BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 24

Rối loạn thần kinh

 

Các triệu chứng rối loạn cảm xúc, đối với một đối tượng, một sự việc nào đó lại có hai loại cảm xúc trái ngược nhau như vừa yêu vừa ghét, vừa thích cười vừa không thích, thường gặp trong tâm thần phân liệt. Các tù nhân thuộc các tổ chức khác nhau, họ luôn đùm bọc nhau trong cùng cảnh ngộ, nhưng lại không ưa nhau vì sự đố kỵ giữa tổ chức nầy với tổ chức khác, giữa mặt trận nầy và mặt trận kia. Tâm trạng chung của các tù nhân là mong sớm được đoàn tụ với gia đình nhưng lại ngại giảm án vì sợ mang tiếng xấu là không còn khí tiết, mất phẩm chất... Nhưng với những người cộng sản có “thủ tiết” thì lâu lâu họ cũng “đè ra” và giảm cho vài tháng, việc nầy giống như gắn huy chương cho những người vốn chế độ không ưa lúc sắp chết hoặc đã chết lâu rồi nhưng vẫn triệu hồn dậy rồi nhờ người thân đứng đỡ để gán. Vào thời gian có sự cởi mở, các tù nhân mừng được gặp và ở lại với gia đình cả tuần lễ tại nhà thăm gặp, nhưng ưu tư lo lắng vì các bạn tù khác sẽ nghĩ xấu về mình như đã biến chất nên mới được ra nhà hạnh phúc lâu đến thế. Một ít giáo viên và tu sĩ vào tù được cho dạy con cán bộ, dạng trí thức nầy không thiếu trong nơi khốn cùng, họ đảm trách công việc văn hoá, thông tin, đây là công việc thuộc loại “quí tộc” trong trại giam mà là trại Thung Lũng Tử Thần, không phải lao động khổ sai cũng như chết rũ trong kiên giam như các bạn tù hay Tu sĩ khác, trên nét mặt thường nghiêm nghị không ai biết được các vị nầy có khi nào nghĩ lại tại sao mình được ưu tiên đến thế, mà vốn cộng sản rất ghét Thiên Chúa giáo cũng như trí thức. Người ta chứng kiến chỉ một hai ba Tu sĩ  thuộc dạng nầy.
Cảm xúc trái ngược như nghe tin người thân mất mà lại tỏ vẻ mừng mừng, nhận được tin vui mà lại buồn rầu. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt. Các tù nhân bị giam giữ nơi những vùng núi non hiểm trở, mỗi khi gặp gia đình thường đều có sự vui mừng lẫn lộn vì các tin tức lành, dữ thường cô đọng lại có khi đến hai, ba năm mới gặp một lần. Do đó, trước các tin về người thân mất mát, họ thường tỏ vẻ tự an ủi: thôi ra đi cho khoẻ, sống mà khổ sở quá thà đừng nên sống. Thật vậy, cuộc sống quá khổ cực trong tù khiến họ liên tưởng đến người thân ngoài xã hội cũng như thế. Trước các tin mừng như con cái lập gia đình.v.v… họ cũng không vui, và thường là buồn rầu vì họ nghĩ đến ngày vui ấy không có sự hiện diện của mình. Trước các tin giảm án, họ cũng không thích, mặc dù có mừng vì rút ngắn được thời gian ở tù, nhưng những người trong tổ chức sẽ đánh giá mình tha hoá chăng? Ngược lại không giảm cũng buồn, vì không sớm được đoàn tụ với gia đình, nhưng cảm thấy vui qua sự tự an ủi: mình là người khí tiết, thủy chung  mới đến nông nỗi nầy.
Lo âu, người tù có cảm giác luôn luộn bị đe doạ bởi một cái gì rất đáng sợ. Hiện tượng nầy hay gặp trong nhiều bệnh tâm thần và là triệu chứng chủ yếu trong loạn thần kinh lo âu  như không biết sắp tới mình có được thăm gặp hay không, nào án cao quá không biết có ngày về, nhất là nếu hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ, sự việc khiến họ càng thêm bi quan, từ lo âu trở nên trầm cảm, ngoài giờ lao động họ thường trùm mền và nằm yên tại chỗ. Nhiều tù nhân án cao luôn tỏ nỗi băn khoăn lo lắng của mình với mọi người: nào không biết thư có đến được gia đình và tại sao trong một thời gian dài mình không nhận lá thư nào cả khi bị giam giữ nơi rừng sâu nước độc... không biết có ngày về hay không. Từ sự lo âu thái quá đến nóng nảy, họ thường hay gây gổ với các tù nhân khác, đánh nhau thường xuyên từ những nguyên nhân không đâu vào đâu cả. Sau những vụ ẩu đả, họ cũng nhận ra điều đó, nhưng cái nhiệt độ trên bốn mươi độ C vào trưa hè giữa rừng sâu... họ lại tiếp tục lo lắng, bực bội và lên cơn gây gổ... Các tù nhân luôn cảm nhận về các nguy cơ khó tránh, nhưng không xác định được đó là cái gì, kèm theo bực bội, cảm thấy bất lực trước nguy cơ đó. Lo âu nặng hơn sẽ kèm theo xao xuyến, cảm thấy hồi họp, ngộp thở, khó ngủ, mệt và khó chịu toàn thân, các tù nhân thường có hội chứng chung về sự mệt mỏi gọi là Oải.
Ngoài ra, các tù nhân thường cảm thấy thua thiệt trước những thất bại, họ tự ti, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác, không còn tự lo được gì cả, nên ngoài giờ lao động, thời gian còn lại họ chỉ mong sao có ai gọi nhờ vả việc gì để làm cho qua ngày tháng, nhất là công việc nấu nướng hằng ngày tất cả đều rất thích. Nếu không có việc gì thì mang quần áo rách ra vá lại đến hết giờ. Họ có điểm chung nầy: hay ngồi thinh lặng mọi lúc có thể để lần hạt đọc kinh lẩm nhẩm trong miệng hay niệm Phật... Họ phó thác tất cả: Con xin vâng.
Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén không hiện ra được, không nói ra được... mà có nói ra nếu không khéo lọt đến tai của quản lý trại giam có thể bị cùm kẹp, kỷ luật. Đặc biệt, ở trại giam cán bộ quản giáo chỉ làm tăng thêm sự xao xuyến lo âu chứ không làm giảm nhẹ, thật vậy lúc nào họ cũng gây nên các khó khăn cho tù, khủng bố, đe doạ bằng mọi cách. Từ khi xuất trại, trên hiện trường lao động, đến lúc trở về, các tù nhân chỉ nghe thấy toàn một thứ ngôn ngữ thúc dục, chửi bới, la mắng, đe doạ từ miệng của các quản giáo và quản chế như: nhanh lên, đá cho nó vài đá, thằng nào chống đối hãy bước ra đây, cho nó vào nhà cùm, không lao động cúp thăm nuôi, không cho nhận quà, không được nhận thư, viết thư.v.v. Thật sự những vụ đấm đá xảy ra thường ngày, có khi quản giáo, quản chế mới học võ ngứa ngáy tay chân hay gọi các tù nhân vào giữa các lùm cây rồi đánh đá cho đã tay chân... Khiến các tù nhân mỗi khi xuất trại, nhất là ở các đội trọng án thường lo âu, xao xuyến đến sợ hãi vô cùng.
- Cán bộ Nhàn quản giáo đội trọng án tại trại A30, thuộc miền Trung Việt Nam, đánh đập, khủng bố tù nhân một cách tàn nhẫn. Tuổi chưa tới ba mươi.
- Cán bộ Thẩm, cũng như cán bộ Nhàn nêu trên.
- Cán bộ Nên, cũng như cán bộ Nhàn, Thẩm nêu trên, ngoài việc đánh đập còn cắt cả nhượng chân của các tù nhân trốn trại bị bắt lại.
