BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 23

NHỮNG DÒNG SÔNG
BAO QUANH CÁC TRẠI GIAM VẪN CHẢY

 

 

Tất cả đều chảy và lưu chảy.
Trên các chiếc cầu nối giữa trại giam và thế giới bên ngoài, chúng được tháo dỡ và ráp lại trước sau mỗi mùa nước lũ, chiếc cầu như mang theo dấu ấn của bao điều bất thường về những đổi thay nơi đây.
Thiện Nam đã trải qua gần hai mươi năm với các cơn lũ mà hậu quả đến chết người. Nó do con người tạo nên hơn là do thiên nhiên, các trại giam thường tọa lạc bên dưới thung lũng và chung quanh bị xây kín bằng các bức tường thành. Vào mùa mưa, cổng trại giam trở thành cái phễu cho dòng nước tuôn đổ vào trong một hồ chứa, các tù nhân vừa là nạn nhân vừa là nhân chứng sống: với khoảnh khắc cả trại giam chìm trong biển nước. Và như trại Thung Lũng Tử Thần, có năm bị vỡ đập . Nó được xây kế bên trại giam để chứa nước, công trình hoàn thành trên sự cạn kiệt về sức lực của tù nhân như mỗi chiều trên đường về trại, dù bị đói lã và kiệt sức nhưng các tù nhân phải mang kèm theo một tảng đá cho đến chân cầu thì vứt xuống xây đập.
Năm ấy đập bị vỡ, các giám thị trại giam thường trình độ rất thấp, nhưng duy ý chí hay đề ra những kế hoạch rất lớn, họ đã đứng ra chỉ huy xây đập và lực bất tòng tâm, các nhà “lãnh đạo” nầy đã không tính được sức mạnh của nước từ thượng nguồn đổ ập xuống như thác sau nhiều ngày mưa dầm liên tục... Các tù nhân nằm kiên giam đang bị cùm chân đã cố nhớm chân lên, cho đến khi có các tù nhân vốn nghề thợ lặn chuyên nghiệp vào giải cứu. Trong khi đó, từ các phòng giam chung, các nóc nhà đã được tháo bung để chuẩn bị thoát hiểm vì các mái trần đều có cấu trúc rất kiên cố. Các bức tường thành cao vút bên trong trại phân cách giữa các dãy nhà giam với nhau bắt đầu sụp đổ tạo nên sự chuyển động lớn, rồi con nước bị giật mạnh khiến các bức tường liên tiếp ngã xuống, kế đến là các toà nhà của trại giam cũng chuyển động như thế, cho đến khi bức tường ở cuối trại giam là nơi nước lũ dồn dập đổ về: có tiếng nổ thật dữ dội từ bức tường thành cuối cùng nầy... Một biển nước giựt hẳn xuống nhanh chóng, con nước chảy thoát ngay ra đồng ruộng.
Bên ngoài trại giam nước có dâng lên trên các cánh đồng nhưng không cao lắm, dòng sông có chảy gấp hơn, nhưng chỉ là lẽ biến thường giữa các mùa. Sau khi nước rút hẳn chỉ còn lại bùn non, viên giám thị trưởng xuất hiện giữa trại giam và la lớn: -Ta là kẻ cứu người, ta đã cứu các anh, ta đã cho cán bộ đập tường cho nước thoát, ta đã cứu các anh... Đảng đã cứu các anh!
Tất cả đều trở về từ cõi chết sau cơn lũ mà có lẽ vụ vỡ đập ở Thung Lũng Tử Thần đã gây nhiều ấn tượng nhất trong
tâm lý thần kinh của các tù nhân sống sót.
    

Đảng đã cứu các anh và,
dưới chân dung các lãnh tụ vĩ đại

Các tù nhân sau một thời gian dài trong các trại lao cải, các công dân bị hại cũng như kẻ thống trị thường mắc các chứng nầy:
Loạn cảm giác bản thể là những cảm giác đa dạng hết sức khó chịu như nóng ran trong người, cấu xé trong ruột, điện giật trong óc... Các cảm giác nầy khu trú không rõ ràng trong các cơ quan nội tạng. Một tù nhân án phạt 20 năm, bị giam giữ lâu dài trong phòng tối tại nhà kỷ luật, mắt gần mù, tê liệt hai chân, lúc nào anh ta cũng than như có điện giựt trong óc, hoặc có gì cấu xé trong ruột. Tù nhân nầy cho biết đã từng ăn mùng mền trong nhà kiên giam vì quá đói và nhai hoài thấy ngọt làm sao. Tù nhân khác cũng án 20 năm, do bị giam giữ lâu dài tại nhà kỷ luật, khoảng ba năm, bị tê liệt hai chân, cơ thể co rút lại, da bọc xương, đôi mắt sâu chỉ còn nhìn thấy đôi chút tròng trắng lộ ra nói lên khát vọng xin được sống. Lúc nào anh cũng chắp miệng than có cái gì làm nóng ran trong người, nhức nhối như kim chích khắp toàn thân. Một lão ông án 20 năm, đang ngồi theo đội ngũ chờ lao động khổ sai, bật ngửa té ngã vì đột qụy, về sau bán thân bất toại, lúc nào cũng kêu đau nhức toàn thân, điện giựt trong đầu và than: chết, chết thường xuyên... hay kể những giấc mơ biến thành cây cỏ của mình như một linh cảm đến sự đi xa mãi mãi về hư vô của chính ông .
Các học thuyết mọc lên rất nhiều trong tù vì “các lý thuyết gia” luôn lo âu cho một dân tộc không có cây gậy dẫn đường, nên nặn ra đủ mọi thứ tư tưởng, như học thuyết Đại đồng của một Nhà sư thuộc môn phái Phật Giáo Cổ Sơ Môn. Học thuyết Liên Tôn, học thuyết Nhân bản Tiến bộ, học thuyết Duy Dân của vài Linh Mục. Học thuyết Hoà giải Dân tộc. Học thuyết Bình sản, cả tư tưởng của Hồ Quý Ly về tiền tệ cũng được vực dậy.v.v.  Nhưng nội dung của nó không có gì mới lạ hoặc chỉ là những nét phát thảo, hình thành trong lo âu tưởng tượng thái quá so với khả năng tri thức của chính mình. Mặc dù vậy, họ cũng mất ăn, mất ngủ... thậm chí có khi bị kỷ luật đến mất mạng trong khi nó chỉ là “đầu voi đuôi chuột”.
