MẸ KHÔNG CẦN VÀNG
Hành tinh nầy là một mái nhà chung, song con người cứ trốn chạy hết nơi nầy đến nơi khác. Nhìn từ ngoài vũ trụ nó thật bé nhỏ, và cứ bất an ở chỗ nầy lại đào thoát đến nơi kia. Có một tâm lý hoảng loạn bao trùm trên đất nước nầy cùng nhiều dân tộc khác, trong sự linh cảm hoàn toàn là cảm nghiệm: họ dự đoán rằng chế độ mới nghiệt ngã hơn khiến các công dân hoảng hốt… Chưa có một dân tộc nào các công dân sợ hãi các nhà lãnh đạo của mình như dân tộc Việt Nam… Chưa có cuộc di cư nào đến cả triệu người và hơn phân nửa bỏ mình trên biển cả.
Một dân tộc luôn đi trên tiền đề: Sự khởi đầu luôn từ sự kết thúc, trong cái chết để mưu tìm sự sống, trong thất vọng luôn tìm ánh sáng hy vọng… và dân tộc đó từng trải qua các triều đại từ dòng tộc nầy đến các dòng tộc khác, nhưng rất khó tìm ra các vị vua minh triết… Nên sự khởi đầu mới nơi đây luôn thường là cái chết, sự đau thương, mất mát.
Trong sự hoảng loạn của người dân Sài Gòn trước việc khủng bố liên tục của chính quyền mới, Thiện Nam có quyết định ở lại Việt Nam cùng bao người bất hạnh khác ít ra là ghi lại tiếng nói cuối cùng nơi mỗi con người trên một đất nước không tù trong cũng tù ngoài. Trong nhiều khuynh hướng khác nhau để chọn lựa cách sống phù hợp dưới chế độ cộng sản như Giáo sư triết học Lê Tôn Nghiêm phát biểu ngay trên giảng đường Đại học Văn Khoa Sài Gòn khi quân Việt cộng tiến vào đến Xuân Lộc: “ở bầu thì tròn ở ống thì dài, vậy thôi”. Ông rất mến Thiện Nam và vài tháng sau đó khi gặp chàng, ông nói: -Nhiều “đứa” cả giáo sư ngay ở Đại học Văn Khoa, Vạn Hạnh… cùng sinh viên, chúng nó “bầu và tròn” quá nhanh, còn mình nói song không làm. Ông cũng đã có kế hoạch đi vượt biển với Thiện Nam nhưng không thành. Giáo sư Tiến sĩ ngữ học Phạm Hữu Lai, về sau là Linh mục Dòng Tên khuyên chàng nên gia nhập đoàn thanh niên cộng sản để có nhiều cơ hội tương lai… Trong nhiều nẻo đường mà một đại diện sinh viên có thể có ảnh hưởng đến nhiều bạn trẻ khác, chính Thiện Nam đã cùng một Linh mục học giả Dòng Tên khác âm thầm hoạt động cho các quyền cơ bản của con người và đưa đạo Công giáo Việt Nam thành một đạo nhập thế thật sự. Mỗi Chúa Nhật đều có Thánh lễ riêng tại Trung Tâm Đắc Lộ Dòng Tên Việt Nam và sau đó là các buổi hội thảo gọi là agabê - buổi điểm tâm có toạ đàm về một đề tài nào đó, nhưng không lâu sau những tư tưởng về các quyền con người qua đạo nhập thế đã bị lọt vào tầm ngắm của công an và chỉ chờ có nguyên cớ là tất cả bị bắt. Thiện Nam đã nhận ra điều này khi công an chìm hiện diện rất nhiều trong các thánh lễ cũng như trong các buổi toạ đàm, chàng đã linh cảm được điều này và bắt đầu tìm hiểu các tổ chức vượt biển như một cao trào bỏ nước ra đi để tránh khỏi bị bắt chắc chắn không tránh khỏi với những người luôn chủ trương bắt lầm hơn bỏ sót.
