BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 25

Rối loạn tâm thần

 

Ám ảnh cảm thụ là loại ám ảnh cảm xúc mà nội dung làm cho người bệnh lo sợ, buồn rầu, đau khổ. Các tù nhân sau một thời gian cải tạo bị mắc chứng lao phổi nặng, thường trầm buồn, ít nói, lo sợ nhiều về cái chết sẽ xảy ra đối với họ ngay trong trại giam không kịp về với gia đình. Họ vui vẻ khi gặp anh em, thích tâm sự nhưng chỉ nói về nỗi buồn cùng sự đau khổ của mình khi phải xa cách gia đình quá lâu. Có người phát bệnh với một ung nhọt nhỏ nhưng không được điều trị thích đáng nên nhiễm trùng và chết. Nhiều tù nhân thuộc nhóm nầy.
Có rất nhiều loại ám ảnh sợ, mặc dù người bệnh biết tính chất vô lý và tìm cách khắc phục, nhưng ám ảnh nầy vẫn trở đi trở lại. Sợ khám xét cá nhân, sợ khám xét chung, sợ chuyển trại, sợ chuyển phòng, sợ bị cúp thăm nuôi, sợ không được nhận thư và gửi thư, sợ bị kêu làm việc với cán bộ an ninh, sợ kỷ luật, kiên giam... đủ mọi nỗi sợ vì các tù nhân bị khủng bố liên tục cho đến chỗ chết, và cái xác chết cũng trở thành thứ phương tiện để dùng làm sự trấn áp, răn đe những tù nhân còn sống như với các tù nhân trốn trại bị bắn chết thường được chôn rất cạn, để mùi hôi thối bốc lên hầu răn đe những tù nhân còn lại mỗi khi đi ngang qua.
     Chung quanh các trại giam thuộc miền rừng núi có nhiều mương rẫy, đất đồi được khai hoang và trồng trọt, ở những nơi đó đều có dựng chòi và các tù nhân dù án cao nhưng đã ở lâu năm, nhất là tuổi cao được bố trí đến ở các nơi đó để canh thú rừng vào ban đêm, và thường chỉ sau một thời gian ngắn những tù nhân nầy bị sốt cao, họ sẽ được trở lại trại giam qua sự xác nhận của y tế, song người nào khi trở về cũng trong bệnh hoạn cùng nỗi ám ảnh về cái khoảng rộng mênh mông ở thế giới bên ngoài. Đặc biệt phần lớn các trại giam, nếu muốn được sắp xếp vào vị trí giữ chòi, hà tất phải đút lót cho cán bộ cộng sản rất nhiều.
Ám ảnh sợ chiều cao, hầu hết các nhân vật có tầm cỡ khi vào tù đều mắc chứng nầy, chiều cao ở đây là những ảnh hưởng vốn có từ ngoài xã hội, thật vậy họ luôn bị theo dõi rình rập của cai tù và có thể bị đưa vào kiên giam bất cứ lúc nào. Vì sinh mệnh của họ bị đe doạ thường xuyên nên các tù nhân luôn tự an ủi bằng câu: Trời kêu ai nấy dạ. Một nhà giáo, tuổi năm mươi, nguyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm trước đây, ánh mắt ông như luôn đăm chiêu trầm lắng, không một động tác nào của ông mà không bị theo dõi, may mắn cùng sự thận trọng đã cứu ông. Một người bạn cũng dạy đại học, hình như cùng tổ chức với ông, đã bị kiên giam đến chết, và tuổi cũng chỉ khoảng năm mươi; một Giáo sư khác đã không khuất phục trước kẻ thù, không van xin trong cơn đau loét bao tử đã cắn răng chịu đựng mà chết ngay tại phòng giam, vị giáo sư nầy án chung thân. Quả thật Thầy Hiệu trưởng đã đóng vai thật khôn ngoan trong nỗi ám ảnh về sự ảnh hưởng vốn có của mình từ ngoài xã hội. Ông đã chết trước khi bị giết chết và may mắn còn sống sót. Tất cả Họ trong phần lý lịch về mục tôn giáo có ghi: Cao Đài.
Ám ảnh sợ chỗ đóng kín, trong cuộc hành trình của những ngày lao cải, thường ai cũng trải qua những ngày bị giam kín cách ly trong phòng tối để khai cung, căn phòng cacho nhỏ và thật nhỏ ấy, nó giống như một cái huyệt chôn người sống, bên ngoài với nhiều lớp tường bao bọc, không có ánh sáng, các tù nhân đưa bàn tay mình lên song không thấy gì cả, hằng ngày nhận được hai cục cơm trưa và tối vắt lại bằng quả trứng vịt nhưng không biết nó có màu gì, nhiệt độ ban ngày không dưới bốn mươi độ C... Nên những ai khi rời khỏi nơi nhà kỷ lụât nầy đều mang nỗi ám ảnh sợ cái không gian bé nhỏ giết người đó mà không biết những người đấu tranh cho Hoà Bình Xanh có bao giờ đã từng quan tâm đến. Một tù nhân tuổi ba mươi bị điên trong tù, khi lên cơn anh bị kéo lê lết vòng quanh trại giam để nhốt vào nhà kỷ luật, trên đường bị lôi đi dù trong cơn điên anh vẫn còn bị ám ảnh về cái khoảng không gian kinh hoàng đó: -Xin đừng mang tôi vào nơi ấy... Cái lò hoả thiêu... nóng, nóng lắm. Hãy giết tôi đi.. Đừng mang tôi vào chỗ kín đó.
Ám ảnh sợ người, đây là tâm trạng chung của các tù nhân khi mới bị bắt từ ngoài xã hội và được đưa vào phòng giam tập thể, mỗi phòng không đầy năm mươi mét vuông nhưng chứa đến cả trăm con người, căn phòng chừng một trăm mét vuông thì chứa trên hai trăm người... Điều thứ nhất mà ai cũng nhận ra sự khác thường là tất cả đều ở truồng vì nhiệt độ không dưới bốn mươi lăm độ C. Mắt người nào cũng đỏ hoe, mồ hôi thì chảy như tắm, sự gây gổ, đánh cãi chửi nhau xảy ra liên tục trong phòng do môi trường quá nóng khiến tính khí con người trở nên bất thường. Các tù nhân khi rời khỏi loại phòng giam tập thể nầy sẽ luôn mang theo nỗi ám ảnh sợ người như mùi nồng nặc của con người tiết ra, và trong căn phòng cả trăm con người ấy chỉ có một nhà cầu, những kẻ bị bệnh lậu, giang mai từ ngoài xã hội dù được dồn lại một góc nhưng mủ của bọn chúng chảy ra bốc lên tanh hôi khiến ai đến gần cũng muốn ói. Cao điểm của các loại phòng nầy là vào những năm 1977,1978,1979... cùng những năm 1980, khi phong trào bỏ nước ra đi lên cao điểm và nhiều người bị bắt lại. Một tù nhân lao cải ở trại Thung Lũng Tử Thần, từng bị vào Nhà Đỏ, có lần bị xuất huyết đường ruột suýt chết... Sau đây là suy nghĩ của riêng ông và cũng là của rất nhiều người khi qua trại này: Bọn chúng còn quá trẻ tuổi chưa đến ba mươi, toàn là từ miền Bắc mới đưa vào, nhưng không biết ác sao mà ác thế, chưa bao giờ thấy chúng tha cho một ai dù là chỉ vi phạm nhỏ, chuyên ghép tội và bắt các tù nhân nhận tội, nếu không chúng dùng roi điện quất cho đến đầy thương tích mới thôi. Chúng không có nụ cười, con ngươi của chúng như chỉ có mỗi tròng trắng mà thôi...trong sự ám ảnh nên ông có cái nhìn như thế, quả thật vì bọn cán bộ trẻ nầy hay trừng con mắt để làm uy nên chỉ thấy lòng trắng nhiều hơn. Ông kể lại khi chúng cùm tréo tay ông ngược vào thân cây, lòng ngực muốn xé ra đau đớn vô cùng, nước mắt chảy cho dù hết sức chịu đựng, chúng còn thoi, đá và bảo tại sao lại khóc...dù chúng chỉ đáng tuổi con cháu. Nhưng những thao tác của chúng giống như một đồ tể với mục đích cuối cùng làm cho con người không cùng giai cấp phải chết, cho dù già hay trẻ, có cùng giòng máu đi nữa nhưng khác lập trường giai cấp thời phải chết. Câu đầu của tam đoạn luận: Làm người phải chết và bây giờ tại Việt Nam: Không cùng giai cấp phải chết
Ám ảnh sợ cô đơn, sinh hoạt nơi các trại lao động khổ sai có nét chung, lúc thảnh thơi nhất trong ngày có lẽ là khoảnh khắc trước giờ điểm danh buổi chiều để chuẩn bị nhốt “vào chuồng” ban đêm. Trước ít phút điểm danh đó, các tù nhân thường đổ ra các hành lang để trò chuyện với nhau, giống như những chú cừu trong đàn cừu cần sưởi ấm cho nhau. Ai ai cũng tìm người tâm sự để được nói hay được lắng nghe, đúng hơn là tránh nỗi ám ảnh cô đơn trong thời gian bị cách ly xã hội lâu dài.