Các tù nhân chết trong tù vì chứng tim mạch, áp huyết cao rất phổ biến. Thậm chí có nhiều trường hợp các tù nhân phải uống nước muối từ sáng sớm, để huyết áp tăng cao khi khám bệnh sẽ được nghỉ lao động khổ sai trong ngày hôm ấy, hoặc ngồi thiền luyện khí công đưa nhiệt độ cơ thể lên ba mươi tám đến ba mươi chín độ C... để được nghỉ trong ngày vì quá sợ lao động.
Xao xuyến cũng có thể bắt nguồn từ những bực tức, bị ức chế, đè nén, không nói ra được... Cụ thể mỗi chiều trước lúc điểm danh, dù chỉ vài phút ngắn ngủi, các tù nhân hay tràn ra hành lang để trao đổi thông tin, sưởi ấm cho nhau về tinh thần. Thái độ hoang mang, xao xuyến thấy rõ khi có tù nhân nào vừa mới thăm nuôi, những người khác luôn tìm gặp để thăm dò tin tức về thế giới bên ngoài, nhằm trấn an chính mình vì lúc nào cũng lo âu sợ hãi. Nên mới có câu khẩu hiệu luôn xuất hiện trước các trại giam: An tâm cải tạo...
Ảo tưởng lời nói, người tù nghe rất rõ lời nói, nhưng nghe sai lệch câu này thành câu khác. Trong hoang tưởng thường người bệnh không nghe rõ mà hay suy đoán câu chuyện qua thái độ người chung quanh hay nghe rõ ràng câu nói nhưng tìm một ý nghĩa cho câu nói đó theo nội dung hoang tưởng của mình. Về phía các cán bộ quản lý trại giam bao giờ cũng đầy thành kiến đối với các tù nhân, mọi quan điểm đến hành vi của tù đều là láo, phản động... Nên câu nói mở đầu thay lời chào khi gặp các tù nhân: mày tao, thằng nầy thằng nọ, đồ láo khoét... Khi các tù nhân khai bệnh đều bị nghi ngờ là giả vờ để trốn tránh lao động, như có tù nhân bị mù, bị điếc thì cho là đóng kịch và có chuyện đã xảy ra: cán bộ y tế trại giam đã dùng que tre thọt vào tai của bệnh nhân để xem có điếc thật hay không, cũng như dùng kim chích nhẹ vào mắt để xem có mù thật sự hay không. Quả thật, họ chỉ còn biết than trời và kêu thành tiếng “nghiệp báo, nghiệp báo”, như tiếng than của người từng phụ trách Nha cải huấn chế độ miền Nam trước đây: “Vì ngày trước ta đã chích con người thế nào, nay họ đã chích lại ta thế ấy”.
Ảo tưởng kỳ lạ thường xuất hiện trong trạng thái mê sảng ở các bệnh tâm thần cấp tính. Đó là những ảo tưởng rất phong phú, kỳ lạ xuất hiện ngoài ý muốn người bệnh một cách dồn dập như thấy bóng đèn chiếu sáng lập loè thì bảo là hào quang của tiên thánh, thấy bóng đen thì bảo là quái vật, thấy sự biến đổi của mây trôi thì bảo là hình ảnh của thần linh đang di chuyển. Những “Ông Đạo” trong tù, các tù nhân nầy thường ngồi toạ thiền, và sau những lần nhắm mắt cùng cái đầu gật gật... Theo lời kể những giây phút siêu thoát ấy thật tuyệt vời: họ đã gặp hết vị tiên nầy đến vị tiên khác. Các tù nhân nầy lúc nào tâm thần họ cũng như trong mơ, ánh mắt luôn lờ đờ lim dim, huyền ảo.
     Ảo giác như có thật về một sự vật, một hiện tượng không hề có trong thực tế khách quan gần như một thái độ ngụy tín. Ảo giác nầy xuất hiện và mất đi không phụ thuộc theo ý muốn của người bệnh. Ảo giác có thể kèm theo rối loạn ý thức như mê sảng hoặc kèm theo rối loạn tư duy như hoang  tưởng. Trong tù xuất hiện rất nhiều giáo chủ và các kẻ xưng vương, họ là: một hạ sĩ trong chế độ miền Nam trước đây, với ước mơ của anh là được làm sĩ quan cấp tá. Nhân có lời kêu gọi của chính quyền mới yêu cầu các sĩ quan trong chế độ cũ phải ra trình diện, y tự xưng là thiếu tá và cũng từ đó y nhận lãnh hết án tập trung nầy đến án tập trung khác. Vào tù lúc nào y cũng cho rằng mình là một hoàng tử hoá thân vào nhà tù để cùng sống với thần dân... Và cách sống của người tù nầy cũng rất “Hoàng tử”, như có thăm nuôi là phân phát hết cho người kém may mắn, giúp đỡ mọi người một cách ân cần trong cách thế của người trên đối với bề dưới, dù chỉ mới chưa đầy 30 khi mới vào tù. Một trung sĩ khác, án 20 năm, lúc nào cũng nghĩ mình đang là một nhân vật có tầm cỡ từ thứ trưởng trở lên, thực tế chỉ ở cấp hạ sĩ quan, trong cách sống luôn cố đóng vai cho có vẻ bộ trưởng... Tất nhiên vì là ảo giác thật nên với người chung quanh là không thật đến lố bịch.