Thật vậy, chẳng bao lâu sau ngày chàng lên đường các Linh mục Dòng Tên tại Việt Nam đều bị bắt qua một nguyên cớ nhỏ*: tất cả các vị đều bị bắt oan và xử án oan, trừ Linh mục học giả Lê Thanh Quế nhưng Ngài đã cùng Thiện Nam cũng chỉ đấu tranh mang lại các quyền cơ bản của con người dưới hình thức bất bạo động. Song với Việt cộng, nghĩa là tóm sạch, dọn sạch cái đầu não của Kitô giáo Việt Nam. Trong số các Linh mục bị bắt có Bề Trên Nguyễn Công Đoan, có lẽ là Bề trên trẻ nhất vào năm ấy chỉ mới ba mươi hai tuổi, ông trở về Việt nam như sự hy sinh cao cả chỉ có vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ, trong Thánh lễ bàn giao chức Bề Trên giữa Lm Sesto Quercetti người Ý, tức Hoàng Văn Lục tên Việt Nam. Thật cảm động, nhất là mọi người được nghe lại những lời tiễn biệt từ thành Rome để đưa vị Linh mục trẻ nhiều triển vọng lèo lái Giáo Hội Công giáo Việt Nam này về nước, nhưng bề dày của Ngài có lẽ không đủ so với tường đã rêu phong đầy bá đạo mà tính chất của những gì nhị nguyên từ Phương Tây không thể nào hiểu nổi với sự ẩn tàng đầy bá đạo lẫn trong nhất nguyên có phụ đạo của nhị nguyên.
Nhưng dù sao Giáo Hội Công giáo Việt nam cũng đã có được cây gậy dẫn đường vào những năm tám mươi trước khi Ngài vào tù. Từ tri đến hành quả là bài toán nan giải. Cuộc sống trong tù như sự thể hiện qua “Hiến chương” do chính mình soạn thảo, nhiều khi có những cái mình nói lên được mà làm không được và hình ảnh của các Linh mục Việt Nam ngày nay là một hệ quả tất yếu của những sai lầm từ Rome khi đặt những quyết định còn trên sự chi phối các quyền lợi chính trị nhất là quyền lợi ấy thuộc một Hồng Y có quyền lợi gắn liền không trên giá trị của nhân loại nhưng trên sự hẹp hòi của dân tộc Ngài. Và chuyện này sẽ còn mãi như chuyện trái đất là vuông.
Trong gần một thập kỷ sau ngày thống nhất, những chuyến tàu vượt biển vẫn tiếp tục ra khơi. Họ đi tìm sự an cư trên miền đất hứa sao cho con người có quyền hy vọng, và trong khả năng giới hạn của loài thụ tạo, họ được làm những gì mình muốn mà không tác hại đến tha nhân, còn ở đây cho dù họ có xin vâng cũng không được. Họ xác tín điều đó với hy vọng bất cứ nơi đến là đâu cũng có thể mang lại chút tình nhân ái của đồng loại, mà điều đó rất khó tìm được trên quê hương mình.
Khi con người trong xã hội với cái gọi là: không còn chó sói với người, nhưng con người với con người thì thật kinh hoàng hơn, một khi cái cốt quỉ trong mỗi cá nhân được hợp thức hoá thành chủ trương, chính sách thì chỉ ai đó có “đoạn trường... qua cầu mới hay”.
Chủ trương tự do tôn giáo và tự do không tôn giáo, cái tự do không tôn giáo đó mới là điều tệ hại, nó có nghĩa là con người có quyền đi ngược lại các giá trị phổ quát mà vốn tôn giáo theo nguyên ngữ - relege - là sự liên đới giữa con người trên căn để những giá trị chung về Chân Thiện Mỹ. Và cái không tôn giáo nó có quyền phá đi các giá trị đạo đức chung, cũng như được quyền xây dựng trên một bè nhóm khuynh hướng… Chính trên nền tảng tinh thần ấy không còn nữa mà các công dân mất niềm tin, hoảng loạn… Việc mất của cải tài sản qua các chiến dịch gọi là đánh tư sản, thậm chí mất cả người thân qua các đợt tập trung cải tạo, con người có thể chịu đựng và tìm lại được, nhưng chính yếu tố con người không còn kỳ vọng ở mai hậu mà tôn giáo là đường đến hy vọng… không còn nữa.
Lão Chu với tấm lòng hào hiệp đã đưa cậu con lớn của người bạn năm xưa lên đường ra nước ngoài. Dù vậy người bạn cũ nầy cũng lo toan mọi chi phí, chỉ mong sao sự ra đi được tuyệt đối bí mật và an toàn, người con cả ra đi mang theo vàng và tiền bạc.
Họ cùng đến nhà một người thân tín của lão Chu, đó là một nhân viên cấp dưới của lão trước đây, khi còn quyền lực. Và nay nhân vật nầy trở thành an ninh khu vực thuộc một vùng trên bán đảo, nhờ các thành tích của gia đình có nhiều người tham gia trong chế độ mới.