  Ám ảnh sợ ung thư, tù nhân nguyên Chủ tịch một phong trào, án hai mươi năm, tuổi bảy mươi, do thời gian lao cải lâu dài, thường nằm nhà kỷ luật khiến cụ bị tháo dạ thường xuyên, luôn ám ảnh về mình có thể bị ung thư đường ruột, về sau cụ bị chết do các biến chứng từ ruột già và không biết có phải là ung thư thật hay không. Tù nhân khác, án hai mươi năm, tuổi gần bảy mươi, trông cụ rất mạnh khoẻ nhưng lại luôn ám ảnh về chứng ung thư như hơi đau bụng một tí là cụ than có thể đường ruột bị hư, có một tí mụt nhọt cụ cũng đầy lo lắng... Chính vì trong môi trường quá khắc nghiệt khiến nhiều người  bị ám ảnh mọi thứ, cũng từ sự sợ hãi quá mức nên cụ nổi tiếng trong việc đút lót cán bộ thậm chí nghe tiếng đồn từ rất nhiều tù nhân ông còn nhận một nữ cán bộ làm con nuôi, trong khi đối với các bạn tù thì rất dè sẻn từng tí một. Vì theo ông chỉ có cán bộ mới nhanh chóng đưa ông đến nơi chữa trị ung thư... mà đúng là ung thư tâm thần.
Ám ảnh sợ chết, các tù nhân mặc dù bề ngoài rất vui vẻ, gặp ai cũng chào hỏi, song trong lòng luôn mang nỗi âu lo sợ hãi về cái chết, họ thường tâm sự: Trong tù dễ chết quá, tất cả mọi nẻo đường từ vệ sinh ăn ở sinh hoạt, nhất là cách cai trị của các cán bộ đều nhằm đưa đến cái chết... và sau rốt họ chỉ mất tờ giấy khai tử. Một tù nhân án chung thân, tuổi ngoài sáu mươi, luôn nghĩ đến đoạn đường dài đã trải qua, rồi những ngày sắp đến với tuổi già mà sự giảm án hầu như nhỏ giọt khiến luôn băn khoăn: không biết sẽ có ngày về với gia đình hay không, nhất là tuổi cao nhưng đã bị đánh đập nhiều ngay lúc bị bắt tại địa phương, hậu quả suốt những ngày trong tù ông mắc nhiều chứng nan y như đường ruột, tim mạch, suyễn.
Ám ảnh sợ vật nhọn, có lẽ điều ám ảnh nầy dành cho phía cán bộ cai tù nhiều hơn cả, đến nỗi họ nghiêm cấm các tù nhân không được giữ bất cứ vật bén nhọn nào, và công việc kiểm tra hầu như xảy ra thường xuyên tại các phòng nơi ăn ở của tù nhân cũng như chung quanh trại. Hậu quả của những vụ trấn áp với lý do không được dùng các vật bén nhọn nầy đã dẫn đến không biết bao tù nhân bị vào nhà kỷ luật, vì trong sinh hoạt hằng ngày không thể không có các vật bén nhọn như dao, các vật cắt để chế biến thức ăn. Trong nỗi ám ảnh nầy vì các cai tù phải lo cho chính bản thân của họ, các giám thị trại giam sợ nhất là những cuộc bạo loạn mà đối tượng đầu tiên bị nhắm đến trước hết chính là các cai tù, đàng khác để trật tự trong trại giam được ổn định. Một khi các tù nhân lương tâm bị mang đi giấu, nhốt chung với tù hình sự như có lần tại trại Xuyên Mộc, thuộc miền Nam Việt Nam mọi người đều chứng kiến vào mỗi trưa hay xảy ra cảnh thanh toán nhau giữa các nhóm, các đại bàng, chúng dùng dao nhọn hay vật nhọn đâm ngay vào tim của đối thủ khiến chết ngay tại chỗ là chuyện bình thường. Nhiều tù nhân án cao từng trải qua những kinh nghiệm đau thương, nguyên văn: Có những lúc lưỡi lê nòng súng nó làm cho mình sợ hãi, nhưng đến một lúc nào đó thì nó không là gì cả, họ đã bị công an biến thành những con người còn đó nhưng với ánh mắt thẫn thờ, tấm thân khô đét lại đầy bệnh hoạn, cán bộ chấp cung đã dùng các vật nhọn để thụi, đâm thọt vào người các tù nhân nầy.
Ám ảnh sợ tất cả, đây là tâm trạng chung của các tù nhân, chỉ có rất ít và có lẽ cũng chỉ có một hai người là không biết sợ khi chẳng may vào các trại tập trung cộng sản, và người mà ai cũng rõ có thể làm biểu tượng không biết sợ trong đấu tranh cho quyền của con người là Linh Mục Nguyễn Luân và ông đã chấp nhận đi đến cái chết. Còn tất cả đều mang nỗi ám ảnh sợ đủ thứ... nghĩ đến sự thất bại cuối cùng đến lúc chết vẫn còn sợ, như ít ra là sợ bị chôn cạn làm hoen ố môi trường. Một lão ông, án chung thân, tuổi ngoài bảy mươi, thật tội nghiệp mỗi khi nghe có cán bộ đến, hoặc gọi cụ đi làm việc là tay chân cụ run bấn cả lên. Môi cụ run run nói lên nỗi ám ảnh dù cái chết với cụ đã rất gần do tuổi cao, nhưng chính môi trường với những con người dã tâm khủng bố khiến già trẻ đều sợ: Tất cả họ đeo theo mình ám ảnh sợ hãi không phải về cái chết vì ai nấy thật sự đều không sợ cái chết, xem cái chết nhẹ như tơ hồng nên mới dám chống lại cộng sản, nhưng nỗi ám ảnh sợ thật sự đó là: cái chết được trải ra và những kẻ đứng ra hành quyết con người lấy làm khoan khoái. Họ là con người thật vốn sinh ra có nhân tính, nhưng nhân tính ấy được trang bị bằng mệnh đề: Kẻ thù giai cấp phải chết. Tất cả chúng ta sống gần họ nhiều khi thấy họ rất đáng thương là đàng khác, vì thật sự nó chỉ khác cái nọc nằm ở đuôi .
