ĐẠI HỌC
NHÂN QUYỀN VIỆT NAM
 
 
 
 


 


BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 2 


THẾ GIAN NHƯ THỊ

 

Những đứa trẻ nhảy cò cò, chúng mãi chơi, người đàn ông trạc tuổi lục tuần bấm chuông đã nhiều lần nhưng chúng vẫn không vội trả lời… Ông ta kiên nhẫn đợi chờ và bấm chuông lần nữa thật dài, chúng mới cất tiếng đáp lại: Ba mẹ đều đi vắng… Bố đi làm rẫy, mẹ ra chợ trời.
Cái khoảng sân rộng của ngôi biệt thự nhỏ sang trọng, không ai nghĩ điều đó đúng. Chân đá nhẹ trên những viên sỏi trắng xám, miệng lầm bầm: cái thời trẻ con cũng biết nói láo, rồi ra về ngoài lời nhắn: Có bác Chu là chỗ bạn thân với ba mẹ con từ các trại tập trung trở về đến thăm và sẽ hẹn gặp lại vào ngày...
Đến ngày hẹn, sau khi quan sát thật kỹ và nhận ra đúng là khách quen, cánh cửa mới từ từ mở, hai người bạn cũ gặp nhau thật mừng qua ánh mắt, song cả hai vẫn chưa nói với nhau một lời nào cho đến khi họ vào đến phòng khách, các cánh cửa đóng kín cẩn thận, họ mới bắt đầu câu chuyện.
Cả hai vẫn còn nghĩ ngợi… căn phòng này trước đây các bạn hữu thường gặp nhau, song bây giờ mọi thứ bắt đầu phủ một lớp bụi mỏng, các bức rèm nhiều bụi hơn… những cánh hoa uất kim hương đã khô từ lâu nhưng sắc lại, các thứ dường như chưa muốn vội lụi tàn.
- Bác từ các trại tập trung trở về đã lâu chưa? Người bạn hỏi.
- Tôi mới về đang bị quản chế, không được phép đi đâu hết, tôi tìm cách đến thăm Bác rồi về ngay. Lão Chu đáp.
- Các trại tập trung bác đã qua như thế nào...
- À... nó giống như một xã hội thu nhỏ: Sống và Chết, Tự do và Khát vọng, miếng cơm manh áo, tranh giành và cấu xé lẫn nhau... bình thường thì như thế nhưng lúc chia cơm mới thấy con người là thế nào, mọi con mắt đều dõi theo từng hạt cơm, có người từng là viên chức cao cấp cũng yêu cầu phải dùng đến cân tiểu ly lúc chia chác mới công bình... đánh nhau, tiếp tục đánh nhau lịch sử mà… Lão Chu cười, và tình đồng loại, đùm bọc nhau cũng có, nhưng để ăn được chiếc bánh bột khoai mì đen, thường gọi là bánh xe “lịch sử”, các tù nhân khốn cùng phải xách một xô nước hoặc một chầu đấm bóp cho những người khá hơn. Nó là một xã hội thu nhỏ, nhưng là một xã hội khác thường, mọi thứ xảy ra không bình thường - “manger, manger pour manger”, hầu như đó là yếu tố chính trong các thuộc tính của con người. Tôi và nhiều bạn tù khác đã chứng kiến nhiều tu sĩ ngã người bò sạp xuống đất để được ăn cỏ non và uống nước mương rãnh… Tôi đã thấy các tử tội và những người bị giam giữ để điều tra vì quá đói đã phải ăn dần hết các chiếc chăn đắp, áo quần… và ai cũng có cảm giác mình đang nhai cái gì rất ngọt… Các tù nhân hết thảy đều rơi vào tình huống của hội chứng thèm thuồng và họ luôn nói về cái ăn… vì cơ thể đang có nhu cầu về mọi thứ.     
