cho ăn nhiều).
            -Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến, bách thắng muôn năm... (trong khi cộng sản Liên xô và Đông âu đã bị sụp đổ).
            -Thậm chí những lời chửi thề rất tục tĩu luôn lập lại trên môi miệng của các cán bộ và giám thị.

            Cụ thể các tù nhân:
            -Nguyễn văn Lịch
            -Nguyễn văn Chức
            -Nguyễn  Lên
            -Nguyễn văn Đệ
            -Nguyễn văn Lượng

            Các tù nhân trên khi gặp ai, họ cũng hay nói những chuyện vu vơ để làm quà, thường nội dung câu chuyện không đâu vào đâu, tiền hậu bất nhất. Có người lại chửi thề liên tục mà có khi họ cũng biết tại sao lại thích dùng những từ thô tục như thế thường xuyên là điều không tốt.

Ø      Ảo giác lúc giả thức, giả ngủ (hypnagogique hallucination).
            Là những phát minh không theo ý muốn xuất hiện trước khi ngủ. Những hình ảnh nầy hết sức đa dạng: những trang hoàng rực rỡ, những sinh vật kỳ quái, những phong cảnh... Vì những hình ảnh thuộc loại nầy không giống các đối tượng thực tế, nên chúng gần gũi với các ảo giác giả hơn.

            Cụ thể: các tù nhân bị kiên giam, hay nằm kỷ luật do mất ngủ, có khi ngủ ban ngày và thức suốt đêm, nên hầu hết mắc chứng nầy, cũng có khi từ những hư ảo, họ xây nên những toà lâu đài tưởng tượng, hay từ những phác họa tưởng tượng của tư duy đến hoang tưởng, rồi thiếp đi trong giấc ngủ.
            Cụ thể: các giáo chủ tự xưng đều có sự ảo giác nầy trong giấc ngủ, vì họ thường kể lại như sau: đêm qua câu chuyện đã xảy ra như thế nầy, thế khác... mà thường là những cuộc gặp với những nhân vật thuộc thế giới bên kia...

Ø      Ảo giác chức năng (functional hallucination):
            Chỉ xuất hiện khi có kích thích thực tế bên ngoài và tồn tại song song với kích thích đó cho đến khi nó hết tác động.
            Ví dụ:
            -Đồng thời với tiếng “Ban đến”, nghĩa là phó, trưởng trại giam đang đến và nó cũng đồng thời với những tiếng chửi rủa sắp xảy ra.
            -Đồng thời với tiếng kẻng điểm danh là tiếng quát mắng, hối thúc, chuẩn bị vào chuồng (tức vào nhà giam riêng và thật kín lại vào ban đêm).
            -Đồng thời với thông báo có lệnh họp, nghĩa là sẽ có kiểm điểm, xâu xé nhau.

            Loại ảo thanh chức năng nầy chỉ mất đi khi những tiếng động thật ngừng lại. Điểm xuất phát của ảo thanh chức năng cũng là điểm xuất phát của âm thanh bên ngoài. Loại ảo giác nầy phân biệt với ảo giác thật là chỗ chúng chỉ xuất hiện khi có tác nhân kích thích thực tế và cũng khác với ảo tưởng ở chỗ sự phản ảnh đối tượng có thật trong ảo giác chức năng không hoà lẫn với các biểu tượng bệnh tật vốn đã tồn tại song song với chúng trong tri giác.

Ø      Cảm giác biến hình:(metamorphopsia)
Là cảm giác sai lầm về độ lớn hình dáng các vật, các khoảng cách trong không gian. Những vật chung quanh đối với người bệnh hình như thu nhỏ lại -micropsia, hoặc ngược lại to ra, đôi khi có kích thích khổng lồ -macropsia. Rối loạn nầy thường kèm theo loạn cảm giác về khoảng cách -porropsia. Khoảng cách dường như rút ngắn, mọi vật xích lại gần nhau, hoặc khoảng cách dài ra, vật cách xa nhau, những con đường nhỏ trong trại giam như dài vô tận, các toà nhà cao lên đến chọc trời.
Cảm giác biến hình khác với ảo giác vì ở đây chỉ là một sự phản ảnh lệch lạc các sự vật có thật trong thực tế, cũng khác với ảo tưởng vì bản chất của đối tượng không bị biến đổi hoàn toàn mà chỉ thay đổi ở một vài khía cạnh thuộc tính mà thôi.

Ø      Rối loạn sơ đồ thân thể (double of body schema):
Là tri giác sai lầm về hình thể và kích thước của thân thể mình. Rối loạn nầy biểu hiện ở chỗ tự nhiên người bệnh có cảm giác đau khổ là thân thể mình lớn lên và dài ra, không nằm vừa giường, cao tới trần nhà hay ngược lại bé nhỏ đi và ngắn lại, đôi khi cảm thấy tứ chi xê dịch tách ra khỏi cơ thể, hoặc thân thể mình bị chia làm đôi.
Rối loạn sơ đồ thân thể thường xuất hiện với cảm giác biến hình. Có thể gặp trong loạn tâm thần do tổn thương thực thể não bộ, bệnh tâm thần phân liệt cũng như trong các bệnh tâm thần thực nghiệm.

Cụ thể: các tù nhân mắc chứng xơ gan cổ trướng, hay mắc chứng “sưng đầu voi” ở chân, họ thường có sự rối loạn nầy. Họ hay kể về các giấc mơ trong cơ thể mình có sự biến dạng kỳ lạ.
Cụ thể: các tù nhân trốn trại khi bị bắt, họ bị đánh đập đến gần chết, những tù nhân nào còn sống sót thường hay mang chứng biến hình về cơ thể mình: Họ có cảm giác chung cơ thể họ đã bị chia ra thành từng mảnh, rời xa khắp tứ chi, và thường xuyên cảm thấy đau đớn vô cùng.
-Tù nhân Trần văn Hùng, án mười lăm năm, tuổi gần ba mươi, sau một thời gian lao cải anh bị xơ gan, bụng anh bị to lên, da vàng, mắt vàng... anh hay kể lại những giấc mơ kỳ lạ trong đêm, cũng như những lúc anh thiếp đi trong mệt mỏi: nào cơ thể bị băm ra từng mảnh, bị tháo ra từng phần... cả cái đầu cũng bị rụng xuống.