- Cán bộ Lâm, Thi, tuổi chưa đến ba mươi, phụ trách an ninh của trại Thung lũng tử thần thì mỗi khi làm việc với ai, thường dùng roi điện và bắt nằm xuống đánh cho hộc máu, bầm mình rồi dẫn vào nhà cùm mới buông, hai hung thần nầy đều nhỏ con, nước da lúc nào cũng tái mét, đặc biệt Thi chỉ cao hơn một mét, và cũng là một trong những cán bộ đã đánh nhiều người đến hộc máu và chết trong đó có Linh mục Quang Minh. Con người sinh ra vốn làm điều thiện và một đôi khi phạm phải điều ác, nhưng với những con người nầy hầu như không bao giờ biết làm lành, chúng sinh ra chỉ để làm điều ác sao mà ác thế. Cũng giống như cụ Tôn nọ, tuổi ngoài bảy mươi, cộng tác đắc lực với các cai tù trong việc bách hại tù nhân, khi bị phê phán, cụ tuyên bố luôn: “Từ khi sinh ra đến giờ tôi chưa từng biết làm điều thiện”.
Rối loạn tư duy qua ngôn ngữ như tư duy phi tán, quá trình liên tưởng của người bệnh rất nhanh chóng, các ý nghĩ, nhận xét xuất hiện nối tiếp nhau mau lẹ và nông cạn trong đầu óc các tù nhân loại nầy. Ý tưởng họ luôn luôn thay đổi theo tác động bên ngoài. Trường hợp nầy có thể gọi là cơn lốc của tư duy. Họ nói thao thao bất tuyệt, việc nọ chưa xong đã nói sang việc kia, không có một chủ đề nào nhất định cả. Thường gặp trong trạng thái hưng cảm, có người nói hứng thú đến lắp bắp, kẻ khác nói hứng thú đến các răng cà như đánh nhịp san sát với nhau.
Tư duy dồn dập, các tù nhân loại nầy trong đầu óc luôn dồn dập đủ mọi ý nghĩ. Những ý nghĩ nầy xuất hiện ngoài ý muốn và người bệnh không sao ngăn cản được. Họ luôn luôn nghĩ trong đầu mà theo họ không thể viết ra hết đựợc, nào hết học thuyết nầy đến học thuyết nọ, nào chương trình kinh tế vĩ mô nầy đến chương trình kinh tế khác, nền đạo đức nhân bản nầy đến nhân văn kia. Và trong cái đói cồn cào của bao tử khiến tư duy không ngớt nghĩ về các món ăn và cách nấu nướng... Hầu hết các tù nhân đều luôn có ý nghĩ miên man về mọi vấn đề mà thực chất không hình thành đến đâu cả, nhưng cứ suy tư. Họ cho biết: nằm suy nghĩ hết chuyện nầy đến chuyện khác đầy những toà lâu đài tưởng tượng nhưng không đâu vào đâu cả... Nhất là lúc nằm kiên giam chỉ có ngủ và nghĩ ngợi về đủ mọi thứ chuyện... non sông đất nước, nó như là cái nghiệp của đời mình, nhưng nghĩ mãi không đâu đến đâu cả vì cái học của mình quá ít, không thể hình thành các tư tưởng cũng như các học thuyết được. May ra nó chỉ có tên mà không có nội dung.
Nói hổ lốn, người tù nói luôn mồm, ý tưởng linh tinh và nội dung vô nghĩa. Gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và trong trạng thái tâm thần sa sút. Có một số tù nhân nói luôn mồm nhưng không có nội dung. Những ý tưởng về mọi thứ nhưng không rõ ràng, như thường phê phán về nhân vật chính trị nầy hoặc chính khách nọ. Nói xấu hết người này đến người khác và cuối cùng nói xấu lẫn nhau. Hầu như trong lĩnh vực chính trị không có sự nghĩ tốt về người khác. Như thường tung ra các tin tức thời sự suy diễn theo các bản tin chính thức của nhà nước như nào có tin đồn như thế nầy thế nọ, thậm chí  các bạn tù thường kháo với nhau về loại người đó: “vừa vào nhà vệ sinh xong trở ra đã có tin mới”... Tù nhân thuộc nhóm nầy nói luôn mồm, nhưng những ý tưởng không có chủ đề gặp đâu nói đó, nói trước quên sau. Họ có thể nói suốt ngày, gặp ai cũng có chuyện để nói mà nội dung thật sự không có gì cả ngoài mấy cụm từ: ăn chưa, ngủ chưa, bao giờ gia đình đến, mệt quá, thật là oải...
Về phía cán bộ trại giam, họ nói nhiều hơn ai hết với những lời sáo rỗng thuộc lòng, những danh từ triết học cao xa mà thật sự chính họ cũng không hiểu nó mang ý nghĩa gì, rõ nét nhất qua phát biểu của một anh cán bộ ở cấp thấp là quản chế cũng phát biểu như các lãnh tụ của chúng: các anh phải cố gắng lên, chúng ta tiến lên xã hội chủ nghĩa không thông qua tư bản chủ nghĩa, chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ.v.v. Một Cán bộ, tuổi ba mươi, nhưng nhìn bề ngoài thật khó đoán về tuổi tác, những cán bộ quản lý trại giam cũng như các cư dân quanh vùng trong thời kỳ “quá độ” này, vì họ có cuộc sống quá cơ cực nơi rừng sâu nước độc, nên đều lão hoá trước tuổi rất nhiều. Có câu chuyện thường kể lại giữa các tù nhân: một hôm trên đường lao động, các tù nhân chào người phụ nữ đi ngang qua “Mẹ đi đâu đó...”. Nhưng người phụ nữ nầy liền đính chính ngay: “Tôi năm nay chỉ mới ba mươi...” vì người chào ngoài bốn mươi... Cán bộ lão hoá thật sự mới ba mươi nầy đánh tù rất dữ và thường thích đánh ở hai đầu gối, có khi sưng to thành đầu voi, nhưng đặc biệt khi nghe giọng nói địa phương của y là hết đánh nguyên văn: “Mi ở Quoảng hả... tau thoa cho mi...” Rồi y thường thuyết giảng về chủ nghĩa Mác Lê nin bách chiến, bách thắng, đừng chạy theo tư tưởng Phương Tây, về cải tạo chỉ có hai con đường hoặc về với gia đình hoặc ra lô sáu tức nghĩa địa mà nằm. Cũng như các cán bộ quản giáo khác khi trở về “ vùng lãnh địa của ta”, y có cò mồi riêng luôn vòi vĩnh quà của các tù nhân mới thăm đem cống nạp cho y... Một cán bộ khác, phụ trách an ninh trại Xuân Lộc thuộc miền Nam Việt Nam, miệng luôn mồm nói về con đường tiến lên chủ nghĩa cộng sản, lúc đó của cải như không khí, con người như thánh hiền.v.v. nhưng hằng ngày chỉ thấy y là một hung thần, hoặc làm ra của cải đâu không thấy, song chỉ toan vòi vĩnh xin quà của các tù nhân. Và đối với các cán bộ nầy khi nói về những vấn đề như thế là một vinh dự, còn xin quà tước đoạt của tù nhân thì đó là vì cuộc sống “cộng sinh, cộng sản là của cải chung, nên đóng góp vào...” Y cười và nói thoả mái.
Tư duy chậm chạp, các tù nhân sau một thời gian dài bị giam giữ, do bị tra tấn, thiếu dinh dưỡng trầm trọng thường dẫn đến tư duy chậm chạp, nó trái ngược với tư duy phi tán, quá trình liên tưởng ở người bệnh hết sức chậm. Họ suy nghĩ khó khăn, chậm chạp, nội dung đơn điệu, nghèo nàn. Các tù nhân rơi vào chứng nầy nói rất chậm, dừng lại rất lâu sau mỗi câu nói, hỏi mãi mới trả lời. Thường gặp trong trạng thái trầm cảm. Họ có đôi mắt lõm sâu không phải vì mất ngủ mà chính vì thiếu ăn, và một khi thiếu ăn thì có muốn ngủ cũng khó an giấc. Mỗi khi ai nói hay nhắc nhở điều gì, các tù nhân nầy thường ngước mắt nhìn lên có khi há hốc mồm một lúc lâu mới hiểu ra vấn đề. Và để có được câu trả lời phải mất ít phút, còn với những câu phức hoặc những vấn đề phức tạp thì dường như họ không nghĩ ra được. Nên trong mẫu đối thoại những người thuộc nhóm nầy thường có câu hỏi đuôi: ai nói gì vậy ?