Ông an ninh gặp lão Chu đầy sự mừng rỡ, bản thân đã từng được lão cứu mạng nhiều lần do các mối liên hệ với thân nhân ở phe miền Bắc. Câu nói đầu tiên khi gặp nhau sau vài năm xa cách trong một hoàn cảnh đặc biệt của đất nước với phong trào vượt biển lên cao, nhất là với tư cách một người có uy quyền dù ở nơi góc biển, ông Tam nói: Bác cần lên đường không? Ông Chu mỉm cười… Riêng mụ vợ chen vào: ... mang theo bao nhiêu vàng, sắp có chuyến đi rồi, chúng tôi sẽ thu xếp ngay.
Đêm hôm đó, trong trang phục hóa trang của quân du kích, họ ra thăm bến bãi để nắm tình hình, các cư dân đã quen với hình ảnh ông Tam đi tuần tra, nên không ai để ý. Họ vào một căn nhà và lớn tiếng đòi xét hộ khẩu, xem có ai là người lạ đến cư trú bất hợp pháp. Các ngư dân ở làng nầy đã quen chuyện xét nhà từ các cao trào vượt biển, nên không ai lo sợ, có chăng nếu gia đình nào đang chứa các thuyền nhân, họ chuẩn bị tiền để hối lộ. Khu nhà họ vào đêm nay là của một chủ ghe, và tất cả đang thương lượng.
Hơn ai hết, các viên chức công an địa phương biết rất rõ về các chủ ghe trong vùng, ngay cả việc chuyến nào sẽ lên đường ra đi trước sau. Và cứ mỗi chuyến như vậy họ thường nhét thêm vài chỗ vì đã có công tạo sự an toàn cho chuyến đi lúc rời bến.
Nhân dịp mừng sinh mhật Lãnh tụ tối cao, bây giờ cũng là mùa tháng ba “bà già đi biển cũng tốt” theo lời truyền trong dân gian, viên trưởng công an đã thết tiệc liên hoan suốt đêm và thế là các du kích quân đều say, trên bến bãi của vùng bán đảo đang thật sự sôi động, nhiều ghe thuyền đã tổ chức sẵn sàng và rỉ tai nhau trước đó để chuẩn bị đêm hôm ấy cùng ăn hôi. Từ các bãi cát, người ta bắt đầu vội vã đào xới lên các hầm chứa xăng dầu, thực phẩm, thuốc men… được chôn sâu dưới lòng đất. Các toán thuyền nhân ẩn nấp ở các khu nhà ven biển vội vã xô đẩy nhau lên ghe một cách hỗn loạn. Hầu hết các chủ ghe đã bố trí gia đình họ có mặt đầy đủ trên thuyền, chỉ có khách là thiệt thòi, ghe nào trong chốc lát cũng đầy ắp, họ đành phải nhổ neo… nhiều người bị bỏ lại.
Tiếng khóc than, tiếng kêu cứu của những người đã đóng vàng bạc nhưng không kịp lên ghe… tiếng hô hào lấy lại trật tự của ban tổ chức, tất cả trong hoảng hốt và mất trật tự vô cùng. Tiếng la ó của những kẻ ăn hôi và nhiều cảnh xót thương xảy ra trong những đêm chạy loạn tìm đường ra khỏi đất nước trên bờ biển nầy. Tiếng khóc nấc của các cháu bé trên tay của những người ở lại, sóng cát như muốn lôi họ về phía thuyền đã dần xa khơi. Trong mọi thứ âm thanh hỗn tạp người ta vẫn còn nghe rõ các tiếng vọng thật cao xa:
- Mẹ ở lại nuôi cháu… Nó còn nhỏ quá không thể, không thể… lên đường !
Có tiếng đáp lại cùng tiếng khóc trong vô vọng mỗi lúc một khàn hơn và nhỏ dần: - Mẹ không cần vàng, Mẹ không cần vàng.
Trong số những người bị bỏ lại có Thiện Nam, con một người bạn lão Chu, anh đã nhường cho phụ nữ và trẻ em lên trước, nên lúc ghe rời bến đã bị bỏ lại, cho dù đã đóng đủ vàng bạc. Những lời cầu nguyện, niệm Phật, khóc than xin được thứ tha, các thứ âm thanh như của một buổi chiều cầu kinh cuối cùng nào đó… pha lẫn tiếng: mẹ, mẹ không cần gì hết, mẹ muốn gần các con… dù có cùng chết.
Sáng sớm hôm sau, các ngư dân vẫn còn thấy người đàn bà đáng thương ấy hãy còn lảng vảng trên vùng bến bãi đêm qua, nhiều tiếng thúc giục quanh bà lão của những người ở đây vốn quá quen với cảnh nầy: Hãy nhanh lên kẻo bị bắt đấy… Hỡi bà kia… Hãy nhanh lên và đi khỏi nơi nầy.
**