Ảo giác giả cũng như ảo giác thật mang tính chất cụ thể, nhưng khác với ảo giác thật là hình ảnh ảo giác không phải từ ngoài đến mà lại khu trú trong đầu, từ trong cơ thể phát ra, bệnh nhân nhận thức được chúng không phải bằng giác quan mà bằng trong ý nghĩ như người bệnh nghe tiếng nói từ trong đầu. Có tù nhân án 20 năm, bị đánh đập khi trốn trại về sau mắc chứng trầm uất, lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nói chuyện với người yêu, hoặc với thần thánh. Họ thích ngồi một mình, mắt nhìn lên trời hay nhìn chăm chăm xuống mặt đất như đang nghe lời đối thoại. Có tù nhân lúc nào miệng cũng lầm bầm như đang nghe và đáp lại lời của những người ngoài vũ trụ. Hoặc bất chợt kể cho mọi người nghe, họ vừa nghe tiếng nói của các vị tiên về mách bảo gì đó... Khi có tiếng thoảng qua lùm cây, bụi cỏ... họ cho đó là hiện tượng có tiên thánh đi ngang qua. Có tù nhân thỉnh thoảng trong giấc ngủ bừng tỉnh dậy và la lớn: chúng giết tôi, chúng giết tôi... và tôi đã nghe rõ tiếng lên cò bóp đạn của bọn chúng. Thật sự những âm thanh ấy chỉ có từ trong tiềm thức của người tù nầy, các bạn tù khác vẫn yên giấc và không nghe thấy gì cả. Một ông lão án 20 năm, thăm nuôi thường xuyên, nhưng lại chôm chỉa đồ ăn của người khác. Trong các cuộc họp kiểm điểm việc ăn cắp, ông nói: có tiếng gọi từ xa đến và bảo ông làm như thế... rồi ngã vật người ra vì chứng tim mạch. Các tù nhân khác vì lý do nhân đạo không ai dám phê bình gì cả. Một tù nhân khác án 12 năm, thường xuyên nhảy vào nhà kho để ăn cắp đồ đạc của người khác, có khi trốn trong kho và nhai luôn gạo sống cho đến khi anh em đi tìm bắt gặp. Tù nhân nầy bảo có tiếng gọi và sai khiến anh ta. Người tù án chung thân tự tử nhiều lần: lần thứ nhất nhảy xuống giếng và được cứu sống. Trả lời câu hỏi tại sao, anh bảo: có tiếng gọi hãy làm để phản đối về sự đối xử quá tồi tệ đối với các tù nhân. Lần thứ hai, anh thắt cổ tự tử, và được phát hiện kịp thời. Anh trả lời: có tiếng gọi hãy làm điều đó để phản đối chế độ lao tù quá hà khắc và đòi hỏi nhân quyền cho con người. Lần thứ ba, anh đã nhảy vào chảo nước sôi, có lẽ cũng đòi hỏi quyền sống cho con người và anh đã ra đi vĩnh viễn. Một số tù nhân thuộc nhóm nầy luôn nằm co rút một chỗ, thường xuyên nằm bệnh xá vì các chứng nan y do lao động kiệt sức. Các y sĩ khuyên họ nên hoạt động, song các tù nhân nầy bảo: có tiếng gọi hãy nằm yên, nếu không chúng sẽ giết, hãy nằm yên và im lặng, đợi chờ. Còn vị Linh mục nguyên Giám đốc Trung tâm hành hương FATIMA, Sài Gòn, án tập trung, lúc nào trên các tờ kiểm điểm khai cung, Người cũng đề: “Mẹ sẽ thắng, Mẹ sẽ thắng...” thay cho tên nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trong ánh mắt của vị Linh mục nầy như luôn có tiếng gọi: Mẹ đây, Mẹ sẽ thắng... Và tất nhiên vị Linh mục nầy đã bị kỷ luật sau mỗi lần ghi như thế. Linh Mục bất khuất Nguyễn Văn Luân, án chung thân, luôn đấu tranh cho quyền con người không mệt mỏi, ông tâm sự như luôn có tiếng gọi thôi thúc của nhiều người bất hạnh trên đất nước này, và Người đáp lời mà hành động. Trong suốt thời gian ở tù, hầu như lúc nào cũng bị kiên giam vì những đòi hỏi cho quyền sống của con người, đòi cải thiện chế độ lao tù .v.v. Và có một người ốm yếu ngoài 60 tuổi, nằm bệnh xá thường xuyên, ông lão luôn ngồi co rút cầu nguyện trong sự sợ hãi, ám ảnh chúng sẽ giết ông, ông nói: có tiếng gọi của Bề Trên nhắc nhở rằng: con hãy luôn tỉnh thức và cầu nguyện, chúng đang tìm mọi cách giết hại con.
Ảo thanh rất hay gặp trong bệnh tâm thần phân liệt và có thể là một triệu chứng khởi đầu của bệnh này. Ngoài ra ảo thanh còn gặp trong các bệnh loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già, loạn tâm thần do tổn thương ở não bộ:
Trưởng trại Bảy đầu rìu, ngoài 60 tuổi, trại giam A30 ở miền Trung Việt Nam, lúc nào y cũng quát tháo, chửi mắng từ cán bộ đến tù nhân, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có uy quyền mới thực sự chứng tỏ mình đang nắm quyền lực. Ví dụ tù nhân sắp hàng đi chậm, y bảo đi như rùa; tù nhân đi nhanh, y bảo đi đâu mà như ăn cướp... đi ngay thẳng thì y bảo đi đâu mà như tù... không lúc nào mà y không la hét để chứng tỏ quyền lực, nhất là khi có biến cố gì đặc biệt như các tù nhân nổi loạn trốn trại, lúc đó miệng y cũng không ngớt réo vang lên các từ: cùm cùm, bắn bắn...
Một hung thần khác ngoài 60, trưởng trại giam Xuân Phước, thuộc miền Trung Việt Nam, vào những năm cùng thời với Pôn Pốt ở Campuchia và nhiều năm sau đó. Sự đàn áp khét tiếng ở trại nầy dưới bàn tay quyền lực của y vào thời kỳ đó nên được mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần, như có tiếng gọi của đảng phải tỏ ra có quyền lực, ta là đảng cầm quyền, dường như y luôn sẵn sàng có quyết định kỷ luật kiên giam đối với các tù nhân, nếu có báo cáo dù đúng sai không cần biết, trước hết với y là là mang đi cùm rồi nghiên cứu sau. Hậu quả là không biết có bao nhiêu người bị giam cầm trong nhà kỷ luật và đã chết rũ ở đó vì cái gọi là quyền lực chuyên chính vô sản trong tay y. Trong số các tù nhân bị giam giữ tại đây gồm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tỉnh trưởng, Quận trưởng, và các sĩ quan cao cấp Tướng tá. Do đó, y thường cười lớn một cách hãnh diện, hai hàm răng luôn khép lại, quả là ta có tướng mệnh cao nên mới cầm tinh loại nầy. Tính chất đặc biệt nơi các trưởng trại giam, kể cả y, đó là không ai chịu về hưu, dù tuổi tác đã cao, người nào cũng xin được phục vụ, cống hiến tiếp, vì dường như có tiếng nói từ trong những người nầy, theo cách chung tỏ lộ, nếu ta rời khỏi quyền lực thời không còn gì nữa hết, cũng như trong quan niệm của những kẻ vô thần: chết là hết. Tưởng cũng nên ghi lại tên thật của y là Nguyễn Văn Yên.