Ám ảnh lo sợ thực hiện, các tù nhân lo sợ ám ảnh biến thành sự thực như lo sợ mất ngủ và mất ngủ thật.

Có tù nhân, án chung thân, tuổi ngoài năm mươi, ông thường tâm sự: Tôi rất sợ mất ngủ và thường xuyên mất ngủ thật... lý do hay nghĩ vẩn vơ về mọi thứ, những ý tưởng cứ đến liên tục và cứ thế cho đến gần sáng mới chợp mắt được... người khác, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông cho biết đêm nào cũng không ngủ được, mặc dù rất sợ mất ngủ và cố gắng ngủ, nhưng đêm nào đến gần sáng mới chợp mắt được. Nó giống như ở kiên giam vậy chỉ ngủ vào ban ngày còn ban đêm thì thức.
Ám ảnh hồi ức, tù nhân trong trạng huống nầy hay nhớ lại một sự kiện hết sức khó chịu, một sự đau khổ trong quá khứ làm cho họ xấu hổ, hối hận và cố gắng quên đi nhưng không sao quên được. Tù nhân trốn trại, án mười lăm năm,  tuổi năm mươi, luôn ám ảnh và nhớ lại cuộc nổi dậy đào thoát bị thất bại khiến ông từ tập trung lên án cao, và trở nên trầm uất vì nay đã lớn tuổi khó mà thực hiện việc đào thoát được nữa. Những hơi thuốc lào thật dài như đưa tù nhân này vào quên lãng bao nhọc nhằn, tủi nhục, đau đớn, kỷ luật kiên giam bị đánh đập tàn nhẫn đến bản án lâu dài. Tù nhân khác, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, trầm uất, anh luôn mang nỗi ám ảnh sau vụ bạo động trốn trại thất bại, đó là khi việc đào thoát không thành anh đã quay lưng lại các bạn tù đang đào thoát bằng những câu: -Cứu tôi với cán bộ... bọn chúng đã ép buộc tôi... Cho dù có kêu cứu và lập công khai báo để chuộc tội nhưng bọn cai tù cũng không tha cho anh, chúng tiếp tục tăng án cao và chuyển đến trại Thung Lũng Tử Thần.
Ám ảnh nghi ngờ, tù nhân rơi vào tình huống nầy hay hoài nghi các sự việc đã làm không biết có quên thực hiện hay không, như phân vân không biết đã phủ kín chiếu chỗ nằm hay chưa khi ra khỏi phòng giam, nghi ngờ đủ mọi thứ như khi ra khỏi phòng họ hay làm dấu ở chỗ nằm để xem khi trở về có bị mất dấu, hầu suy đoán có đang bị theo dõi hay không, nhất là trước lúc ra đi  luôn xem những vật cần giấu kín đã cất đúng chỗ hay chưa, mọi ánh mắt dù ngay của đồng phạm cũng luôn đặt sự nghi ngờ nơi họ. Các tù nhân mà sự nghi ngờ trong họ đến mức có khi đội ngũ đã xếp hàng chuẩn bị xuất trại mà vẫn còn chạy vào phòng giam để xem những vật dụng mà có lẽ chỉ chính họ mới biết đã cất giữ theo ý hay chưa...
Khuynh hướng ám ảnh, đột nhiên người mang chứng nầy muốn chửi một kẻ qua đường, ném đá vào xe đang chạy, nhảy qua cửa sổ, đâm chết người thân. Khuynh hướng nầy làm cho bệnh nhân đau khổ và sợ, một phần sợ mình thực hiện cái xu hướng đó, một phần không hiểu tại sao mình có những ý nghĩ quái gở như vậy. Hành vi quái gở nầy thường thấy xuất hiện nơi các cán bộ quản lý trại giam, mặc dù sinh hoạt trong điều kiện tự do hơn, song như nhiều cán bộ đã phát biểu: Các anh là tù trong, chúng tôi là tù ngoài. Thật vậy dù có điều kiện hơn các tù nhân nhưng với môi trường khắc nghiệt khiến họ cũng bị biến đổi về tâm sinh lý nhất định. Đột nhiên khi đang dẫn tù đi, họ thấy chó thì chửi chó, thậm chí còn ném đá chúng. Có người thì thích đánh đá các tù nhân suốt dọc đường từ khi xuất cổng trại giam cho đến hiện trường lao động. Có người lại chửi thề thô tục suốt dọc đường đi. Có tù nhân thường chửi thề suốt ngày, và mỗi khi nói như vậy, sau đó họ tỏ ra tiếc rẻ, hối hận về điều mình nói, song khoảnh khắc không lâu lại nói tiếp, rồi tỏ ra ân hận lần nữa .
Hành vi ám ảnh: những động tác thực hiện ngoài ý muốn, ngoài sự cố gắng tự kiềm chế. Đó không phải là những động tác tự động mà là những động tác đã thành thói quen khó bỏ được, chúng không kèm theo ám ảnh sợ. Cán bộ chuyên cắt nhượng chân tù nhân, tuổi ba mươi, mỗi khi gặp nữ cán bộ cùng cơ quan hoặc các cô gái quanh trại giam mà y gặp trên đường đi, y liền phát ngôn những lời thật tục tĩu của giới giang hồ... một cách thích thú không e thẹn, một số các cán bộ trại giam đều có sự thể hiện của khuynh hướng nầy, ngay cả các trưởng trại có khi còn sỗ sàng hơn thế. Một  trưởng trại ở Thung Lũng Tử Thần, tuổi năm mươi, mỗi khi gặp cán bộ nữ, y ăn nói thật thô tục như ngoài những lời chửi thề, gọi phụ nữ là con nầy đĩ kia, cả những lời dùng trong giao phối... với nam cán bộ thì y dùng những lời mạt sát như thằng nầy, thằng kia, toàn một lũ ăn hại... ăn bám.v.v. tiếp theo nhau là điệp khúc chửi thề thô tục... Trông y cao ráo, khuôn mặt đẹp lão nhưng không ai rõ cái tuyến nào, hạch nào đã chi phối trên con người này mạnh mẽ đến thế.
Nghi thức ám ảnh, những động tác ám ảnh phát sinh cùng với ám ảnh sợ, những nghi ngờ, có ý nghĩa như để tự vệ, để thoát khỏi nguy hiểm tưởng tượng. Người tù có ám ảnh sợ các bạn tù lần lượt ra đi, hoặc khi đi ra khỏi nhà kỷ luật, bệnh xá... hay nhìn lại đôi ba lần mới yên tâm. Tâm trạng chung của các tù nhân trong tình huống nầy là nghi ngờ có gì bất trắc đang xảy ra chung quanh mình, biểu hiện qua các động tác như mỗi khi đi hay quay nhìn lại, giả vờ cúi xuống sửa dép, hay đánh rơi vật gì.v.v. để xem có ai theo dõi mình hay không, nhưng thật ra hầu hết các nỗi ám ảnh đó là do sự tưởng tượng thái quá mà thôi. Tù nhân nguyên Chủ tịch một Mặt trận, án hai mươi năm, tuổi sáu mươi, ánh mắt ông như luôn dáo dác nhìn về phía trước để xem có ai sắp ám hại mình hay không, tù nhân nầy hay nói: tôi đã bị quá nhiều kẻ hại mình từ các du kích, công an địa phương cho đến trại tù cũng chưa yên trong chế độ nầy, nên tôi quá sợ... Bây giờ chỉ còn là sự cảnh giác trước cái chết mà thôi. Nhưng các tù nhân hay tiếu: Chúng tôi lại cảnh giác ông vì ông nhận làm bố nuôi của một viên trưởng phân trại Xuân Lộc Đồng Nai.