Tư duy ngắt quãng, người tù trong khi đang nói chuyện, dòng ý tưởng bị ngắt quãng làm cho họ dừng lại không nói được, mãi về sau mới tiếp tục nói đôi lời, hoặc bỏ dở câu nói trước sang chuyện khác. Thường gặp trong bệnh tâm thần phân liệt. Một Linh mục, ngoài bốn mươi, sau ba năm kiên giam vì bị vu oan âm mưu thành lập chính phủ trong tù với chức vụ Thủ tướng, khi tiếp xúc với ai, suy nghĩ của Người luôn bị cách quãng và lời nói cũng bị cắt đứt, đang nói vấn đề nầy bỗng quên mất rồi chuyển sang chuyện khác, một hồi lâu lại chuyển sang chuyện cũ. Tù nhân khác, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, dưới ánh mắt sâu của cặp kính cận sau hơn chục năm trong các trại lao cải, vị Y sĩ trưởng một bệnh xá ở trại Thung Lũng Tử Thần tư duy luôn bị ngắt quãng, mỗi khi muốn diễn đạt điều gì, hoặc đang nói chuyện với ai thì quên bẵng không biết mình đang nói gì, mãi một hồi lâu mới nhớ lại và tiếp tục câu chuyện. Ông cứ thanh minh như một thái độ phân trần: Ở tù lâu, nó là như thế.
Tư duy lải nhải, các tù nhân kể một cách tỉ mỉ những chi tiết thứ yếu của sự việc và rất khó chuyển sang nội dung chủ yếu. Ta rất khó lòng nghe hết những lời kể của các tù nhân loại nầy. Thường gặp trong bệnh động kinh. Đặc điểm của loại nầy là các tù nhân rất thích kể về quá khứ. Các tù nhân cao niên luôn kể về quá khứ của mình một cách say sưa và cứ lập đi lập lại như thế, đó là câu chuyện của các cụ già lải nhải, có khi thật lẩm cẩm, song cũng là dịp các cò trong tù dùng nó để hù doạ họ: cải tạo mà còn nhớ về quá khứ, rồi chúng mang các thứ quà của các ông già sợ hãi đáng thương đó đem nộp cho “đại ca cán bộ” của chúng.
Tư duy kiên định, các tù nhân mang chứng nầy luôn luôn lập lại một chủ đề nhất định, biểu hiện rõ trong khi nói chuyện hoặc trả lời thầy thuốc. Gặp trong chứng hoang tưởng của bệnh tâm thần phân liệt, loạn tâm thần phản ứng nhân cách bệnh. Do sự cảnh giác quá cao trước sự chụp mũ bất cứ lúc nào của các cán bộ cộng sản, nỗi ám ảnh về sự kiên giam lâu dài, khiến họ nhất cử, nhất động đều trả lời không biết, không nghe, không thấy. Mặc dù đóng vai như thế sẽ giúp họ được yên thân trong những ngày tù lâu dài, song theo thời gian nhóm tù nhân nầy trở nên trầm cảm, ít nói, lủi thủi, ẩn thân một mình. Cũng như các tù nhân khác vì quá sợ lao động khổ sai, nên giả vờ đóng vai bệnh nặng hơn, họ có cách thở do luyện tập giống như suyễn thật và mỗi lần đi khám bệnh có cách thở như thế sẽ được nghỉ trong ngày hôm ấy, do vậy khi bác sĩ hỏi họ chỉ có mấy câu trả lời thật gọn: mệt quá... rồi kéo... khò khè... Lần nào, ngày nào lúc nào đi khám bệnh tay cầm cuốn sổ và ngôn từ chỉ gọn bấy nhiêu.
Nói một mình, người tù nói lẩm bẩm một mình, nội dung không liên quan đến hoàn cảnh. Các tù nhân sau một thời gian phải chịu đựng lao động khổ sai, bị cách ly hoàn toàn với xã hội có người trở nên khủng hoảng, luôn nói một mình cả khi đi đứng mà không ai biết rõ nội dung là gì.
Nói tay đôi, các tù nhân loại nầy thường nói chuyện với một nhân vật tưởng tượng hay đang tranh luận với ảo thanh, gặp trong tâm thần phân liệt hoặc loạn tâm thần phản ứng. Họ thường ngồi Thiền và nói chuyện với một nhân vật hoang tưởng nào đó không ai biết, và theo họ mỗi lần ngồi toạ Thiền là nói chuyện với Thần tiên. Các tù nhân thuộc nhóm nầy sau thời gian ở tù quá lâu, họ trở nên trầm cảm, thường ẩn mình một chỗ sau giờ lao động và ngồi thì thầm với chính mình mà không ai biết rõ là gì.
Trả lời gián tiếp, hỏi một đàng, người bệnh trả lời một nẻo, không chú ý đến nội dung câu hỏi, gặp trong tâm thần phân liệt. Các tù nhân mắc chứng nầy hầu như không có sự thăm viếng của gia đình, hoàn toàn sống nhờ sự cải thiện rau cỏ ngoài trời, sau thời gian dài thiếu thốn vật chất, họ bị chứng ù tai, mắt mờ, tâm thần nghễnh ngãng, nghe một đàng hiểu một nẻo, hỏi việc nầy trả lời thế khác.. Đặc biệt lúc nào cũng có câu đệm : -Thế à... thế ạ... Một số tù nhân vượt biển hãy còn rất trẻ song do bị đánh đập thật tàn nhẫn lúc chấp cung, nhất là bị tra tấn bằng roi điện theo lời kể của những người trong tổ chức còn sống sót và chính họ sau đó chỉ còn nhớ là bị điện giựt nhảy tưng tưng lên mà thôi. Những ai muốn trao đổi chuyện gì họ thường hiểu rất ít người khác muốn gì, nên thường chỉ làm theo ý mình từ cách ăn uống đến sinh hoạt, như rau nhặt về chỉ rửa sơ và ăn chứ không chịu nấu chín... quần áo thì lại giặt giũ rất kỹ... ai hỏi gì thường không trả lời và sự trả lời thường là khác với nội dung câu hỏi.
Không nói có nhiều nguyên nhân do hoang tưởng và ảo giác chi phối, do liệt cơ năng cơ quan phát âm, do hoạt động tâm thần sa sút, bị rối loạn nặng đến lú lẫn. Có tù nhân án trên mười lăm năm, sau một thời gian dài giam giữ, anh trở thành một cái xác không hồn, như người bị câm, suốt ngày không nói gì hết, cũng đi lao động như các bạn hữu, song ai muốn chọc ghẹo gì anh cũng không trả lời với nét mặt không khó chịu, nếu không nói là vẫn vui, giữ hoà khí với mọi người. Một tù nhân khác, án trên mười năm, tuổi ba mươi, sau một thời gian dài lao lý, anh trở nên trầm nhược, kể cả lúc vợ con đến thăm gặp người tù nầy cũng không nói năng gì cả khi trực tiếp đối thoại với vợ con... Và tù nhân bất thường nầy án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau một thời bị giam giữ lâu dài, mất liên lạc hoàn toàn với gia đình, anh trở nên trầm cảm, ít nói dần dần im lặng hẳn trong cuộc sống hằng ngày. Tuy trên nét mặt vẫn còn vui vẻ với mọi người.