  Một Giám thị trưởng trại Thung Lũng Tử Thần vào thời điểm khác, thuộc miền Trung Việt Nam, như có tiếng gọi của đảng trong y: Ta đang cầm quyền và đang giang cánh tay quyền lực nên lúc nào y cũng quát tháo cán bộ và chửi bới tù nhân một cách thô tục, ngay cả với cán bộ nữ y cũng dùng những lời tục tĩu để la mắng mỗi khi gặp họ, những lời của y khó mà tường thuật lại.
Đặc biệt hành vi cử chỉ của các cai tù nầy đều mang tính chất bất bình thường, vì người nào cũng ăn nói rất tục tằn với phụ nữ ngay cả khi có mặt của các tù nhân khác, như một phó trưởng trại A30, thuộc miền Trung Vịêt Nam, y mắc chứng ho lao, đi lại rất khó khăn, thế nhưng cũng ráng mà gào lên để tỏ uy quyền, như có sự thôi thúc bên trong y: phải chứng tỏ ta có uy quyền. Y luôn tạo mâu thuẫn giữa các tù nhân để cai trị: luôn gọi người nầy đến người khác để tạo sự nghi ngờ giữa các tù nhân với nhau đến giết nhau. Những tù nhân càng uy tín, có địa vị từ ngoài xã hội, y càng mời lên làm việc nhiều hơn, để tạo sự ngờ vực và xói mòn uy tín người ấy.
Trưởng trại nhà tù Z30D, thuộc miền Nam Trung bộ Việt Nam, ngoài tiếng kêu của lòng tham quyền lực, còn có cái gọi của dục vọng khả giác thấp hèn trong y, mà cũng là nét chung của các cán bộ trại giam về chuyện hủ hoá với phụ nữ, không một phụ nữ nào có nhan sắc chẳng may sa chân vào nơi đây mà lọt qua mắt bọn cai tù nầy. Theo lời của nhiều tù nhân nữ, tội trốn ra nước ngoài, trong khoảng tuổi hai mươi đã kể lại, mỗi lần các cô muốn đi phép về nhà, họ lên ngay văn phòng của viên giám thị trưởng rồi ôm đùi ông ta khóc sướt mướt... các cô gái nói thật rõ trước mặt nhiều tù nhân: “cho đến khi nước mắt như ướt cả đùi ông” và thế là được đi phép. Tất nhiên khi ra khỏi văn phòng sau đó, các trưởng trại này đều la lớn, quát tháo... Nó phát ra từ chứng ảo thanh về thính giác, ít nhất cũng là sự khởi đầu của chứng loạn tâm thần phản ứng, loạn tâm thần trước tuổi già.
Một Giám thị trưởng khác của trại Xuân Phước, thuộc miền Trung Vịêt Nam, đặc điểm y rất sợ về hưu, theo lời tâm sự của y với các tù nhân tự giác hay đi phép và tống quà cho y, vì nó là một sự chấm hết, nhất là y có cô vợ nhỏ còn trẻ cư ngụ gần trại giam... Y luôn uống rượu, khuôn mặt đỏ lên như thêm quyền lực cho cấp bậc đại tá của y một chút vốn đã là một hung thần của Thung Lũng Tử Thần, cũng hô hào, cũng la lối, và vỗ tay tự tán thưởng như biểu hiện của các triệu chứng về tâm thần. Nó là thứ ảo thanh, mọi thứ ngôn từ trong y phát ra để luôn chứng tỏ rằng: ta đang trị vì .
Phó trưởng trại trẻ tuổi, ngoài 30 tuổi, y quát tháo và chửi mắng các tù nhân đến mức họ đặt bí danh cho y là: Hùng La. Nhưng rồi mọi sự như không có gì khi không có y, cả cán bộ và tù nhân không ai sợ y, nó như một làn gió tỏ uy quyền thoảng qua. Điểm đặc biệt bà vợ thứ hai luôn tỏ uy quyền hơn y ngay cả trước mặt các tù nhân, bà luôn chửi đổng khi tù xuất trại đi ngang nhà để chứng tỏ ta thật sự mới là người đang có quyền lực hơn chồng về mọi chuyện. Trên tay bà thường có con dao phay sắc, nhọn và có khi rượt cả viên giám thị uy quyền nầy trước mặt các tù nhân.
Trưởng trại khác, nhà giam Cổn Sơn A30, thuộc miền Trung Việt Nam, y không la lớn và hô hào như các trưởng trại khác, có thể vì gia đình y là một gia đình vốn đã có quyền lực trong chế độ, song khuôn mặt đầy trầm ngâm của y như luôn mang theo tiếng nói từ bên trong: hãy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều. Thật vậy, con người y cũng thâm độc và luôn chứng tỏ đầy quyền lực như các trưởng trại khác, y thường xuyên tổ chức những buổi học tập, mít tinh và xuất hiện trong cách thế đầy uy quyền. Các tù nhân đã chứng kiến cảnh vợ lớn và vợ bé của y đánh nhau và rượt chạy vào trại giam, có lẽ vì ít nói nên các tù nhân đã có chút cảm tình và giấu kỹ cô vợ nhỏ tại bệnh xá trại giam, ngày hôm sau của buổi đánh ghen, các tù nhân chứng kiến một chiếc xe con chạy vào trại giam, khi trở ra có một người phụ nữ trẻ cúi sạp mình xuống khi xe chạy ra khỏi cổng, tất cả những thứ ảo thanh của một thứ tâm lý thần kinh không bình thường, đó là ảo thanh của người vợ bé: ta có quyền yêu; ảo thanh của bà lớn: ta có quyền và được pháp luật công nhận; ảo thanh của kẻ đang cầm quyền: ta có toàn quyền. Đảng là ta. Và Đảng là trên hết. Ta đã cống hiến quá nhiều rồi, nay ta cần được hưởng một chút.