Giảm nhớ, sự suy giảm trí tuệ thể hiện qua việc giảm nhớ những sự việc mới xảy ra hay sự việc cũ gặp trong loạn tâm thần tuổi già, liệt tiến triển, loạn tâm thần suy nhược. Tù nhân án hai mươi năm, tuổi gần sáu mươi, nguyên là một giáo viên ngoại ngữ, khi vào tù ông bị mù do nhốt ở phòng tối quá lâu, rồi trí nhớ giảm dần, nên hằng ngày ông luôn luyện tập ký ức như tập đọc lại những gì mà ông trực nhớ lại nhiều lần, theo ông sau đó vẫn quên vì một là tuổi đã cao và trong điều kiện môi trường thiếu thốn về vật chất cũng như sự khủng bố trấn áp thường xuyên, như mọi người mù được miễn lao động song bị đưa đi nhốt ở một nơi riêng với những lời chửi bới làm nhục nào là thành phần ăn bám, trốn lao động...
Tăng nhớ, người tù trong tình huống nầy nhớ lại những sự việc rất cũ, cả những sự việc không có ý nghĩa hay những chi tiết vụn vặt, gặp trong trạng thái hưng cảm. Tù nhân gốc nhà giáo, án chung thân, nói về những chi tiết của triết học Đông phương, Tây phương mà tưởng chừng sẽ không ai nhớ nổi...  Quả thật bao giờ nói về điều nầy ông cũng lộ rõ sự hưng phấn của mình, ông bị chết do áp huyết cao mà phải lao động khổ sai. Nhiều tù nhân trong câu chuyện bao giờ cũng tiếc rẻ về một nền văn minh đương đại đã đến với chúng ta lần thứ nhất, chúng ta đã không tiếp đón và học hỏi cái hay mà lại đánh đuổi họ ra đi; lần thứ hai với người Mỹ trong biết bao cái tuyệt vời nhất của thời đại, thật là cơ may khôn cùng với dân tộc Việt Nam, nhưng rồi chúng ta cũng lại xô đuổi họ ra đi... ôi là những chuyện đáng tiếc cho dân tộc nầy... Các tù nhân luôn kể về lịch sử đấu tranh cho nhân quyền của các tổ chức một cách mạch lạc, đến nỗi có nhiều chi tiết tưởng chừng như chỉ có người trong cuộc mới nhớ nổi... nào các tổ chức Liên Tôn, Hội ái hữu các tù nhân lương tâm trong nhà tù cộng sản do các Linh mục và nhiều người thành lập tại trại Thung Lũng Tử Thần, cũng chính vì tổ chức nầy ra đời đã đưa nhiều người trong đó có các Linh mục, Tu sĩ bị kiên giam đến chết. Đối với tù lương tâm, sự hưng phấn đến với mỗi người dường như cũng là cái nghiệp của người ấy.
  Quên, nhiều tù nhân án chung thân, tuổi trên ba mươi, sau một thời gian lao lý trên mười lăm năm, những người nầy trở nên bất bình thường trầm trọng như không còn nhớ rõ việc trước việc sau, chốc nữa sẽ làm việc gì. Họ rất cố gắng trong việc luyện trí nhớ, nhưng khi đọc xong chữ sau đã quên chữ trước. Sinh hoạt hằng ngày cũng hoà nhã với anh em nhưng dễ nổi nóng và rất hay bị kích động. Có một tù nhân sau một thời gian dài lao lý trên mười năm, dù tuổi rất trẻ nhưng trí nhớ giảm hẳn, mọi người khuyên anh học thêm, tù nhân nầy cũng như nhiều bạn trẻ khác rất nỗ lực nhưng không có kết quả như học trước quên sau... Anh rất dễ bị kích động, có lần vì sự khiêu khích mà anh cùng một bạn tù trẻ khác đã quên hết sự nguy hiểm và dùng cuốc xẻng đánh nhau suýt chết. Sau vụ “quên” đó, anh trở nên thờ thẫn và chậm chạp càng không linh hoạt như trước nữa.
  Quên toàn bộ là quên những sự việc cũ và mới thuộc mọi phạm vi, gặp trong trí tuệ sa sút nặng. Quên từng phần là quên một số kỷ niệm, quên ngoại ngữ, quên thao tác nghề nghiệp. Tình trạng quên từng phần hầu như các tù nhân thụ án lâu năm đều mắc phải, chỉ duy ở mức độ nặng nhẹ khác nhau như đan cử: một  tù nhân án chung thân, tuổi năm mươi, sau thời gian hơn mười năm lao cải và di lý đến những trại giam khác nhau, gia đình thăm viếng cũng thưa dần vì kinh tế quá khó khăn, anh bắt đầu có triệu chứng ù tai và sau đó điếc dần cũng như chứng kém trí nhớ phát triển ngày càng nhanh, theo sự diễn tả của anh: hình như cái não của tôi nó cô lại chỉ còn ít tế bào trong số mười tỷ là còn hoạt động như về quan hệ thân tộc ông chỉ còn nhớ tên vợ chứ không còn nhớ họ lót, các con có cháu nhớ tên quên chữ lót, có cháu chỉ còn nhớ tên lúc còn nhỏ. Hằng ngày trong sinh hoạt các vật dụng hay bỏ đâu quên đó và ai nói gì ông cũng vui vẻ chấp nhận nhưng luôn với câu: Thế hả...thế hả... Tù nhân khác án trên mười lăm năm, tuổi trên năm mươi, bị cụt một chân, ông còn nhớ một ít câu thơ và ngâm vịnh thường xuyên nhưng lại đọc trước quên sau, nhiều lúc ông tâm sự: Tức quá tuổi già và sự giam giữ cách ly với xã hội quá lâu dài trong thiếu thốn đã làm cho con người mình trở nên ngày càng đần độn.
Quên thuận chiều, quên những sự việc xảy ra ngay sau khi bị bệnh một thời gian từ vài giờ đến vài tuần. Gặp trong chấn thương sọ não. Một kỹ sư, án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, ông bị đột qụy, rồi liệt hẳn một cánh tay, theo các y sĩ trong tù ông bị đứt mạch máu não, về sau tù nhân nầy hầu như quên hết mọi chuyện cả quá khứ lẫn hiện tại, các bạn tù thường xuyên chăm sóc và gợi ý để ông có thể hồi phục trí nhớ, nhưng cơn bệnh ngặt nghèo do lao cải quá lâu đã dần đưa ông đến sự bại liệt toàn thân cùng trí nhớ mất hẳn và chết tại trại giam.
Quên trong cơn, người tù chỉ quên sự việc xảy ra trong cơn, trong thời gian bị bệnh, gặp trong cơn động kinh. Có tù nhân, án mười lăm năm, tuổi ba mươi, do bị tra tấn quá nặng, theo lời kể của anh, hậu quả về sau bị mắc chứng động kinh, thường vài hôm lại lên cơn động kinh, và trong cơn động kinh anh không còn nhớ gì hết, cả thân người run lên, tay chân co giựt hay rút lại... Thế nhưng lúc hết cơn anh lại sinh hoạt bình thường. Tù nhân khác, nguyên là Thiếu tá trong chế độ miền Nam trước đây án hai mươi năm, tuổi trên năm mươi, mắc chứng động kinh, vào những lúc đó hầu như ông không còn nhớ gì cả, song hết cơn động kinh tù nhân này trở lại sinh hoạt bình thường dù có chậm chạp do thời gian giam giữ quá lâu dài.