Người tù luôn lập đi lập lại một số chữ hay một câu, không ai hỏi cũng cứ nói, họ luôn nói giữa chỗ đông người, cũng như những lúc một mình: Ối trời ơi lâu quá không có thăm nuôi, mặc dù gia đình chỉ mới đến cách đó một vài tuần, ôi đói quá, ôi khổ quá... ôi trời ơi là trời... Mẹ ơi là Mẹ... Câu chuyện sau đã xảy ra với một tù nhân đáng thương trong lúc lâm bịnh nặng, án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thường lập đi lập lại một số từ như: -Nghiệp báo, nghiệp báo... chết, chết, trời ơi là trời... Tù nhân nầy bị lao phổi và sau đó bịnh nặng rồi chết trong trại giam. Người ta được biết lúc mới vào tù anh rất khoẻ mạnh, khi ra lao động khổ sai, nơi đây có quá nhiều người mắc chứng lao phổi khiến anh sợ hãi và có làm đơn lên ban giám thị yêu cầu cách ly những tù nhân nầy ra một khu riêng biệt, các tù nhân phản ứng dữ dội, vì họ vốn như những con cừu luôn cần sự sưởi ấm cho nhau. Vì yêu cầu đó mà anh bị các tù nhân khác cô lập cho đến ngày cũng mắc chứng lao phổi, nằm bệnh xá lâu dài và chết trong trại giam. Các bạn tù đến thăm viếng, anh chết trên vũng máu do thổ huyết... Và những từ luôn trên miệng anh, mọi người như vẫn còn nghe rõ: nghiệp báo... nghiệp báo. Và sự thật có thông tin ngầm trong thành phần bị lao phổi ở trại giam nầy, nạn nhân đã nhiễm lao do ăn phải thức ăn có đờm và máu của người bệnh nặng do quá phẫn uất trước đề nghị cách ly mà khạc vào. Thiện Nam cũng như nhiều bạn tù khác từng nhiễm lao ở trại nầy, có lúc bị xếp thành đội lao riêng biệt, có khi phân tán về các đội và chàng nhìn kỹ vào người theo các nguồn tin thân cận đã gieo mầm bệnh đến nạn nhân: người tù nầy nhỏ con, khuôn mặt trông bề ngoài hiền và sinh hoạt hằng ngày rất có tinh thần đồng đội. Khi tù nhân bất hạnh qua đời và người tù gieo oan nghiệt cũng sắp chết, Thiện Nam và các bạn tù chỉ nghe rõ anh ta nói một câu: Hãy cho nó chết... Trong lòng Thiện Nam và nhiều người, quả là với loại người hiền như thế nầy chỉ có “kính nhi viễn chi”.  
Đáp lập lại, đối với mỗi câu hỏi khác nhau, người tù trả lời bằng một câu nhất định. Linh mục đặc biệt nầy, án tập trung lâu dài, gần sáu mươi tuổi, Người nguyên là Giám đốc Trung tâm Fatima Sài Gòn rồi bị bắt giam, thường trả lời những câu hỏi khi làm việc với cán bộ: -Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng... Ngay khi viết các bản kiểm điểm, thay vì đề tên nước, vị Linh mục nầy cũng chỉ ghi Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng.
Nhại lời khi hai người bệnh không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi. Các tù nhân loại nầy rất thích nghe người khác nói chuyện, thích đối thoại, nhưng mỗi khi ai đặt câu hỏi, họ không trả lời trực tiếp, song chỉ lập lại câu hỏi, có khi lập lại nhiều lần. Hoặc rất thích nói chuyện, thích đàm đạo về mọi chuyện, nhưng mỗi khi có ai đặt câu hỏi thì tỏ ra hiểu câu hỏi, rồi không trả lời mà chỉ lập lại câu hỏi kèm theo các câu nhấn mạnh ở đuôi: -Thế hả, thế à... Các tù nhân khác hay trêu họ là những kẻ ù tai và ngày càng điếc thật.
Cơn xung động lời nói, người tù lầm lì suốt ngày không nói, nhưng thỉnh thoảng lại có một cơn xung động lời nói: nói một hồi lâu những câu vô nghĩa, tục tằn. Thường gặp trong tâm thần phân liệt. Có tù nhân bình thường ít nói, lầm lì, thế nhưng khi có sự bốc đồng về chuyện gì thường nổi cơn chửi rủa các đối tượng mà họ căm thù một cách thậm tệ với những ngôn từ thật  thô tục, có khi chỉ là một tràng chửi thề.
Rối loạn về kết âm và phát âm như nói khó, nói thì thào, nói lắp, nói giọng mũi, nói giả giọng địa phương. Một tù nhân án trên mười năm, tuổi bốn mươi, thích nói nhiều, nhưng phát âm rất khó, có khi nói lắp, có thể bị bẩm sinh từ nhỏ một phần, đến khi bị tra tấn theo lời tù nhân nầy thuật lại, anh bị đánh chấn thương nơi thanh quản bằng cú chặt karatê ngang cổ khi anh không chịu khai báo. Một trường hợp khác, vốn là một người quê ở đảo nên giọng nói rất khó nghe đối với người trên đất liền, và sau một thời gian ở tù, do ít giao tiếp cũng như sợ sơ suất trong lời nói sẽ bị chụp mũ, dần dần anh trở nên nói khó, âm thanh phát ra như thì thào không ai nghe rõ điều gì.
Rối loạn về ngữ pháp và lô gích của tư duy, có tù nhân khi diễn tả việc gì thường lộn cú pháp như: ăn cơm thì bảo cơm ăn; ăn thịt - thịt ăn; lao động - động lao; thăm nuôi - nuôi thăm... Tù nhân “Long bọ hung”, tuổi trên năm mươi, án chung thân, y nhìn mọi người như không ai còn gần gũi nữa, trở nên lạnh lùng với mọi người và nhiều khi vô cùng cộc cằn, thô lỗ với các bạn tù khác một cách hung dữ. Lúc đầu co rút vì sợ hãi về sau dần dần xa cách các tù nhân khác, rồi cộng tác đắc lực với cai tù đến độ các tù nhân đều gọi y là: Long bọ hung. Trong ánh mắt trắng dã của y không biết bao nhiêu người là nạn nhân trong sự vô cảm đến không còn cá tính của y từ sự rối loạn về cảm xúc. Song song với sự hành ác của mình y cũng tôn một Nhà sư làm sư phụ như để chứng tỏ với mọi người: ta cũng còn biết thế nào là thiện. Về sau không rõ sự cố diễn ra như thế nào, có tin là âm mưu trốn trại mà cả hai cùng vào nhà cùm tại Thung Lũng Tử Thần. Vị Đại Đức này có tên trong sự quý mến của các bạn tù là Thầy Ba, tức Thượng Tọa Thiện Minh sau này, song mỗi khi nghĩ đến người đệ tử bên cạnh này ai cũng ái ngại nếu không nói là sợ hãi trong các liên lụy.
Ngôn ngữ phân liệt, trong từng câu có thể dùng ngữ pháp, có ý nghĩa, nhưng giữa các câu không có liên hệ gì với nhau về ý nghĩa lô gích cả. Gặp trong tâm thần phân liệt. Ông “Thủ tướng” - chức vụ được đề cử của một Mặt trận, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mở đầu câu chuyện với những câu nhập đề ai cũng có thể hiểu được, song đến nội dung không ai biết tù nhân nầy muốn nói gì, đến kết luận người ta có thể hiểu được như: Tụi nầy sẽ chết, ám chỉ cộng sản, chúng bá đạo độc ác... cơ trời báo cho biết chúng sẽ không tồn tại lâu dài. Quỷ vương xuất hiện sẽ có quân vương ra đời, nhưng Thượng đế không chết thì Quỷ vương cũng khó mà chết... Chư Thánh, Mẫu Thánh sẽ độ trì, hà bá sẽ lôi chúng, diêm vương đang chờ chúng.... Cộng sản sẽ sụp đổ, chế độ toàn trị sẽ sụp đổ...
Ngôn ngữ không liên quan, tư duy người bệnh lộn xộn, họ nói ra những từ rời rạc không có mối liên hệ gì với nhau và không có ý nghĩa gì cả. Thường gặp trong trạng thái mê sảng và lú lẫn. Các Cụ tuổi ngoài bảy mươi, án cao, sau nhiều năm trong các trại lao động đều bắt đầu lú lẫn, nhiều lúc tới bữa ăn không nhớ rõ mình đã ăn rồi hay chưa, và luôn ngồi tính khoảng cách gia đình đến thăm gặp thường ba tháng một lần, nhưng phép tính trên bàn tay hình như với cụ nào cũng cứ lộn mãi, tuy nhiên trong cuộc sống hằng ngày quý cụ rất lạc quan và luôn vui vẻ.
Sáng tạo ngôn ngữ, các tù nhân trong tình huống nầy đặt ra một ngôn ngữ lạ lùng, người khác không thể hiểu được, loại tiếng nầy có tính chất tự kỷ và không thông dụng, thường gặp trong tâm thần phân liệt. Có tù nhân hay dùng tiếng dân tộc pha lẫn tiếng Việt mà chỉ có vài người trong nhóm của họ mới hiểu được, như nhóm Siêu Thiên Tử tạo riêng một số từ mà không ai hiểu gì cả ngoài vài người trong nhóm với nhau.