Một Phó trưởng trại nhà tù A30, thuộc miền Trung Việt Nam, cũng ít nói hơn các trưởng trại giam khác, nhưng sự khủng bố và đàn áp các tù nhân khủng khiếp đến mức mang bí danh “ Bố ráp”, trong y như có tiếng nói của sự trả thù, nên lúc nào y cũng tìm cách ghép tội, buộc tội các tù nhân vốn đã trong cảnh khốn cùng. Cụ thể khi gặp một tù nhân nào chưa kịp chào, hay được y hỏi: mầy đang làm gì đó mà chưa kịp trả lời hoặc trả lời thiếu chữ thưa dạ, thế là liền sau đó bị gọi lên làm việc, tất nhiên bị đi nhà kỷ luật về tội thiếu nếp sống văn hoá mới không lễ phép với cán bộ .
Ảo giác thị giác có thể làm người bệnh say mê, nhìn ngắm một cách thích thú hoặc ngơ ngác, bàng hoàng, sợ hãi... hoặc biến tha nhân thành những nỗi kinh hoàng như trong ảo giác của chính mình. Ảo thị hay gặp trong các bệnh tâm thần cấp như loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc, đôi khi trong tâm thần phân liệt, loạn thần kinh hysteria.
Một cán bộ an ninh trại Thung Lũng Tử Thần, tuổi 30, lúc nào cũng rình rập, khủng bố các tù nhân như bắt gặp một tù nhân nào đứng lệch hàng ngũ, y liền doạ nạt kết tội chống đối. Y thường gợi ý các tù nhân nói chuyện, song nếu có sơ hở một tí như quên thưa trình, chắc chắn thế nào cũng bị qui kết về tội vi phạm nội qui và phải vào nhà kỷ luật ít ra một tuần lễ, quả thật cái nhìn của y với các tù nhân là đầy ảo giác sai lầm, thứ ảo giác lệch lạc từ tư tưởng đấu tranh giai cấp, những ai không cùng trên tảng băng giai cấp đều là kẻ thù đầy tội lỗi. Và trên cái nhìn bất bình thường nầy đã dẫn y đến việc nhận hối lộ của tù, bị bắt quả tang rồi bị sa thải sau đó. Tên của kẻ hung thần nầy không thể không ghi lại: Tiến lớn.
Cán bộ an ninh khác cũng ở trại Tử thần, tuổi 30, lúc nào khuôn mặt cũng hầm hầm, sát khí tìm cách hãm hại các tù nhân, trong con người y như đầy sự ảo thị, đến như hơi thở của tù cũng là tội lỗi, ví dụ như có tiếng ho hăng, tằng hắng khi xếp hàng, y cho là chống đối, vì đó là lá phổi của kẻ thù giai cấp, như nấu nướng sớm hay muộn một chút đều bị y qui kết tội âm mưu phá hoại, có ý đồ đốt phá trại giam, thấy tù nhân sắp xếp đồ đạc gọn gàng thì bảo là có ý trốn trại hay sao thế, còn lơ là một chút thì bảo sinh hoạt không phù hợp với nếp sống văn hoá mới. Tên của kẻ hung thần nầy không thể không ghi lại: Tiến nhỏ.
Cán bộ an ninh trại giam Thung Lũng Tử Thần khác, tuổi 30, lúc nào trong tay y như cũng có sẵn cây bút để ghi chép và buộc các tù nhân ký vào bản kiểm điểm, rồi vào nhà kỷ luật, y có trình độ hơn các cán bộ khác và thường những ai làm việc với y, kết quả cuối cùng bao giờ cũng là lời buộc tội phải ký vào biên bản kỷ luật. Trong y dường như mang đầy ảo giác: tất cả lời nói đến hành vi của các tù nhân đều là giả dối, nó là tàn dư của tư bản bốc lột, tội lỗi, nên không thể có một âm thanh, màu sắc, huơng vị tốt từ giai cấp nầy được. Tên của kẻ hung thần nầy không thể không ghi lại: Tri có học.
Một cán bộ an ninh trại giam Thung Lũng Tử Thần khác, khoảng 30 tuổi, con người rất lùn nầy hầu như rất tiết kiệm lời nói, chỉ dùng đồ vật như chìa khoá, ổ khoá, bất hoặc cái gì có sẵn trước mặt là y dùng để ném tù nhân đang làm việc với y. Trong y dường như có ảo giác về hình ảnh của các tù nhân: chúng không phải là con người mà là ký sinh, cặn bã xã hội... y thường dùng những lời đó để miệt thị tù nhân khi ném các đồ vật. Ngược lại y là kẻ chạy trốn nhanh nhất, kể cả chui rào khi thấy cấp trên. Và khi y cùng một số cán bộ chạy trốn như thế, họ lại cố làm như đang thanh tra phòng giam, trấn áp tù nhân với những cặp mắt láo liên, hối hả của thứ ảo giác bất thường. Tên của kẻ hung thần nầy không thể không ghi lại: Thi lùn.
Một cán bộ khoảng 30 tuổi, an ninh trại Thung Lũng Tử Thần, có biệt danh là “Chính heo”, vì lúc nào cũng theo xin đồ ăn của các tù nhân mới thăm nuôi và xin rất nhiều qua trật tự thi đua vơ vét về cho y. Khi xét quà thăm gặp, y thường nói: quà tốt, ngon như thế nầy thì ngoài xã hội bốc lột biết dường nào. Thứ ảo giác sai lầm trong y đó còn thể hiện ở khu tập thể khi chồng của một phụ nữ là cán bộ đi công tác, y đã quan hệ bất chính và bị bắt quả tang. Song với phần lớn cán bộ ở khu tập thể nầy thì chuyện đó không có gì lạ lắm. Trong cách nhìn của các tù nhân: có phải đó là cách sinh hoạt của những kẻ duy vật, hay thế giới đã đổi thay trong quan hệ tình dục, mà các tù nhân ở đây thường thụ án trên cả chục năm.