Quên do ghi nhận kém, thường là quên thuận chiều. Tù nhân án chung thân, tuổi ba mươi, do thời gian lao cải quá lâu cùng các chứng bệnh nan y ngày càng thêm nặng khiến trí nhớ của anh kém dần, như khi lên cơn suyễn hoặc những lúc ho ra máu anh chỉ còn nhớ mình còn thở được đến hơi thứ mấy và không biết lá phổi có còn hoạt động nữa hay không. Tù nhân khác án hai mươi năm, tuổi năm mươi, bị tim mạch cùng áp huyết cao, mỗi khi lên cơn co giựt ông chỉ còn những lời cầu xin trăn trối: -Cứu con với Chúa ơi... Không biết gì hết trong sự vật lộn với tử thần, sau đó ông chết trong đau đớn.
Quên do nhớ lại kém, thường là quên ngược chiều. Ông lão án hai mươi năm, sau một thời gian dài ở tù cùng tuổi cao, trí nhớ ông hầu như giảm dần, cụ chỉ còn nhớ tên một vài người bạn cùng chiến đấu với mình ngày xưa, nhất là trong suốt cuộc đời binh nghiệp, ông chỉ nhớ đã bắn có mười hai phát súng và luôn thêm câu xác nhận chỉ bắn có chừng ấy mà thôi, cấp bậc của cụ là Trung tá trong chế độ miền Nam trước đây. Hầu như ông đã quên hết những tri thức đã từng thụ bẫm. Cụ khác tuổi gần bảy mươi, sau một thời gian lao cải lâu dài hầu như trí nhớ cụ giảm hẳn khi tuổi tù cùng tuổi đời ngày càng cao. Suốt ngày cụ chỉ lo trau chuốt những cây gậy cho thật đẹp, vì cụ bịnh già nên được miễn lao động nhất là mỗi khi ra hiện trường lại phải tốn công khiêng về .
Quên tiến triển, quên cố định, quên thoái triển, có một lão ông thời nào cũng bị ở tù vì theo cụ triều đại nào cũng có bất công và cụ chống lại những bất công đó, từ Pháp đến Mỹ, cộng sản... tuổi cao mắt cụ yếu hẳn đến gần mờ, tai cũng không còn nghe rõ nữa, trí nhớ giảm hẳn như những gì vừa mới xảy ra cụ quên ngay, thế nhưng với những gì xảy ra cách đây dù vài chục năm cụ lại nhớ rất rõ. Một Linh Mục Dòng Đồng Công, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, tâm hồn Ngài rất thanh thản mặc dù ngài bị chụp mũ tuyên truyền chống chế độ cộng sản, sống bên vị Linh mục nầy người ta nhận thấy không có sự oán thù mà chỉ có sự tha thứ, do tuổi cao cùng sự giam giữ lâu ngày, trí nhớ giảm dần như những gì thuộc quá khứ cụ nhớ rất rõ và nếu ai biết gợi ý cụ sẽ kể lại rất tỉ mỉ, song những gì đang xảy ra như đến giờ dùng cơm cũng phải có người nhắc và đưa đi dùng bữa, cụ mới nhớ ra. Một sĩ quan cấp tá, án mười lăm năm, tuổi năm mươi, từ khi bị bắt, bị tra tấn, sau đó hậu quả mắc chứng hay quên, nhưng do ý chí quyết tâm luyện tập, dù tuổi ngày càng cao vẫn không tăng, anh sinh hoạt bình thường và lúc nào cũng cầm theo những mảnh giấy nhỏ đầy tiếng Anh bên mình để luyện trí nhớ. Một Linh mục khác cũng thuộc Dòng Đồng Công, án hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, mặc dù tuổi cao song cụ rất minh mẫn, những ngày mới bị bắt do bị trấn áp và khủng bố thường xuyên nên trí nhớ của cụ có giảm sút, nhưng sau đó cụ lấy lại tinh thần, và thật sự những ai có dịp hầu chuyện với vị Linh mục cao niên nầy đều thấy cụ rất tỉ mỉ trong những câu chuyện ở quá  khứ và cả những gì đang xảy ra, cụ cũng chết trong tù do tuổi già. Một Nhà giáo, một lãnh tụ của phong trào dân chủ ở miền Trung, án chung thân, tuổi năm mươi, sau nhiều năm bị kỷ luật, kiên giam khiến trí nhớ ông bị giảm sút trầm trọng, sau đó ông đã cố gắng luyện tập ký ức và có thể nhớ lại dần dần... Nhưng chẳng may số phận nghiệt ngã đã đến, ông ho ra máu thường xuyên, căn bệnh lao phổi đã cướp đi sinh mạng của ông trong tù.
Nhớ giả, đối với những sự việc có thật trong cuộc sống trong một thời gian và không gian nào đó, thì người bệnh lại nhớ vào một thời điểm và không gian khác. Các cụ do tuổi già sức yếu cùng thời gian lao cải kéo dài khiến trí nhớ của cụ nào cũng trở nên lộn xộn về không gian và thời gian, như nhầm ngày sinh với ngày ra toà, nhầm Tết Tây thành Tết Ta... Sinh hoạt hằng ngày trông thì đi lại bình thường nhưng hay quên vật này ở chỗ nọ chỗ kia.
Bịa chuyện, người tù trong tình huống này quên các sự việc đã xảy ra và thay vào chỗ quên lại kể đến những sự việc không hề xảy ra với mình, nhưng bản thân người bệnh không biết là mình bịa ra. Nội dung bịa chuyện có thể thông thường hay kỳ quái. Các tù nhân từng qua trại Thung Lũng Tử Thần đều không quên được hình ảnh vài nhân vật chuyên bịa tin vịt... Những người nầy biết rõ thị hiếu của tù chính trị là thích nghe tin tức, nên lúc nào bất kể giờ nào, ngày nào... họ cũng có thể phịa ra những thông tin rất bịa đặt từ BBC, VOA... để làm quà cho các bạn tù. Thật sự có người không bao giờ dùng những thông tin đó để lừa bịp ai song có điều chính họ lại tin vào những sự bịa đặt ấy là thật. Có tù nhân hay kể chuyện ma cũng như những chuyện trinh thám, và ai cũng biết từ những cốt truyện đó họ đã phịa ra những chuyện khác theo cốt truyện đã có sẵn thật hay, mọi người biết rõ chuyện phịa nhưng lại rất thích nghe.
Nhớ nhầm, người tù nhớ việc mình thành ra việc của người khác, hoặc ý nghĩa sáng kiến của người khác thì nhớ ra là của mình. Những điều nghe người khác kể lại hoặc thấy ở đâu thì tưởng là những điều mà bản thân mình đã sống qua. Có người bệnh lại tưởng mình đang sống trong dĩ vãng. Một số tù nhân hay nhớ nhầm chuyện nầy sang chuyện khác, nhất là mỗi khi có ai kể chuyện gì họ vẫn thường nói tiếp lời: À tôi cũng như thế... Tôi cũng vậy, Tôi cũng đã trải qua tình cảnh như thế.v.v. Có tù nhân hay kể lại những chuyện của người như thể của chính họ, hay nói về những phát minh những công trình khoa học như chính mình đã từng tham gia, nhưng khi hỏi về nội dung thì họ không thể trả lời được. Trong sinh hoạt hằng ngày các tù nhân nầy rất thích đọc sách và thích giao du với những người có trình độ .