Tư duy hai chiều, người bệnh còn tiếp nhận các ý nghĩ, những câu nói hoàn toàn trái ngược nhau, gặp trong tâm thần phân liệt. Họ hay hiểu ngược lại những gì mà người đối thoại nói, trong cuộc sống hằng ngày họ rất tốt với mọi người, nhưng do trải qua nhiều lần kỷ luật và kiên giam khiến hầu hết trở nên nghi ngờ mọi trường hợp xấu đều có thể xảy ra, nên luôn đặt ngược mọi vấn đề và có khi hiểu ngược lại mới yên tâm. Cụ Lê Văn Tấn, án tử hình được tha tội chết xuống còn hai mươi năm, tuổi ngoài bảy mươi, sau bản án tử hình với thời gian nằm kiên giam khá lâu, cụ trở nên nghi ngờ mọi thứ, ai nói gì cụ luôn đặt ngược lại vấn đề, mặc dù cụ rất thương và giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ. Có khi lại hiểu khác ý chân thành của người khác khiến nhiều người bất bình nhưng thông cảm cho cụ.
Tư duy tự kỷ, người tù thu hẹp vào thế giới tự kỷ của mình, tách rời với thực tế, luôn luôn nói đến những vấn đề của thế giới bên trong kỳ lạ của mình. Gặp trong tâm thần phân liệt. Họ luôn nói về thế giới riêng của mình như những giấc mơ về những quần đảo thần tiên dù đang ở tù, hoặc giấc mơ về thế giới tuổi thơ. Họ luôn nói về tôn giáo, nói về Thượng đế trong thế giới suy niệm riêng của họ mà thật sự không ai hiểu nổi.
Tư duy tượng trưng, một “đạo sĩ”, án trên mười lăm năm, tuổi ba mươi, rất ít nói, và chỉ nói về một thế giới đại đồng mà Việt Nam sẽ đóng vai trò chủ yếu trong thế giới nầy vì Việt Nam có con sông Cửu Long là nơi hội tụ của nhiều sông ngòi. Tù nhân nầy cũng nói về thuyết đại đồng và cho rằng Việt Nam là trung tâm của thế giới vì Việt Nam có chín con rồng hội tụ thành một là con sông Cửu Long.
Rối loạn nội dung tư duy qua định kiến, hoang tưởng và ám ảnh còn gọi là ý tưởng quá đáng. Đối với một sự không vừa lòng nhỏ nhặt như sai hẹn, góp ý không chính xác. Tù nhân mang định kiến nầy cho đó là có tính chất coi thường họ, người tù luôn luôn nhớ tới việc đó, tỏ ra bực tức, đau khổ, và tìm cách phản ứng trả thù. Người bệnh không thấy chỗ sai của định kiến nên không có sự đấu tranh phê phán lại, nhưng với thời gian gặp hoàn cảnh thuận lợi định kiến sẽ mờ nhạt dần và mất hẳn. Hầu hết các tù nhân đều mắc phải thứ định kiến nầy, họ luôn cho rằng: cộng sản không còn là con người, vì thực tế họ chứng kiến các sự ác do những người cộng sản làm, họ không tin con người lại có thể giết đồng loại như thế, bách hại nhau lại có thể xem đó là hạnh phúc. Nhưng dần dần các định kiến nầy cũng bớt đi khi có một số cán bộ cộng sản cũng biết làm hoà với tù nhân để xin ăn từ các tù nhân có thăm nuôi thường xuyên. Các cán bộ cộng sản cũng vậy, họ luôn có định kiến với các tù nhân là tay sai của đế quốc, là phản quốc... Nhưng dần dần sống gần các tù nhân họ được cảm hoá vì thật ra những con người gọi là kẻ thù của giai cấp hôm nay, họ là những con người không chạy theo đế quốc mà ở tù vì đấu tranh cho quyền của con người, trong đó có chính họ. Các tù nhân nầy ngoài những người vì sợ hãi mà đút lót như mỗi sáng phải lo cho quản giáo một gói mì ăn liền để được xếp vào vị trí nấu bếp khỏi phải lao động khổ sai, còn hầu hết các tù nhân đều cho trong cách thế của con người với con người như một Tu sĩ Dòng Đồng công mỗi khi có cán bộ đau ốm, ông cho thuốc gấp đôi các tù nhân khác và thường là thuốc quí hơn nữa, khiến các cán bộ cai tù mỗi khi đau ốm đều chạy đến Thầy. Nên dần dần các định kiến nầy cũng đổi thay cả về hai phía, nhất là càng đi về phía các trại phía Nam .
Hoang tưởng là những ý tưởng phán đoán sai lầm, không phù hợp với thực tế khách quan, do bệnh tâm thần gây ra, nhưng người bệnh cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích phê phán được. Hoang tưởng chỉ mờ nhạt hay mất đi khi bệnh thuyên giảm và hồi phục. Tù nhân hay nói say sưa về một thế giới không hận thù, các tôn giáo hoà đồng trong Mặt trận Liên tôn... con người sống chung với nhau trên hành tinh nầy như sống dưới một mái nhà chung.
Hoang tưởng thứ phát xuất hiện trên cơ sở các rối loạn tri giác, cảm xúc, ý thức. Người tù trong tình huống nầy nhìn thấy những sự vật, những người chung quanh có một cái gì đặc biệt khác thường có liên quan đến mình. Họ giải thích cái đặc biệt, cái khác thường ấy theo lối suy đoán riêng của mình.
Một số tù nhân khi thấy cổng trại có lúc bị xiêu vẹo, thấy cờ bị rách thì nghĩ rằng chế độ cộng sản sắp tàn, thấy cán bộ cộng sản người nào hầu như chỉ biết dựa vào nhà nước, mà dựa vào nhà nước thì không no đủ, nên phải nhờ vả xin từng chút một của tù vốn đã túng thiếu như vòi từng tí bột ngọt, bột nem, ruốc... họ lại liên tưởng đến người thân ở ngoài xã hội có đi ăn mày như thế không.
Hoang tưởng suy đoán, nhiều sự kiện được họ giải thích một cách phiến diện và lệch lạc. Tất cả những gì trái với hoang tưởng đều bị bác bỏ. Hoang tưởng ngày càng hệ thống hoá và bền vững. Khi mới có hoang tưởng người bệnh còn giữ được khả năng lao động một thời gian dài và ngoài các hành vi bị hoang tưởng chi phối, người bệnh có thể sinh hoạt như người bình thường, làm cho người chung quanh phân vân không biết người ấy có bệnh hay không. Hoang tưởng suy đoán làm tan rã nhân cách người bệnh một cách sâu sắc. Đây là thứ hoang tưởng mà các lãnh tụ trong tù vấp phải nhiều nhất, như cộng sản Đông Âu sụp đổ họ suy luận lô gích chủ quan như đó là do cơ trời đã định rằng tới thời điểm đó thì cộng sản phải như thế... Khi được biết qua tin đồn từ ngoài xã hội sẽ có Cao uỷ Nhân quyền đến viếng trại giam thì lãnh tụ nào cũng hớn hở thậm chí còn chuẩn bị ra tuyên bố.v.v. Nhưng khi có Cao uỷ đến thì nhiều người bị mang đi cất giấu thật khổ sở, đến khi Cao uỷ đi thì càng cùng cực hơn nữa như bị đoạ đày đến nơi khó khăn gấp bội, trong khi các tù nhân loại nầy thường suy đoán là sắp được Cao uỷ rước đi mà nếu ai có ý nghĩ ngược lại họ sẽ cho có khi là đồ phản bội anh em..