Cán bộ Lâm, một tên đồ tể có lẽ ác nhất ở đây, phụ trách an ninh, trạc 30 tuổi, trong ánh mắt sâu chỉ có màu trắng và một chút con ngươi đen muốn chìm hẳn trên khuôn mặt gà mái, dường như y luôn có ảo giác quyền lực: đó là quyền giết người, Y không có nụ cười, con người ốm o, ho hăng khục khặc nầy lúc nào mở miệng ra là: cùm, cùm, cho nó chết...

Nét chung về ngôn từ của bọn cán bộ trẻ nầy là không có từ nào về sống còn, sống sót, sống với, cứu người, giúp người.v.v. Đó là những từ quả là xa lạ với chúng. Những ai đã từng qua trại Thung Lũng Tử Thần, thật sự đều rùng mình khi nhớ lại từng cán bộ an ninh ở đây, mỗi tên đồ tể ấy đều có nét riêng của sự ác khác nhau. Và người ta không ghê tởm sự hôi thúi của xác chết bằng mùi tanh lạnh lùng của kẻ giết người, trước cái chết của đồng loại chúng còn nhân danh và nói: cái chết là xứng đáng, chúng bay đáng tội chết. Giết một người đã là khác thường, giết nhiều người gọi là có chính nghĩa? Đó quả là một thứ ảo giác của triệu chứng tâm thần thời đại.
Ảo giác khứu giác, người tù ngửi thấy nhiều mùi khác nhau như mùi hôi thối của trại giam, hơi ngột ngạt từ khu kỷ luật, mùi khói từ nhà bếp, mùi ghẻ lở... Mùi ngửi được thường là mùi khó chịu.
Các tù nhân dù trải qua các nhà kỷ luật từ lâu, song thứ mùi hôi tanh ấy vẫn còn cứ đeo đuổi họ mãi: cái mùi đặc biệt của con người khi vừa ăn vừa đi cầu trong một cái bát. Mùi hôi thối của những người làm phân xanh, lúc nào hai chân cũng đạp trên những bãi phân vàng do chính họ vừa mới thải ra hãy còn nóng. Thứ mùi đặc thù ấy cùng với vi trùng đủ loại như đã bám sâu vào da thịt tù, rồi từ trong phổi như luôn thở ra mùi hôi thúi. Các tù nhân dầm mình cày cấy trên đồng ruộng sình lầy, khiến họ luôn ngửi thấy mùi sình non bốc ra thở vào từ mũi họ.
Ảo vị thường đi đôi với ảo khứu, người bệnh cảm thấy một vị không có trong thức ăn, nước uống và vị đó thường là đắng, chua, cay. Ảo vị và ảo khứu có thể gặp trong tâm thần phân liệt, u não, động kinh. Các tù nhân thường có vị đắng trong miệng sau những lần bố ráp thường xuyên trong tù, vì mỗi lần như thế đều có sự mất mát về vật chất dù không là bao nhiêu, nhưng những cái cuối cùng thường vẫn là những cái rất lớn như các vật kỷ niệm, cái chén, cái bát, đôi đũa.v.v. kể cả những mất mát về tinh thần như đi kỷ luật kiên giam. Mỗi lần có sự chuyển phòng, chuyển trại, khám xét kiểm tra phòng giam... vị đắng như tiết ra từ khứu giác của các tù nhân. Mỗi khi nghe đọc giảm án hoặc tha tù, các tù nhân có cảm giác của vị chua, cay...  để được tha ra khỏi các Thung lũng tử thần.
Ảo giác xúc giác khiến người tù có cảm giác như kim châm, điên giựt, tê lạnh, ẩm ướt, nóng bỏng, sâu bọ bò trên da hay các vật lạ dưới da, có thể gặp trong loạn tâm thần nhiễm trùng, nhiễm độc và tâm thần phân liệt. Các tù nhân vì đói quá ăn phải khoai mì độc bị say, họ đều kể lại lúc đầu có cảm giác tê tê cái lưỡi đến co giựt, nóng bỏng trong người và trong da họ như có loài bò sát đang di chuyển. Tù nhân say nấm, nếu may mắn thoát chết, họ kể về cảm giác kim châm, lạnh toát trong người và có lúc nóng ran như điện giựt, cùng với ói mửa, sốt tiêu chảy. Các tù nhân bị đánh đập sau những lần hỏi cung, họ cảm thấy cơ thể như bị rã rời ra từng mảnh, da thịt bong đỏ đến bầm tím những nơi bị đánh và sự đau đớn đến tột cùng... Các thần kinh giựt lên trên não bộ như kim chích, và có tù nhân bị thoi vào bụng nhiều quá làm rối loạn đường ruột, nên lúc nào họ cũng có cảm giác đi cầu và thực tế các tù nhân đáng thương nầy bài tiết ra ngoài thường xuyên lúc nào không hay .
Ảo giác nội tạng: người tù cảm thấy rõ ràng trong người những dị vật, những sinh vật nằm yên hay động đậy. Các tù nhân bị tra tấn, bị kiên giam lâu ngày, nên mỗi khi thời tiết thay đổi họ có cảm giác cơ thể đau nhức vô cùng, như có ai đang tra tấn từ trong xương cốt của mình. Những người bị tra tấn bằng sắt đun qua lửa - sắt nung đỏ, mỗi khi thời tiết thay đổi, các tù nhân nầy thường la lớn và sự đau đớn tột cùng như có ai đang tra tấn đốt cháy trên toàn thân họ, kể cả những ấn tượng về mùi thịt cháy khét cùng tiếng nổ của da thịt khi bị nướng bung lên như đang hiện ra trước mắt họ.
Ảo thanh giả là một hội chứng của tâm thần tự động, các tử tù luôn ám ảnh về cái chết, nên mỗi khi có sự sột soạt khua ổ khoá lúc đêm khuya, họ sẽ nghĩ là mình sắp bị mang ra trường bắn. Các tù nhân sau khi bị thẩm vấn, bị kết cung, nhất là khi nghe cáo trạng, sau đó họ bị ám ảnh liên tục về ngày ra toà. Về phía cán bộ trại giam luôn có thành kiến: tù là dơ dáy, tội lỗi, xấu xa... Thật vậy, môi trường trại giam nào cũng rất ẩm thấp, không đủ điều kiện vệ sinh, nhưng các tù nhân bao giờ cũng cố gắng vượt qua những gì bẩn thỉu nhất để sinh tồn. Các tù nhân thì cho rằng cán bộ trại giam xuất thân từ rừng rú, loài quỷ đỏ... nên lúc nào cũng ăn nói thô tục, quan hệ tình dục bừa bãi, các điều trên họ chứng kiến hằng ngày... nó như một thứ man dã, xấu xa vô cùng dưới mắt các tù nhân: những kẻ gọi là đi chuyển biến người khác đáng được cần phải cải tạo.