Chú ý suy yếu, người bệnh không thể tập trung sự chú ý vào một việc gì lâu được, mà rất dễ bị phân tán tư tưởng. Gặp trong loạn thần kinh suy nhược và các bệnh thực thể của não. Các tù nhân thuộc loại nầy rất phổ biến, họ không bao giờ đứng ngồi yên một chỗ, không có câu chuyện nào mà không tham gia nhưng rồi chỉ một vài câu gọi là “xía vào” rồi lại bỏ đi.
Chú ý trì trệ khi năng lực di chuyển sự chú ý của người bệnh rất kém, người tù chú ý tập trung vào một chủ đề, một đối tượng trong một thời gian tương đối lâu, nhưng di chuyển sự chú ý từ vấn đề nầy sang vấn đề khác thì chậm chạp. Thường gặp trong bệnh động kinh, bệnh tâm thần phân lịêt và trạng thái trầm cảm. Tù nhân nguyên là sĩ quan, án trên mười lăm năm, tuổi bốn mươi, anh thường vui vẻ và nói: -Xin thông cảm với những người tù trên mười năm... Thật vậy với chính anh mỗi khi chuyển sự chú ý từ vấn đề nầy sang vấn đề khác, từ công việc nầy nọ khác nhau đều thích nghi rất chậm, nghĩa là phải có một khoảng cách thời gian. Một trường hợp khác, tù nhân nầy đang khoẻ mạnh nhưng vì cố tranh tiên tiến và lao động quá sức để được giảm án, hậu quả dẫn đến đột quỵ vì làm nhiều mà ăn rất ít, sự cố tai biến mạch máu não đã làm ông liệt nửa người và cũng từ đó không còn linh hoạt như trước, mọi sự chú ý như đang thờ thẫn về một cõi xa xăm vô định không biết nó là cái gì. Trước giờ tử thần gọi các bạn hữu có dịp gần gũi chăm sóc vì trước đó ông đã tách biệt ra hẳn với mọi người trong sự biện luận: chó sủa mặc chó đường ta ta cứ đi... để được sớm trở về đoàn tụ theo lời hứa của những cán bộ cộng sản.
  Chú ý di chuyển nhanh chóng, người tù không thể tập trung sự chú ý vào một đối tượng cần thiết mà luôn luôn di chuyển sự chú ý của mình từ vấn đề nầy sang vấn đề khác. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm. Các tù nhân thuộc loại nầy hầu như không tập trung vào một chủ đề gì cả, vấn đề nào của các bạn tù họ cũng thoáng qua nhưng không góp ý, giải quyết, các tù nhân khác gọi họ là “ba phải”. Họ rất vui vẻ và hoà đồng với mọi người.
Giảm động tác gặp trong trạng thái lú lẩn, các tù nhân bị bệnh đột xuất hằng ngày, cũng như những người bị mắc bịnh kinh niên mãn tính đều bị nhốt cách ly chung với nhau trong căn phòng nhỏ chật chội, thường trại giam nào ngoài bệnh xá còn có một phòng nhốt tù bệnh nầy, sự khó chịu hôi hám, lây nhiễm từ người bệnh nhẹ thành nặng hơn sẽ khiến các tù nhân ngại khám bệnh vì được nghỉ bệnh sẽ bị giam vào những nơi như thế. Thậm chí có người sốt cao vẫn cố gắng theo ra hiện trường, rồi nằm vật vã dưới những lùm cây, nhưng nơi ấy vẫn hơn là mang nỗi ám ảnh rước thêm bệnh vào thân. Tất nhiên với loại phòng giam dành cho người bệnh kiểu đó thời ai cũng nằm một chỗ, không có không gian cho việc đi lại và thật sự tù nhân nào vào đây cũng đã lâm trọng bệnh. Đặc biệt các cụ già trên bảy mươi tuổi được miễn lao động song tất nhiên đều bị nhốt vào loại phòng nầy, khiến nhiều cụ chỉ riêng nỗi ám ảnh bị lây bệnh cũng đủ mau đến dần cái chết. Các tù nhân cũng chứng kiến có thời gian những người cao tuổi trên bảy mươi đều phải ra hiện trường lao động, và theo sự giải thích của cán bộ quản giáo: nếu không làm được việc nặng thì làm việc nhẹ. Một tù nhân do bị giam giữ lâu ngày trong phòng tối khiến các cơ của đôi chân bị teo lại, lúc nào cũng phải nhờ cặp nạng mới nhích chân được. Ngoài ra còn có các tù nhân mà sự giảm vận động thấy rõ như có tù nhân án chung thân, tuổi hai mươi, bị bắn lúc bị truy bắt, do không được chữa trị nên mảnh đạn hãy còn ở chân, việc đi lại rất khó khăn, lúc nào cũng phải chống nạn, tuy vậy anh cũng bị buộc phải lao động khổ sai, thường các tù nhân nầy phải ngồi lết dưới đất để xúc cát, đá... cho các tù nhân khác khiêng đi.
Mất vận động, mất động tác gặp trong trạng thái bất động ở loạn thần kinh hysteria tâm thần phân liệt. Tù nhân tên gọi là Phúc, cụ tuổi bảy mươi, án mười lăm năm, sau một thời gian lao cải bị bán thân bất toại phải nằm liệt đại tiểu tiện ngay tại chỗ nằm, vẫn ăn uống bình thường, khiến cả phòng luôn hôi thúi trong một thời gian dài vài tháng, nhưng giám thị vẫn không có cách giải quyết, người khổ nhất vẫn là trưởng phòng đã cùng các bạn tù khác luân phiên lau dọn, việc nầy xảy ra tại trại Xuân Lộc, thuộc miền Nam Việt Nam. Các tù nhân án cao và trải qua thời gian lao cải lâu dài trước khi chết thường mất vận động như tù nhân Phạm văn Dụ, Lê Mại, Linh Mục Nguyễn Luân, Linh Mục Nguyễn văn Thuyên, LM Trần văn Long, Lm Nguyễn văn Phong, LM Nguyễn văn Vàng, Linh mục Nguyễn Huy Chương, Linh mục Nguyễn văn Hiệu án tử hình, Cha Long chết tại Trại giam Chí Hòa vì bệnh kiết lỵ... Và điểm đặc biệt có rất ít Nhà sư bị chết trong tù, cho dù có vị phải thụ án lâu dài và bị kiên giam trường kỳ.
  Tăng vận động, tăng động tác, người tù có những động tác thừa, động tác tự động như run, nháy mắt, máy môi, nhún vai... Gặp trong trạng thái hưng cảm, trong tâm thần phân liệt. Một lão ông án muời bốn năm, lúc nào cũng lớn tiếng hùng hổ, thô tục lắm, nhưng mỗi khi nghe có vấn đề gì liên can đến an ninh như sắp bị làm việc là tay chân muốn run lên cùng đôi môi bắt đầu mấp máy, đi lại muốn té... Nỗi ám ảnh sợ hãi khiến các cơ bắp ông tăng vận động cùng sự bài tiết liên tục, biểu hiện qua những lúc ấy ông thường một tay ôm bụng gần bộ phận bài tiết. Theo lời ông kể trong các lần làm việc như thế ông xin “đi giải“ không biết bao nhiêu lần.