Hoang tưởng cảm thụ, nó lệch lạc và chỉ là những ý tưởng rời rạc không liên tục, có tính chất từng mảnh. Người bệnh không tham gia tích cực vào nội dung hoang tưởng như trong hoang tưởng suy đoán. Hoang tưởng cảm thụ ngay từ đầu xuất hiện đồng thời với các triệu chứng tâm thần khác như rối loạn cảm xúc lo âu càng tăng, rối loạn tri giác kích động... Nội dung hoang tưởng có thể gắn với các sự kiện thực tế, hoặc mang tính chất hoang tưởng, nhân cách người bệnh không bị biến đổi nhiều. Trong một thời gian tại trại Thung lũng tử thần, các tù nhân luôn bị ám ảnh bởi chuyện đi Mỹ, ngay chiều về sau giờ lao động, các tù nhân đều chuẩn bị hành lý gọn để chờ người Mỹ đến rước, nên vào ban đêm khi nghe có tiếng rục rịch của động cơ máy cày, thậm chí của xe bò quanh trại giam ai cũng thức dậy uống nước trà và chờ đợi. Nhưng sáng hôm sau thì người nào cũng ngủ gục vì mất ngủ và rồi kiệt sức trên cánh đồng. Đây quả là hội chứng Mỹ quốc trong nhà tù cộng sản.
Hoang tưởng liên hệ, người tù nghĩ rằng mọi việc xung quanh đều có liên hệ mật thiết với mình. Như khi thấy hai người nói chuyện với nhau thì cho rằng họ bàn tán về mình, nghĩ rằng người ta nhìn mình một cách đặc biệt, xem thường mình. Những thái độ lời nói của những người chung quanh, người bệnh suy diễn cho là ám chỉ mình. Hình ảnh một tù nhân luôn bị ám ảnh, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, thường mỗi khi ai quan tâm đến, anh cho rằng họ đang theo dõi theo nguyên văn: Nhìn ánh mắt là tôi biết ngay mà, hắn đang theo dõi để báo cáo tôi. Khi diễn tả như thế anh nhăn nhó khuôn mặt vô cùng. Nhưng thật sự các bạn tù chung quanh chẳng có ai theo dõi cả, một đôi khi có người muốn thăm hỏi anh thế thôi. Một số tù nhân khác cũng đầy sự hoài nghi không kém, thật sự có lẽ do hậu quả của việc truy lùng, khủng bố liên tục trong nhà tù. Nguyên văn lời lẽ thường do suy đoán liên hệ: Tôi thấy hắn nhìn trong ánh mắt là sự theo dõi, những việc chúng làm không thể qua mặt tôi được. Nhưng sự thật nào có ai theo dõi, mọi cái nhìn của mọi người vẫn bình thường như mọi ngày.
Hoang tưởng bị hại, đây là tâm trạng chung của các tù nhân bị giam giữ lâu ngày, các tù nhân thường nghi ngờ rồi khẳng định một người nào đó, một nhóm nào đó theo dõi và tìm cách ám hại mình, như bỏ thuốc độc vào thức ăn, nước uống, tổ chức giết hại, bắt bớ mình. Đối tượng mà người bệnh nghĩ rằng ám hại họ thường là những người thân cận như cha mẹ, vợ con, bạn đồng nghiệp. Có tù nhân rất lạc quan vui vẻ, nhưng mỗi khi thấy bóng dáng của cán bộ cai tù thì ngay lập tức báo động cho các tù nhân khác biết trong cảnh giác cao độ đầy lo âu: -Bọn ám hại chúng ta đang đến gần... Khủng bố, khủng bố... Và mỗi ngày không biết có bao nhiêu lần báo động như thế.
Hoang tưởng bị chi phối, người tù cho rằng có người nào đó dùng quyền thế, phù phép hay một phương tiện nào đó để chi phối toàn bộ tư tưởng, hành vi, cảm xúc của mình. Ý tưởng bị chi phối thường là thành phần chủ yếu của ảo giác giả và hội chứng tâm thần tự động. Trong trường hợp nầy tù nhân tâm sự họ luôn bị một người nào đó dùng phù phép ám hại, vì trước đây họ đã từng bị ám hại như thế. Có tù nhân  mang ý nghĩ như dòng điện luôn chạy qua người khiến họ khó chịu trong cơ thể.
Hoang tưởng ghen tuông, hầu hết các tù nhân khi thấy có người bạn tù nào bị gọi làm việc hoặc làm việc định kỳ, họ đều cảnh giác về người đó, có khi họ nghi oan về người đó vì phần lớn đều dựa vào những bằng chứng không rõ rệt để cách ly tù nhân đó vì đã làm việc vào ngày đó và có những vụ kỷ luật xảy ra.v.v. Nhưng thật sự mạng lưới an ninh của cai tù được sắp đặt đã báo cáo cả rồi, và nạn nhân bị làm việc hôm đó đôi khi lại là một tù nhân khả kính nào đó mà cán bộ cai tù muốn chia rẽ họ với nhau.
Hoang tưởng tự buộc tội thường đưa đến ý tưởng và hành động tự sát. Tù nhân khác người Trần Đình Nguyên, án hai mươi năm, tuổi năm mươi, có lần quì xuống và van xin cán bộ cai tù muốn sai bảo chuyện gì thì y cũng làm, vì theo lời y tự đấm ngực là kẻ tội lỗi, nguyên văn: -Xin cho tôi được ăn phân cán bộ cũng xin kham, hằng ngày y vẫn luôn quì lụy mặc dù đã lớn tuổi. Song niềm hãnh diện và lúc nào cũng lấy làm tự hào trong con người nầy - đó là đồng hương với lãnh tụ tối cao và giọng nói địa phương của y chứng minh điều ấy là đúng trong số chín mươi chín cái láo lếu của con người nầy. Những ai trải qua trại Thung Lũng Tử Thần cũng như trại Chí Hoà vào cùng thời điểm với y, có lẽ sẽ không bao giờ quên nhân vật nầy, nên ghi lại nguyên văn tên họ là vậy. Thiện Nam có lúc bị phân bổ về đội do y làm đội trưởng và chàng đã chứng kiến những gì xảy ra về cái ác trong việc hành hạ các tù nhân: đó là sự thật.  Và điều nầy vẫn có sự lập lại: y luôn nói mình là người có tôn giáo nhưng theo các tù nhân y đã tố cáo người cha đỡ đầu mình và về sau người cha bất hạnh nầy đã biến mất khỏi trại giam Chí hòa mà không biết về đâu.
Hoang tưởng nghi bệnh, người tù tự cho mình có bệnh giang mai, ung thư, bệnh lao và đưa ra một loại bằng chứng về các bệnh nầy. Họ cho là bị lây bệnh trong hoàn cảnh nào đó, liên tục đi khám bệnh, họ không tin vào sự khám xét đó. Hầu hết các tù nhân đều mắc chứng nầy, vì môi trường thiếu vệ sinh của trại giam, cơ thể không đủ dinh dưỡng ngày càng còi hẳn, khiến các tù nhân luôn ưu tư về mọi thứ bệnh mà thật sự người nào cũng có bệnh, từ đau bụng tiêu chảy - chứng nầy rất phổ biến và thường xuyên trong tù, bệnh tim mạch đến lao phổi.v.v. Thật vậy các tù nhân đều mắc phải ít ra một trong các chứng đó.
Hoang tưởng tự cao, người bệnh cho mình thông minh, tài giỏi, xuất chúng, việc gì cũng làm được, sức lực mạnh mẽ không ai bằng... Có địa vị cao, quyền lực lớn, vàng bạc châu báu hàng kho. Các trưởng trại đều hoang tưởng rằng Đảng là Ta, Ta là Đảng mà Đảng đã thắng được đế quốc Mỹ thì không chuyện gì trên thế gian nầy mà không làm được. Một số các tù nhân như nhóm Siêu Thiên Tử nghĩ rằng Ta là con Trời, Ta  thông minh nhất, tài giỏi nhất, cái gì cũng nhất... và việc điều khiển cả thế giới nầy chỉ là thời cơ.