Ảo giác vận động người tù có cảm giác là những động tác nào đó không phải do ý muốn của mình mà do bị cưỡng bức, bị chi phối từ bên ngoài. Họ đang ngồi yên nhưng có cảm giác như ai đó làm tay chân họ vận động. Trưởng trại Bảy đầu rìu, vào lúc giữa đêm khuya thường chạy như tập thể dục xung quanh khắp trại giam, có khi chỉ mặc quần đùi áo cánh, song ông bảo: như có ai cảnh giác ông sắp có tù nhân trốn trại và chúng đang ẩn nấp đâu đây.
Các Trưởng trại trên miệng luôn lầm bầm, nhiều lúc họ nói những câu để chứng tỏ uy quyền mà có thể chính họ cũng không hiểu nội dung của câu nói mang ý nghĩa gì như:
- Ta thắng địch thua, Đế quốc Mỹ bỏ chạy... Trong khi câu chuyện ấy đã qua nhiều năm rồi.
- Năm nay có nhiều sự kiện lớn... Lúc nào, năm nào cũng với những câu nói đó và với hàm ý sẽ cho ăn nhiều.
- Chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến, bách thắng muôn năm...Trong khi cộng sản Liên xô và Đông âu đã bị sụp đổ.
- Thậm chí những lời chửi thề rất tục tĩu luôn lập lại trên môi miệng của các cán bộ và giám thị.
Ảo giác lúc giả thức, giả ngủ là những phát minh không theo ý muốn xuất hiện trước khi ngủ. Những hình ảnh nầy hết sức đa dạng: những trang hoàng rực rỡ, những sinh vật kỳ quái, những phong cảnh... Vì những hình ảnh thuộc loại nầy không giống các đối tượng thực tế, nên chúng gần gũi với các ảo giác giả hơn. Các tù nhân bị kiên giam, hay nằm kỷ luật do mất ngủ, có khi ngủ ban ngày và thức suốt đêm, nên hầu hết mắc chứng nầy, cũng có khi từ những hư ảo, họ xây nên những toà lâu đài tưởng tượng, hay từ những phác hoạ tưởng tượng của tư duy đến hoang tưởng, rồi thiếp đi trong giấc ngủ. Các giáo chủ tự xưng đều có sự ảo giác nầy trong giấc ngủ, vì họ thường kể lại như sau: đêm qua câu chuyện đã xảy ra như thế nầy, thế khác... mà thường là những cuộc gặp với những nhân vật thuộc thế giới bên kia.
Ảo giác chức năng chỉ xuất hiện khi có kích thích thực tế bên ngoài và tồn tại song song với kích thích đó cho đến khi nó hết tác động. Đồng thời với tiếng: Ban đến, nghĩa là  trưởng, phó trại giam đang đến và nó cũng đồng thời với những tiếng chửi rủa sắp xảy ra. Đồng thời với tiếng kẻng điểm danh là tiếng quát mắng, hối thúc, chuẩn bị vào chuồng, tức vào nhà giam riêng và đóng thật kín lại vào ban đêm. Đồng thời với thông báo có lệnh họp, nghĩa là sẽ có kiểm điểm, xâu xé nhau.
Cảm giác biến hình, rối loạn nầy thường kèm theo loạn cảm giác về khoảng cách. Khoảng cách dường như rút ngắn, mọi vật xích lại gần nhau, hoặc khoảng cách dài ra, vật cách xa nhau, những con đường nhỏ trong trại giam như dài vô tận, các toà nhà cao lên đến chọc trời.
Rối loạn sơ đồ thân thể thường xuất hiện với cảm giác biến hình. Có thể gặp trong loạn tâm thần do tổn thương thực thể não bộ, bệnh tâm thần phân liệt cũng như trong các bệnh tâm thần thực nghiệm. Các tù nhân mắc chứng xơ gan cổ trướng, hay mắc chứng “sưng đầu voi” ở chân, họ thường có sự rối loạn nầy. Họ hay kể về các giấc mơ trong cơ thể mình có sự biến dạng kỳ lạ. Các tù nhân trốn trại khi bị bắt, họ bị đánh đập đến gần chết, những tù nhân nào còn sống sót thường hay mang chứng biến hình về cơ thể mình. Họ có cảm giác chung thân xác đã bị chia ra thành từng mảnh, rời xa khắp tứ chi, và thường xuyên cảm thấy đau đớn vô cùng. Một tù nhân án mười lăm năm, tuổi gần ba mươi, sau một thời gian lao cải anh bị xơ gan, bụng ngày càng to lên, da vàng, mắt vàng... anh hay kể lại những giấc mơ kỳ lạ trong đêm, cũng như những lúc anh thiếp đi trong mệt mỏi: nào cơ thể bị băm ra từng mảnh, bị tháo ra từng phần... cả cái đầu cũng bị rụng xuống.                                