Động tác dị thường là những động tác không có ý nghĩa, không cần thiết, có tính chất định hình như siết mạnh tay, ngửa mặt nhìn trừng trừng. Thường gặp trong tâm thần phân liệt. Có tù nhân tuổi bốn mươi, bị đâm mù hai mắt lúc hỏi cung, mặc dù bị mù nhưng mỗi khi ai nói hoặc hỏi anh chuyện gì... anh hay trố mắt và nhìn về phía trước hay nhìn lên một cách dị thường khiến người không quen dễ bị ám ảnh sợ về cái nhìn khác thường đó. Một Linh mục lạc quan, án hai mươi năm, tuổi ngoài sáu mươi, gặp ai cũng mừng rỡ có khi ôm hôn, vỗ vai, bóp tay chân... ngay giữa sân tù. Thật sự vị Linh mục nầy sống hồn nhiên như con trẻ .
Giảm hoạt động gặp trong trạng thái suy nhược, trầm cảm. Có tù nhân sau một thời gian lao cải phải chịu nhiều nhục hình, cùng sự cách ly với người thân khiến họ không còn thích nói năng gì cả, những ai đã từng gặp các bạn tù thuộc nhóm nầy: đó là con người như những bức tượng câm, và mỗi khi sắp hàng xuất trại nó không khác gì hình ảnh những bức tượng được khai quật chôn dưới mộ Tần Thủy Hoàng và có lẽ nó sẽ mãi dán vào mắt đồng loại. Các tù nhân thuộc nhóm “tượng”nầy cũng không giao tiếp nhiều, ngoài công việc nấu nướng, ăn ngủ. Vì sau những biến đổi của cuộc đời trong cảnh tù cùng nhiều bệnh tật phát sinh khiến họ càng trở nên co rút, trầm cảm ít nói, mọi thời gian nếu có thể được đều dành cho việc trùm mền nằm yên một chỗ.
     Việc trước tác trong tù như dịch và phổ thành thơ lục bát các tác phẩm quí hiếm đều xúc tiến trong bí mật và chẳng may công việc bại lộ sẽ bị cùm cho đến chết. Tại trại Thung Lũng Tử Thần, có cả phiên toà mở ra để tăng án cho các ngục sĩ loại nầy, nguyên là Thủ lãnh Luật sư đoàn miền Trung trước đây, cụ Lý Văn Hiệp đã bị mang ra xét xử vì tội nghe đọc thư chống lại chế độ mà không tố cáo, trong cuộc sống hằng ngày ngoài giờ lao động khổ sai cụ còn phổ thành thơ nhiều tác phẩm nổi tiếng. Các sáng tác về thơ ca được truyền miệng trong tù rất nhiều, ngoài ra các tù nhân còn đọc cho nhau nghe về các sáng tác từ các trại khác; và có cả những bản dịch triết học, chính trị, văn học... do các tù nhân có trình độ lén lút phổ biến cùng những bài soạn về chính trị, dân chủ, tự do, pháp quyền để nâng cao trình độ các tù nhân. Và đặc biệt với sự khắc nghiệt như trại Thung Lũng Tử Thần, vẫn có Kinh Thánh được tách ra từng trang nhỏ và chuyền tay nhau để đọc. Hầu như Linh mục nào cũng ngồi trong mùng dâng lễ riêng, và chỉ vài Linh mục là làm lễ bí mật có cộng đoàn từng nhóm nhỏ. Thiện Nam thường xuyên tham dự các Thánh lễ nầy mà sự hồi họp dường như có phần đưa con người đạt đến đỉnh cao của hạnh phúc hơn, cảm động nhất là lúc truyền phép Thánh Thể, nhiều khi Tiệc Thánh chỉ diễn ra ở phần nầy, còn trước sau chỉ là phần tạ ơn ngắn gọn. Những ai tham dự thường được rỉ tai với nhau trước để chuẩn bị tìm đến và thoát cho nhanh. Ngày Chúa nhật ở trại Thung Lũng Tử Thần các cánh cổng từ phòng nầy qua phòng khác đều khoá chặt, giảm bớt sự liên hệ với nhau. Nhiều tù nhân vào tù sau thuật lại các Giám mục đi ban phép thêm sức chui nhiều khi cũng chạy tháo thân như vậy, các tù nhân hay kể về Đức Cha Nicolas, Giám quản Tông toà Sài Gòn có lần công an rượt đuổi phải thoát cửa sau trên vùng biển Phan Thiết thuộc miền Trung Việt Nam. Dù khó khăn, nguy hiểm nhưng ai cũng hân hoan sau Thánh lễ, tất cả đều cảm nghiệm với chính bản thân của mình: tôi hân hoan không phải vì tung hô Chúa uy quyền, thật sự khi kinh qua những nơi diễn ra toàn sự ác, chúng ta sẽ nhận thấy dường như Thiên Chúa đã không can thiệp gì hết, nhưng tôi hân hoan vì Người dẫn dắt tôi trên đường công chính.
  Hành vi xung động xuất hiện đột ngột, không có sự kiềm chế từ bên trong. Các hành vi nầy xảy ra vô cớ, vô nghĩa và mãnh liệt. Có ít tù nhân thường vào giữa trưa trời nóng bức, họ cởi quần áo và la lớn trong phòng giam, chửi rủa như đang đánh đá với ai vậy. Thế là vào những buổi trưa như thế, mọi người trong khu vực đó không ai nghỉ ngơi gì được cả, song các bạn tù cũng như cán bộ đều thông cảm vì họ có người bị mù hay mắc chứng nan y do hậu quả bị tra tấn quá dã man, như cách hành xử của các cán bộ phụ trách an ninh trại Thung lũng tử thần, đó là khi đang làm việc với ai cũng thường dùng các vật dụng có sẵn trước mặt nào gạt tàn thuốc, chìa khoá... ném vào mặt các tù nhân một cách mạnh mẽ không kiềm chế, không cần nghĩ đến việc sẽ gây hậu quả thương tích như thế nào đối với các tù nhân. Và thường xuyên khi làm việc với tù nhân nào cũng dùng roi điện đánh cho máu me của tù nhân đổ ra rồi ép cung cho vào nhà kỷ luật, mà nguyên nhân những chuyện xảy ra chỉ là nhỏ nhặt song chúng đều qui kết thành những con voi như vào tù mà còn “bán nước, hại dân, phản động...” Các cán bộ nầy lại là những kẻ vòi ăn của tù nhiều nhất, hầu hết về sau bị bắt quả tang nhận hối lộ của tù, hoặc đang hủ hóa vợ của nhau.
Say mê xung động xuất hiện có tính chất từng cơn, thường là các khát vọng xâm chiếm lý trí, chế ngự toàn bộ tác phong người bệnh. Người bệnh nhớ lại thời gian lên cơn một cách không hoàn toàn. Một Giám thị trại Xuân Lộc, Đồng nai, gặp ai y cũng la lối chỉ chỏ thế nầy thế nọ để tỏ ra ta có quyền lực. Thậm chí cả những tiếng chửi thề được văng ra để tỏ uy quyền. Với quyền lực giám thị ở một phân trại nhưng gần như y có toàn quyền quyết định về mọi vấn đề trong sự triệt hạ con người cũng như đối với các cán bộ dưới quyền của y. Nơi đây không còn luật pháp và nếu có chỉ là cái bóng để y lộng quyền. Tù nhân nào muốn đi phép về nhà cũng được, chỉ cần đút lót cho y. Tù nhân nào muốn ở lại với vợ hai vợ ba cả tháng cũng không sao vì y nhân danh chính sách mở cửa và cho xây nhà hạnh phúc để các tù nhân ở lại với gia đình, và ai cũng rõ muốn ra tự giác thì hối lộ cho y là được ngay...  Bảy đầu rìu là một Trưởng trại gian ác khét tiếng, cách cai tù của y giống như một lãnh chúa đầy uy quyền, và thật sự y có toàn quyền sinh sát trong tay. Các cán bộ dưới trướng của y đều một thưa hai dạ. Thế nhưng đã có một cuộc kiểm điểm xảy ra trong hàng ngũ cán bộ, đó là kiểm điểm “Chú Bảy” về việc dùng xe con của cơ quan để đưa một nữ tù nhân đi về thành phố, tù nhân nầy vốn đã rất đẹp nên được nhiều cán bộ để ý, vì tội trốn ra nước ngoài, và các cán bộ đã kháo nhau đến tai tù nhân: Ông Bảy đã đưa người đẹp đi phá thai... Hành vi xung động khác thường của tên trưởng trại này nhiều khi như điên loạn diễn ra trong việc sát hại tàn nhẫn các tù nhân trốn trại mà không chờ đợi có sự xét xử của toà án, với cái tên

Bảy đầu rìu cũng đồng nghĩa vói sự giết chết bao người vô tội từ trong chiến tranh cho đến hoà bình, mà tất cả nhìn lại chỉ toàn là người Việt Nam, nhưng con người vô học đó có một sức mạnh, nó được trang bị bằng niềm tin: không cùng giai cấp vô sản là kẻ thù, và kẻ thù thì phải chết.
