Đồi Cù
trái tim của Đà Lạt
Mỗi ngày khi bách bộ trên những con đường của thành phố nhỏ, chàng càng hòa vào nhịp với trái tim, hơi thở của quê xứ anh đào. Đã một tuần trôi qua dọc quanh bờ hồ Xuân Hương từ mờ sáng không còn thấy nhiều sương mù xuất hiện, những chiếc xe con lạng qua lại để rước khách khi thành phố còn đang chìm trong giấc ngủ, ngoại trừ các học sinh phải đến trường sớm, còn hầu như thành phố chỉ trở mình sau chín giờ. Những công nhân vệ sinh môi trường có lẽ là những người làm việc đầu tiên trên các góc đường của một thành phố giờ đây thật ẩm thấp và nhơ nhớp. Thiện Nam có dịp vào thăm khu trưng bày của Sở Văn hoá Thông tin, ngay tại trung tâm Hoà Bình gồm các hình ảnh về cao nguyên cũng như mô hình cho sự phát triển tương lai thành phố du lịch... thế nhưng vòng đến các góc của phòng trưng bày nó thật ẩm thối với tường quanh hoen ố, có nước rỉ thấm, không khí thật lạnh và có mùi khai nữa, những ai mới đến cũng muốn thoáng tạt vào để biết về xứ sương mù nhưng rồi vì quá nhiều mù sương che phủ nên chỉ muốn thoát cho nhanh dù là nơi trung tâm luôn đập ngay vào mắt của du khách.
Dừng chân lại một tí rồi xuống đồi, ở Đà Lạt thì chỉ có lên đồi và xuống dốc có lẽ như vậy, vòng qua khu Ánh Sáng để tìm lại cố nhân xưa với những hàng quán bún bò, bánh nậm, bánh khoái nặng tình xứ Huế. Gọi là ấp Ánh Sáng nhưng giờ đây thật sự là chỗ hỗn mang, nhơ nhớp quá mức và các món đặc sản cũng không còn hương vị như ngày nào. Đúng vậy các cư dân xưa kia của thành phố hầu như đã di chuyển đi phương khác, các du dân mới theo chàng tìm hiểu họ thuộc thành phần cách mạng từ chiến khu cùng gia đình nay định cư ào ạt đến đây. Phần lớn trong mỗi gia đình đều có ít ra một người làm việc trong bộ máy nhà nước, những người còn lại đổ ra buôn bán, người xưa hoặc đã di tản, hay bị buộc lên vùng kinh tế mới, số nào còn lại họ về vườn để làm mương rẫy. Đúng là “hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”.
Nhà thủy tạ, những ai khi đặt chân đến Đà Lạt cũng thích đến nơi này để chụp hình, trước mặt là khách sạn năm sao Palace, bề ngoài nghe kêu đến thế nhưng khi các bạn của Thiện Nam trú ngụ tại đây, một nơi gọi là sang trọng nhất của Đà Lạt người nào cũng bị muỗi đốt, thậm chí phải mời bác sĩ đến để khám nghiệm xem bị dị ứng về nguyên nhân nào. Tất cả đều được xây dựng từ thời người Pháp và nay cách kiến trúc vẫn giữ nguyên, rất may không như Dinh Độc lập có rất nhiều hàng quán xây thêm để gọi là cải thiện trùng tu bảo quản Dinh... Nếu quan sát kỹ những cây thông đứng thẳng giữa trời mà reo cũng đầy bịnh ở thân cây, nhiều cây chết dần và bị đốn hạ, khách thăm quan có thể nhận ra những gốc cây còn chưa hết dấu vết cùng những khúc thông chưa vội dọn... Đối diện nhà thuỷ tạ nhà Hướng đạo màu xanh vẫn còn đó trong rêu phong bạc màu. Tòa Giám mục kín đáo uy nghiêm mà người ta chỉ có thể nghe được từ xa vì thật sự các con chiên nơi này rất ít biết các thông tin về chủ chăn của họ, ngoại trừ việc hành lễ: giữ đạo là đi lễ nghe cha giảng. Tiếng nói từ xa của vị chủ chăn của họ là bênh vực, khen ngợi đảng Cộng sản cầm quyền và cả các trợ lý mà trong số đó hầu như “Con xin vâng”. Vị Giám mục cai quản Tông toà sau ngày đất nước thống nhất này về sau chuyển về giáo phận Thanh Hoá để gần Hà Nội hơn, song “mưu sự tại nhân thành sự tại Thiên”, ông đã mất không lâu khi chưa lên Hà Nội... Nhà Thuỷ Tạ một nơi trầm lắng yên tĩnh, ngồi nơi đây với một tách cà phê đen, người ta có thể quan sát thấy những du khách đang ngồi đạp pê đa lô trên du thuyền tới lui vòng quanh bờ hồ, những con thuyền biết rõ thời gian mình sẽ phải cập bờ và biết sẽ về ngay bến cũ, nhưng tâm hồn của những du khách bên làn khói thuốc dày đặc nơi nhà hàng Thủy Tạ này như sương mai lan tỏa bốc lên từ lòng hồ: con người có thể hiểu nhau được những gì, có thể tha thứ cho nhau đến mức nào và có thể có sự khởi đầu trên đường mới đến hy vọng mà thật sự không ai biết sẽ về đâu. Tất cả chỉ là trong giới hạn, đến cái Lỗ Đen.