Hoang tưởng phát minh, người bệnh tuy không học tập về y khoa nhưng cho rằng mình đã phát minh ra những phương pháp điều trị các bệnh nan y có kết quả và viết tài liệu phổ biến các phương pháp đó... Người bệnh tự cho mình nghĩ ra những phát minh mới về vật lý, hoá học độc đáo kỳ lạ, những phương án cải tạo và xây dựng xã hội phi thực tế và đem trình bày với mọi người, tìm cách thuyết phục họ thừa nhận. Trong các trại lao cải luôn xuất hiện các thầy thuốc nam, họ đều là những “nhà phát minh” ra các công dụng của cây cỏ, dù hiệu quả của các dược liệu nầy không xa lạ với các thầy thuốc Đông y truyền thống, tuy vậy nó lại được cán bộ cộng sản khuếch đại rất nhiều để chữa trị bệnh tâm lý của tù nhân vì môi trường tù rất thiếu thốn mọi thứ khiến tù nhân nào cũng bị ám ảnh đến bịnh hoạn của chính mình. Quả thật những “nhà phát minh” thì trốn tránh được không phải lao động vất vả như các tù nhân khác, còn các cai tù thì chữa trị được nhiều thứ bệnh cho tù nhân đến gần cái chết hơn mà không bị tai tiếng, cũng như không mất một xu nào cả.
Hoang tưởng được yêu, người bệnh cho rằng có nhiều người yêu mình say mê đắm đuối, tìm cách gặp mình để biểu lộ những say mê tha thiết đó nhưng họ không yêu lại. Chứng hoang tưởng nầy các lãnh tụ cũng như các chức sắc tôn giáo trong tù đều mắc phải, họ luôn nghĩ có nhiều người ái mộ, tôn sùng mình.v.v. và Ta là “cái rốn trong thiên hạ” nên vì cái chung sẽ không thiên vị ai; còn về phía những người đến với họ, sự thật phần lớn các chức sắc thường thăm nuôi đầy đủ hơn mọi người, nên họ đến sự thường không vì các giá trị tinh thần.
  Hoang tưởng nhận nhầm, người bệnh khi bố mẹ đến thăm thì không thừa nhận mà cho rằng những người đó giả dạng bố mẹ mình. Ngược lại khi người lạ xuất hiện thì lại cho là bố mẹ mình. Đôi khi họ nhận những người bệnh khác là những người thân thích. Loại hoang tưởng nầy thường mắc phải đối với các tù nhân khi mới vào trại giam, vì từ môi trường tự do ngoài xã hội sang môi trường mất tự do, họ trở nên sợ hãi vô cùng khiến sự xác định nơi mỗi cá nhân trở nên hoài nghi về mọi thứ, nhất là trong lúc điều tra bị trấn áp khủng bố họ lại càng đa nghi về mọi chuyện, như quà từ gia đình gửi đến thường chỉ qua song cửa sắt và không được gặp trực tiếp người thân, nên họ nghi ngờ có thể là thuốc độc để sát hại họ, nên có người không chịu nhận quà vì cho đó là của cai tù bỏ thuốc độc để sát hại mình.v.v. Có khi cha mẹ đến thăm họ cho là giả, mới nghe tên chưa được gặp họ đã từ chối vì cho là sự dối trá của cơ quan điều tra...Một tù nhân trẻ án hai mươi năm, tuổi chưa đến ba mươi, sau một thời gian ở tù, đã từ chối gặp gia đình khi có người thân đến thăm, anh nói thật tình trong sự đáng thương: Tôi không còn người thân nào cả, đừng lừa dối tôi... Tôi không còn người thân nào cả. Thật sự người tù bất hạnh nầy đã trở nên bất bình thường và sau đó đã mang chứng tâm thần rất nặng trong tù.
Hoang tưởng gán ý, người tù tri giác các hiện tượng, sự việc xung quanh như là dấu hiệu tượng trưng, có ý nghĩa riêng biệt đối với họ. Trên đường đi gặp một cái hố thì họ cho rằng hố là tượng trưng cho cái huyệt chôn người và báo hiệu rằng họ sẽ chết trong một ngày gần đây. Như trại Thung Lũng Tử Thần có giai đoạn ngày nào cũng với vài người chết, phần lớn là tù hình sự, nên thấy cây ngã thì bảo thế nào cũng có tù bị đánh vì thật sự ngày nào lúc nào các tù nhân cũng bị đe dọa cùm kẹp...Có một số tù nhân sau thời gian dài ở tù vẫn còn nhớ đến chuyện đánh số đề từ ngoài xã hội như thấy con số 3,4,5... đều nghĩ đến những con thú có số liên hệ, và thật sự khi các tù nhân được tự giác, những người nầy đều tham gia vào trò chơi cờ bạc, thậm chí lúc còn trong trại giam vẫn chơi qua trung gian các tù tự giác hoặc cán bộ cai tù mua số hộ.
Hoang tưởng đóng kịch, cùng một người nhưng khi đóng vai nầy vai khác, người nầy thay đổi vị trí cho người kia và hoàn cảnh chung quanh cũng biến đổi không ngừng. “Ra khỏi nhà là phải mang mặt nạ”, thế nhưng với các tù nhân thời không chỉ có một mà nhiều mặt nạ, ngay với các bậc chân tu dù không nói láo được thì giữ sự yên lặng, hà tất không thể nói thật và đó là sự khôn ngoan. Chính sự đóng kịch giữa cai tù và tù nhân cũng như giữa tù nhân với cai tù, nó như định luật muôn thuở. Người ta đặt sự tồn tại của con người trên sự tin cậy lẫn nhau, nhưng nơi đây con người tồn tại trên sự không tin tưởng vào nhau. Một Linh mục bị điên thật và ai cũng nhận ra như thế, các cán bộ tù cũng nhận ra điều nầy nhưng bảo tin vị Linh mục nầy bị điên thật để đặt bút ký cho tại ngoại chữa trị thì không giám thị nào chịu làm và cũng không cho đi bệnh viện để khám nghiệm. Nguyên nhân sâu xa vì các cai tù vẫn chủ quan nghĩ rằng căn bệnh của tù nhân nếu có chỉ là một sự hoang tưởng đóng kịch.
Hoang tưởng biến hình bản thân, họ cảm thấy có thể mình đã biến hình thành hình chim, hình thú vật hay cây cỏ. Hoang tưởng nầy thường kèm theo với loạn cảm giác bản thể, ảo giác giả và liên quan với hoang tưởng bị chi phối. Một giáo viên, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, sau giờ lao động thường anh ta ngồi một chỗ nhìn trời, các bạn tù hỏi anh về những lúc ấy anh cho biết: những lúc ấy tôi biến thành chim bay đi khắp muôn phương cùng các tiên thánh.
Hoang tưởng kỳ quái cấp, người bệnh như đang sống trong một cảnh kỳ dị lạ lùng trong một thời gian ngắn. Họ như đang đứng giữa cuộc đấu tranh của hai phe, hai lực lượng. Thắng lợi của bên này hay bên kia phụ thuộc vào hành vi tác phong của họ. Các sự kiện đều có hai ý nghĩa, người đàn ông đang nói chuyện với họ vừa là bác sĩ vừa là gián điệp, những người chung quanh vừa tham gia vào trận xung đột, vừa là nạn nhân của trận xung đột đó, nơi họ đang đứng vừa là trại giam vừa là chiến trường. Tâm trạng họ vừa sợ hãi vừa thích thú. Các tù nhân khi đi khám bệnh tại bệnh xá trại giam đều có tâm trạng chung: họ vừa nhìn các thầy thuốc vừa là bác sĩ đang chữa trị cho họ, song cũng là những người thay cán bộ cai tù để theo dõi họ, thật vậy có rất ít thầy thuốc bảo vệ quyền lợi cho tù nhân trong tù, vì nếu họ đứng ra bênh vực các bạn tù thì sẽ không bao giờ được làm ở bộ phận y tế, vai trò chính của các bác sĩ trong tù là tìm ra bệnh giả sẽ có công trạng hơn là công việc chữa trị. Hình ảnh của Bác sĩ Nhiếp, BS Châu luôn trong tâm trí của các tù nhân đã qua trại Thung Lũng Tử Thần, vì hầu như công việc chính của họ không phải để cứu giúp con người, nhưng để tìm ra những virus chống lại chế độ còn tồn tại nơi mỗi tù nhân rồi tiêu diệt họ, và điều tồi tệ cũng không phải vì lý tưởng nào cả mà vì để họ được sống trên sinh mạng cùng cái chết của tha nhân. Trong khi đó có vị Bác sĩ nhờ sự im lặng đã cứu được chính mình và nhiều người khác - Bs Nguyễn Văn Lịch, án hai mươi năm. Một số trường hợp không thể đi bệnh viện được như ruột thừa, ông giăng mùng mổ ngay tại trại giam; say nấm mà nếu chở đi sẽ chết dọc đường, Bs đều xin giữ lại và cứu sống, hằng đêm nơi nào có tiếng kêu cấp cứu ông đến ngay. Ngược lại có vị Bác sĩ án chung thân nói nhiều, nói nhỏ, lầm bầm suốt ngày song không mích lòng ai cả. Các cai tù không còn để ý vì cho rằng ở tù quá lâu ông bị tâm thần, nhờ vậy mà ông đã cứu chữa cho nhiều người. Ngoài ra còn có Bác sĩ  bị cùm kiên giam thường xuyên, có cả phiên toà mở ra tại trại giam để tăng án cho ông chỉ vì Bác sĩ đã giúp nhiều người muốn đào thoát. Tất cả những ai đã từng qua trại Thung Lũng Tử Thần, hầu như đều mang ơn các vị Bác sĩ khả kính này. Những con người cũng biết sợ hãi như mọi người, nhưng nơi họ còn có cái tâm và sự kiềm chế.