Còn về khía cạnh tinh thần, họ biết chắc dù có muốn cũng không được gì, ngoài những việc làm để tự an ủi mình. Họ trông chờ người Mỹ, nhưng rồi ra người Mỹ sẽ không bao giờ trở lại như trước… Họ trông người Pháp “mẫu quốc xưa kia của họ”, nhưng Cha ông họ đã để lại một gia tài có thể cảm nghiệm được: không ai nói hay bằng người Pháp… Vậy chỉ còn trông chờ vào Cao ủy nhân quyền Liên Hợp Quốc, nhưng mỗi lần có tin Cao ủy chuẩn bị đến là các tù nhân khổ sở hơn ai hết: họ bị mang đi cất giấu những nơi mà các tù nhân vẫn thường dí dỏm: giấu như mèo giấu phân của nó... nào là kẻ bị kiên giam, doạ nạt và tất nhiên cũng có kẻ được xoa dịu để sắp xếp cho được gặp Cao ủy. Trong khoảng thời gian có tin Cao ủy đến, đó là đại họa cho các tù nhân vốn muốn sống an bình một chút trong chuỗi ngày lao cải. Song Cao ủy đến, Cao ủy đi... khiến nhiều tù nhân phải chết ít ra là vì đau tim hay bịnh ngặt nghèo trong lúc bị cất giấu.
- Thế Bác đã sống sót và vượt qua được nhờ làm sao?
- Tôi luôn tập thể dục, ăn kiêng, chỉ ăn thức chín, các tù nhân chết nhiều hoặc kiệt sức đều khởi đầu bằng bệnh đường ruột… có thể nói mọi sự khởi đi từ cái miệng.
-   Nghe nói nhiều kẻ ăn thịt người trên các chuyến vượt biển, Bác có gặp họ không?
- Có, họ cũng bình thường như chúng ta, và cả những kẻ hiếp dâm giết người, cướp của nữa… những con người ấy vào tù, tôi nói có vài người, cuộc sống rất hiền hòa, nhưng chúng có nét chung: tránh tiếp xúc thường xuyên, rất lạnh lùng. Tôi sống chung với mấy người từng ăn thịt đồng loại trên biển khi cạn kiệt lương thực… sao mắt người nào cũng đỏ.
- Thế còn bác gái và các cháu như thế nào?
- Tất cả như hoàn cảnh của nhiều gia đình các viên chức chế độ miền Nam, đều bị đưa lên vùng kinh tế mới, với túp lều xiêu vẹo cùng mấy tấm lá che chung quanh. Còn nhà cửa tại thành phố bị tịch thu, bị cưỡng bức ra khỏi nhà và bị đẩy lên xe… Hiện nay cả khu kinh tế mới ấy, khoai mì cũng không có đủ ăn… Tôi thấy chúng nó đói nằm soải ra, đến củ chuối mới trồng cũng đào lên và… hết thảy đều say, say với đủ mọi của ăn lạ... Còn các cháu lớn của anh như thế nào? Lão Chu hỏi.
- Chúng không được vào cũng như tiếp tục theo học đại học vì lý lịch… nhà tôi cũng không dạy học nữa, phải ra chợ trời để bán tháo các vật dụng trong nhà mà chi dùng hằng ngày, rất may tôi chưa vào tù vì đã nghỉ hưu trước khi đất nước thống nhất nhưng có tin sẽ có lệnh tái tập trung các viên chức chế độ cũ.
- Chúng ta đang đứng trên tảng đá nào đây? Lão Chu   nói.
- Không có hòn đá nào trên hòn đá nào cả, thời nào cũng thế, chỉ có hòn đá được ném đi mới có giá trị mà thôi… Lão tiếp.
-  Đúng tất cả đều lưu chảy…
- Và trên dòng sông này, Lão Chu liếc mắt dò xem thái độ của người bạn, chúng ta chỉ còn biết xuôi thuyền ra biển, trăm kế không bằng: dĩ đào vi thượng sách... A, tôi có người thân sau hai mươi năm xa cách vì đất nước chia đôi, lúc gặp lại khi hỏi thăm nhau về sức khoẻ, người vợ xanh xao, anh chồng hơi khá hơn và chị ấy bảo: anh ấy nhờ mấy cái thai nhi của tôi nên mới được như thế. Câu chuyện thật kinh hoàng, nhưng cả vợ và chồng thuật lại nhiều lần như một nhu cầu bình thường vì nó là những gì đều có thể xảy ra dưới chế độ
XHCN... Con người ăn thịt đồng loại và ăn cả chính con cái mình như một liều thuốc bổ.
Lão Chu chào từ biệt họ nói nhỏ với nhau những gì đó, rồi chia tay, người ta còn nghe rõ tiếng lão Chu: Thế gian như thị, thế gian như thị.

**