Không khí nơi nhà Thủy Tạ quả là có thứ triết lý riêng của nó và mỗi khi ai đó trở lại ngôi nhà nổi bên bờ hồ xa xa như một du thuyền trên dòng nước trong vắt, song có khi lại đục đỏ như máu do sự giận dữ đâu đó từ thượng nguồn cao nguyên thật cao hơn đổ về đây, tất cả như đều có cảm giác tâm hồn mình đang trầm xuống và lắng nghe mọi thứ triết lý của cuộc đời. Một lòng hồ từ thi sĩ đến các nhà văn, ai cũng thả hồn về sương mờ với con nước trong xanh thơ mộng, nhưng chính sẩy chân một cái mà bị nước cuốn, cọp bẻ chết ngay đến sau ba ngày mới nhận ra xác là chuyện thường xảy ra trên thành phố êm đềm này. Ngay cả có người trúng số độc đắc, tậu được xe con trong lúc còn mới tập lái chưa vững đã không thắng kịp khi đổ dốc khiến xe lao xuống hồ cả nhà đều chết. Các Kỹ sư người Pháp đã đào vét lòng hồ có chỗ lồi lõmnó có khi bị khô cạn, bị đào vét và nứt nẻ với những kẻ hiếu kỳ hay các cư dân vốn tiết kiệm thời gian đã lội băng ngang qua lòng hồ thích thú, cũng như có lắm kẻ chỉ vì, sâu cạn không lường, ngay sát bờ hồ có khi lại rất sâu, rất cạn... toàn cảnh khi vào mùa nước khô hạn hay những lúc con người tháo nước để nạo vét tiếp lòng hồ, nó lổm chổm như mặt Chị Hằng, hay nói có vẻ bói toán tử vi một tí nó giống như một mạng lưới trời gọi là Thiên la địa võng. Vào thời chiến tranh Việt Nam, có cả một chiếc máy bay trực thăng rớt xuống ngay lòng hồ và với những phương tiện tối tân như của người Mỹ cũng không tìm ra được vào ngay lúc ấy, thế là có lời đồn thật dễ sợ lan nhanh trên thành phố nhỏ: nó đã bị kéo xuống tận âm phủ. Nhưng thật sự đối với những nhà Đà Lạt học thì nó đã rơi trúng phải một hộc sâu nào đó và chìm hẳn trong ấy với bùn non.
Thiện Nam vẫn thích trở lại khu đại học, chàng thường phải ngang qua Đồi cù, bây giờ nó biến thành sân golf và chỉ những ai có tiền hoặc làm kẻ hầu đi nhặt banh mới được vào. Một nhà nước gọi là vô sản nhưng chỉ những ai có sản mới được vào. Chàng nhớ lại thuở còn là sinh viên trong các dịp giao lưu với sinh viên Đà Lạt đã cùng bao bạn trẻ tung tăng hoặc dung dăng dung dẻ nắm tay nhau lướt băng qua thật nhanh thật hạnh phúc, vui vẻ trên Đồi Cù này... Và toà nhà “quạ đen” nữa, qua Đồi Cù không thể không nhìn qua các Thầy dòng áo đen, đó là Giáo Hoàng Học viện ngày nào, Thiện Nam đã có dịp vào thăm quan nơi các Thầy thuộc La Mã tu học lúc hưng thịnh nhất của nó với một thư viện đồ sộ vào bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ, nhưng nay hoang tàn những chồng sách kia về đâu? Chàng nhớ trước khi vượt biển đã tham dự một Thánh lễ do vị Tổng Giám mục chủ trì, khi phát biểu về các trường học bị tịch thu hay phải ký giấy cho mượn kể cả các Ngôi Thánh đường cũng bị thu hẹp lại, Ngài nói nguyên văn chàng còn nhớ: Bây giờ trong Ngôi Thánh đường nhỏ này, chúng ta ấm cúng hơn... Và phần lớn trong các Thánh lễ long trọng Ngài đều phó thác bài giảng cho các Linh mục trợ tế với lời mở đầu cũng thường là vì Đức Tổng bị mệt. Và ngay cả vị Giám mục phụ tá trong Thánh lễ chiều Thứ năm Tuần thánh vào những năm cuối thế kỷ, suốt cả Thánh lễ dù là với người nước ngoài, ông cũng không có lấy một lời. Tất cả đều giao phó cho mấy Linh mục quốc doanh tha hồ múa máy lên giọng xuống giọng. Thiện Nam nhớ lại lời cầu: xin Chúa mở miệng lưỡi con...và giờ đây theo gương các Chủ chăn này có lẽ phải cầu: xin người khóa Ngôi Lời trong con.
**