Hoang tưởng kỳ quái kéo dài có nội dung khuếch đại với tính hưng cảm. Người bệnh cho mình nắm quyền cai quản thế giới, lãnh đạo toàn thể địa cầu, xây dựng hạnh phúc cho tất cả mọi người, thông minh rất mực, sáng tạo các qui luật tự nhiên và các tác phẩm khoa học nghệ thuật lớn. Họ cho rằng tim, phổi mình bị hư hỏng cả, ruột gan thối nát, các phủ tạng biến mất. Người bệnh cho rằng nhà cửa, thành phố bị sụp đổ tan hoang, ngoại cảnh điêu tàn, tất cả những người thân đều chết và họ đau khổ triền miên. Trong sinh hoạt hằng ngày có dạng tù nhân thuộc loại nầy, sự hưng phấn của họ liên tục hầu như không có sự kiềm chế như khi có một nguyên nhân nào dù rất nhỏ họ cũng cười thật lớn vang cả phòng giam, sự hoang tưởng kỳ quái nầy thường kéo dài với mỗi tù nhân trong trạng huống này có khi kéo dài rất lâu, nhiều khi các bạn tù khác trong sự thân mật nhắc khéo họ về sự hoang tưởng đang hiện hữu, nhưng dường như nó trở thành cố tật với các tù nhân sau một thời gian dài bị cách ly khỏi xã hội. Họ luôn than vãn trầm buồn và cho rằng người thân đã chết hết, mặc dù có thể vẫn còn nhưng do mất liên lạc, mọi quan hệ với người thân xem như đã hỏng hết... và chính họ đôi khi than phiền cơ thể rã rời do gan tim cật đã bị hư hỏng... Nhưng thật sự chỉ là hoang tưởng, tất cả vẫn còn, tất nhiên không còn tốt trong một môi trường quá khắc nghiệt.
Ám ảnh trừu tượng không kèm theo nội dung làm cho người bệnh lo sợ. Đó là loại suy nghĩ vẫn vơ, ám ảnh tính toán, ám ảnh suy luận, ám ảnh nhớ lại. Các tù nhân thường có những giấc mơ rồi la lớn vào ban đêm, họ nhớ lại những sự tra tấn dã man mà họ phải chịu nhục hình trong thời gian hỏi cung, hoặc những trường hợp còn sống sót sau khi trốn trại. Họ nhớ lại những nỗi kinh hoàng những lúc bị bỏ đói phải ăn cả chăn màng, và điều kiện vệ sinh khi phải vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát. Tù nhân trẻ, án trên mưòi lăm năm, tuổi ba mươi, trốn trại bị bắt lại bị đánh đến gần chết rồi bị mang ra phơi nắng trước cổng trại giam để mỗi cán bộ khi đi ngang qua mà tỏ lập trường giai cấp, mỗi người cứ đấm thoi vào tù nhân đang bị hấp hối, về sau khi hết thời gian bị kỷ luật và may mắn sống sót trở về phòng giam, đêm nào anh cũng thường có những giấc mơ kinh hoàng.
Ám ảnh tính toán, người tù luôn luôn bận tâm đến tất cả những bậc thang, những cửa sổ của mỗi nhà, những cột điện, những chữ cái trên các tấm biển. Tâm trạng nầy thường hay gặp đối với các tù nhân đang bị giam giữ nơi nhà kỷ luật kiên giam, suốt ngày nằm đếm những con thằn lằn chạy qua lại trên trần nhà, đếm chung quanh chỗ nằm của mình có bao nhiêu viên gạch, có bao nhiêu vết máu do muỗi đốt còn dính lại trên tường, cùng bao nhiêu chữ ký của những người đã từng qua nơi họ đang nằm. Có tù nhân thường xuyên lẩm nhẩm và đếm đi bao nhiêu bước từ cổng trại đến hiện trường lao động, quanh trại có bao nhiêu cây dừa, bao nhiêu hàng rào kẽm gai.v.v. Họ thường nói làm như thế để bộ não của mình nó làm việc, nếu không sẽ bị lú lẫn.
Ám ảnh suy luận, các tù nhân đều có suy nghĩ trong cảnh đời lao lý đầy nhục hình: Tại sao người Mỹ lại bỏ chúng ta, do các công dân Hoa kỳ không còn nhẫn nại khiến Quốc Hội Hoa kỳ đi đến quyết định không giúp miền Nam nữa, hay đã đến lúc vào thời điểm đó người Mỹ đã đạt được mục tiêu ở nơi nào đó như Trung quốc, hay chính chúng ta vì quá tham nhũng thối nát trong vấn đề viện trợ khiến người Mỹ nản lòng, thế rồi sẽ có nước nào là Đồng minh của Mỹ cũng có lúc bị bỏ rơi như những người Việt Nam Tự do hay không... Họ bàn luận về chuyện nầy trong suy luận như: Người Mỹ sẽ trở lại nhưng trong cách khác, Họ không thua cuộc, chỉ có chúng ta mới bị hoang tưởng về điều đó, những người miền Nam mới là người thua cuộc vì sự phá hoại cho mục rữa từ bên trong của cơ chế, và miền Bắc mới càng thua đậm, họ đã và sẽ không thắng được chính mình từ sự tự cao, tự đại một cách hoang tưởng của những con người với những tình huống tha hoá khác nhau rồi cùng vào Lương Sơn Bạc: số người tốt không đủ để cầm cương với những con ngựa bất kham vốn được chiêu dụ từ những thành phần có bản chất hình sự rất phù hợp cho việc đánh cướp chớp nhoáng của du kích, nó lại càng thích hợp hơn khi lao mình vào đấu tranh giai cấp không khoan nhượng, không tình người... Khi hoà bình lập lại, vốn ngựa quen đường cũ: từ thượng tầng đến hạ tầng đều là cách hành xử ở Lương Sơn Bạc, những con người quen cướp giựt nay nắm chính quyền

lại có cơ hội tham ô nhũng lạm hợp pháp... Nên xét về đại thể dân tộc Việt Nam đã và sẽ đánh mất nhiều cơ hội nếu không nhận ra và kịp thời một sự khởi đầu mới trong bối cảnh toàn cầu hoá trên nền tảng không phải kẻ thắng người thua mà tất cả sẽ cùng thắng trong sự tất cả đã cùng thua.
Ám ảnh nhớ lại, người tù luôn luôn phải nhớ trái với ý muốn của mình như tên họ, quê quán, tuổi của nhiều người, cũng như những thuật ngữ khác nhau. Tù nhân cao tuổi, án trên mười lăm năm, ngoài bảy mươi, cụ thường xuyên đọc lại tên, họ của mình, bao nhiêu tuổi, tên các con, tên vợ là gì... vì theo cụ phải làm thường xuyên như thế để khỏi bị mất trí nhớ. Một đôi khi có ai gọi, vì chưa thích nghi kịp lại trả lời ngay chính những điều đang nghĩ. Các tù nhân có tôn giáo thì thường lần hạt vì đó là cách vừa cầu nguyện vừa khiến trí óc mình làm việc, ngoài ra có người còn tin rằng mỗi bài kinh là một phát đạn bắn vào kẻ vô thần.