      
* *

Thiện Nam trở về, chàng ở tù gần hai chục năm, nhiều người may mắn còn sống với mức thi hành án còn cao hơn chàng. Thiện Nam nhớ lại những gì trên đất nước nơi mình sinh ra mà phân nửa cuộc đời bị giam trong tù: một đất nước có nhiều núi cao, sông sâu, có cả cao nguyên êm đềm với rừng vàng biển bạc, các đồng bằng và ruộng muối phì nhiêu. Tất cả những yếu tố môi trường đó, có lẽ đã tạo ra những con người Việt Nam mang những đối cực khác nhau, trong tù không có ngày nào mà không có đánh nhau, cũng như trên đất nước nầy không có giai đoạn lịch sử nào mà không có chiến tranh -Chiến tranh gây hận thù đến ngay cả những kẻ gieo mầm không hận thù cũng trở thành kẻ bị hận thù. Bao con người làm điều phi nghĩa nhưng luôn dựng cờ chính nghĩa, một dân tộc có nhiều đền thờ nhưng các bậc chân tu khả kính rất ít, giống như các vì vua minh triết đếm được trên đầu ngón tay ở đất nước này.
Một đất nước với nhiều đối cực đến hận thù rồi trả thù, đây cũng là nét đặc trưng của nhiều dân tộc về tính dã man vẫn tồn tại trên hành tinh nầy. Trong huyền thoại về sự hình thành của người Việt: khởi thủy từ một trăm cái trứng nở ra trăm người con, thời năm mươi lên núi và phân nửa kia xuống biển... nghĩa là ngay từ đầu đã là một đối cực. Và một khi đối cực đó không còn là sự tương sinh mà là đối đầu, rồi được trang bị bằng các học thuyết từ bên ngoài; ở đây và bây giờ, việc giết người trở nên có chính nghĩa qua cái được gọi là: đấu tranh giai cấp.
Chính trường Việt Nam từ thôn xã đến phường, quận, huyện là một bãi chiến trường tranh giành, đố kỵ, tỵ hiềm vì miếng đỉnh chung. Ngày trước miếng đỉnh chung nầy được chia cho các dòng tộc, nhưng dù sao trong thời kỳ nầy còn có dòng họ nầy dòm ngó dòng họ khác, khiến nó luôn tồn tại trên căn để dòng tộc nào tốt hơn. Song hiện nay nó là thứ độc quyền đảng trị, không có mặt đối lập, nếu có là triệt hạ đối phương, nó không xuất phát từ khát vọng hay nhằm giải quyết các mâu thuẫn, nhưng chỉ gây nên các hận thù, đến triệt hạ nhau hoàn toàn, nó không xây dựng trên lề luật của các giá trị chung, giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại cùng công nhận. Một dân tộc đã có thể đi từ nhà nước tự nhiên đến văn minh làng xã qua triết lý Cái Đình - là biểu tượng cho sự khiêm tốn, đoàn kết, biết tha thứ trong yếu tính dân chủ để bầu lên những nhà lãnh đạo từ dân qua các nghị hội, như hội nghị Diên Hồng thật sự là ngày đoàn kết của dân tộc.
Thiện Nam suy nghĩ, như vậy chính yếu tố nào đã tạo nên dân tộc nầy “bất đảo ông”, các yếu tính xuất phát từ bên trong nhiều khi tưởng chừng như tan biến: nào tình làng nghĩa xóm, một xã hội làng tộc đượm tình người: biết kính Trời, yêu Người, thảo kính Cha Mẹ và giết người quả là điều thật kinh tởm hoàn toàn xa lạ với người Việt Nam... Nhưng nó quả là một thứ di truyền mang tính lặng, nó là trụ cột chống đỡ theo biến dịch của thời gian.
Ở đây và bây giờ, vào một buổi sáng, xảy ra cuộc hội thảo về Hiến pháp Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tại trại giam Xuân Lộc miền Nam Việt Nam, các tù nhân đã đứng lên và yêu cầu sửa đổi Hiến pháp, yêu cầu tự do dân chủ, nhất là tự do tôn giáo, đa nguyên chính trị. Họ là những con người không có một tấc sắt trong tay, nhưng có trái tim sắt quả cảm. Tất cả đều bị kiên giam cùm kẹp sau đó. Họ là Quý Đại đức thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cùng sự nhiệt tình ủng hộ của Quý Tu Sĩ thuộc Dòng Đồng Công, có cả sự hiện diện cổ võ của các Đảng viên cấp tiến cao cấp bị vào tù; còn một Linh mục học giả khả kính, Dòng Tên, trước đó, ngay tại trại giam Thung Lũng

Tử Thần đã đòi mang tất cả các Tổng bí thư cộng sản ra xét xử vì tội chống nhân loại cùng kêu gọi mọi người biết kiềm chế bao dung, và nhiều tù nhân khẳng khái khác như có vị Bác sĩ từng được đề cử giải Nobel Hoà Bình đã chất vấn viên đứng đầu việc quản lý tù nhân cả nước:
-Các anh đã dùng thuế của dân vào việc gì khi điều kiện giam giữ con người quá tồi tệ - rồi Bác sĩ chỉ tay vào mặt Tướng quân nầy và nói: -Chính các anh mới cần được cải tạo.
Cả phòng giam lúc đó xôn xao lên cùng tán dương: -Hãy lượn đi cho nước nó trong.
  Quả thật, Họ là những con người không sợ chết và cái chết nếu có xảy ra, nó chỉ là sự khởi đầu.

 

Chàng trở về,
dù chưa thật về nơi vĩnh hằng, nhưng Thánh vịnh như trỗi lên trong tâm trí chàng: “Khi Chúa thương gọi con về lòng con hân hoan như trong một giấc mơ”.
Đúng thật là một giấc mơ khi ra khỏi các trại tập trung dưới chế độ cộng sản.
Chàng đi về trên cõi quê, chắc chắn là thế, vì nơi nào có Ba Mẹ chính đó là quê hương.
Và như trong mơ, Thiện Nam tiếp tục cầu nguyện: Lạy Con người tự thân Con người. Nguyện danh Con người tỏa sáng. Nước Con người trị đến: Ý Con người thể hiện như nguyên uỷ vốn Thiện. Xin cho Con người hằng ngày dùng đủ. Và tha thứ cho nhau như Con người đối xử với nhau cho ra Con người. Chớ làm cho nhau sa chước cám dỗ, nhưng cùng nhau cứu khổ, cứu nạn. Ước được như vậy. 

 

Hết phần một.