Trầm cảm là một tâm trạng buồn chán, một ấn tượng ảm đạm mơ hồ rằng thân thể đã đổi khác, như bị bỏ rơi, như mất mát một cái gì, không còn tự tin ở mình nữa. Ngoài ra, trầm cảm nặng có thể đưa đến tự sát. Các tù nhân bị giam giữ lâu ngày trở nên lầm lì, ít nói. Họ nhìn lại thân thể mình trở nên gầy mòn, già hẳn đi sau một thời gian ngắn bị giam giữ... trọng lượng cũng sút đi thấy rõ nơi mỗi người, nhất là các tù nhân bị kiên giam thường không nhìn thấy cơ thân của mình nữa. Hình ảnh của Linh mục cứu người – Huy Chương, người ta quen gọi vị Linh mục nầy như thế vì ông là chỗ dựa của những người di cư chạy trốn cộng sản từ Bắc vào Nam sau Hiệp định Genève 1954, tạm thời chia cắt Việt Nam thành hai miền tự do và cộng sản. Ngài ngoài sáu mươi tuổi, sau hai năm kiên giam, thân hình phù lên, mặt mũi tay chân đều sưng to, khi bệnh quá nặng được chuyển đến bệnh xá, gặp ai ông cũng chỉ vào đôi chân sưng to của mình, đôi mắt như trầm lắng cô đọng lại một cái gì đó mà người tù bất hạnh nầy không nói hết được. Các tù nhân kém may mắn, không được gia đình thăm thường xuyên hoặc mất liên lạc với người thân cũng thường mang chứng nầy. Một tù nhân tuổi trên ba mươi, mất liên lạc với gia đình, hay than vãn, buồn rầu và miệng luôn nói về chuyện tự sát, và đã tự tử nhiều lần nhưng bị phát hiện, nên không thành. Ánh mắt thường nhìn lên như nhìn vào một cõi xa xăm trầm buồn. Rất nhiều tù nhân thuộc loại nầy, đó là sau nhiều năm bị giam kín rồi lao động khổ sai, cơ thể người nào cũng đầy ghẻ chốc nhất là lác... họ hay ngồi một mình và xót xa cho tấm thân của mình, đôi mắt thường nhìn xuống trầm buồn gỡ từng mảng tế bào chết rời khỏi cơ thể. Một tù nhân bảy mươi tuổi, trước cái chết vì chứng tim mạch, hai bàn chân sưng húp trong một thời gian lâu dài, nhưng cụ rất bình thản đến đáng sợ cho đến phút ra đi. Còn có tù nhân đáng thương khác ngoài sáu mươi tuổi, trước cái chết vì chứng tim mạch, lao phổi, thân hình co rút lại với những cơn ho tuyệt vọng, nhưng ông vẫn giữ được bình tĩnh, xem cái chết nhẹ như tơ hồng.
Từ thái độ bàng quang đến phản ứng nội tâm bình tĩnh chờ đợi. Họ luôn phản ứng đứng đắn, nghiêm túc chờ đợi. Tiếp thu có nghiên cứu, suy xét ý kiến của cai tù, không phản ứng lung tung, nói năng đúng chỗ, và đã có nhận xét thì khó thay đổi, trầm lặng, khó tính. Đối với loại nầy, nếu người đi chuyển biến có uy tín, sẽ tác động tốt đến họ, tâm lý của họ sẽ được khôi phục sau những cú sốc đầu tiên không tránh khỏi của bất cứ ai khi mới vào tù. Nhưng thường bọn cai tù rất hớ hênh, kiêu ngạo, những “thiên lôi” vô học nầy vốn tiền hậu bất nhất, nên sẽ khó khôi phục niềm tin để chuyển hoá con người. Một tù nhân tuổi ba mươi, mặc dù án tử hình do trốn trại bị bắt trở lại, nhưng anh rất bình tĩnh, thản nhiên vì như thường xuyên có tiếng phát ra từ phòng kỷ luật nơi anh đang bị giam giữ: “Mình làm mình chịu, không xin ai hết...” Người tù bất hạnh nầy bị bắn không lâu sau khi phiên toà lưu động mở ra và xét xử ngay tại trại giam. Một tử tội khác tuổi ba mươi, vì đào thoát bị bắt lại, trong thời gian chờ đợi ra pháp trường anh luôn ca hát, vui vẻ... Thường xuyên có tiếng vọng ra từ phòng kỷ luật nơi anh đang bị cùm: “Chế độ toàn trị là thế thôi, nếu mình không thoát được thì chết...” Trước đó anh là tù nhân vượt biển bị bắt lại với án chung thân.
Trầm nhược và tự sát thường xuất hiện sau những thất bại liên tiếp, vì do kỳ vọng quá cao “tham vọng lớn, mất mát lớn”. Trong môi trường tù, các tham vọng nầy thường tự cá nhân đặt lên vai mình. Trầm nhược cũng có thể là một phản ứng đối với sự mất mát thực thể hay huyễn tưởng do xa cách người thân, mất tình yêu hay mất lòng tự trọng. Các tù nhân mắc chứng trầm nhược thường buồn rầu, ủ rũ, không tiếp xúc với ai, chán nản mệt nhọc. Một bạn tù trên bốn mươi tuổi, án hai mươi năm với những hoài vọng bị thất bại, bị bắn trọng thương lúc bị bắt, chân bị gãy dù đã lành nhưng mảnh đạn hãy còn bên trong, sự đau nhức thường xuyên cùng nhiều thất bại liên tiếp khiến anh trở nên trầm nhược, anh treo cổ tự sát nhiều lần nhưng được các bạn tù phát hiện kịp thời. Tù nhân trẻ có tên Phúc, tuổi ba mươi, án chung thân, kỳ vọng về một nền dân chủ thật sự và các công dân được hưởng những quyền cơ bản của con người, hầu như lúc nào anh cũng đăm chiêu về những vấn đề nầy, anh thích tự lập một mình, không xin ai một món gì và thậm chí trong lúc quá thiếu thốn, Thiện Nam nhận thấy anh đi bươi rác để nhặt những cộng rau muống già còn sót lại của các bạn tù khác đã vứt đi để mưu sinh, có lẽ anh không muốn làm phiền đến ai, trong những hoàn cảnh đáng thương như thế cũng có người lên giọng đạo đức với anh: tù chính trị mà làm như thế và lá thư cuối cùng trong trầm uất, thất vọng, anh đã tự tử ngay tại phòng giam của trại Thung Lũng Tử Thần.
Vô cảm dững dưng với tất cả những việc gì xảy ra chung quanh, hờ hững với hoàn cảnh của mình, không có gì gây được thích thú và phản ứng cảm xúc. Tù nhân thụ động lờ đờ, không thiết tha gì cả, thích nằm lì tại chỗ nếu có thể, hoặc ngồi lánh xa một góc nào đó như thường gặp trong tâm thần phân liệt. Sự vô cảm đến không còn cá tính. Cuộc sống mất tự do của các tù nhân, nó hạn chế mọi thứ đến mức tối đa như bữa cơm hằng ngày vắt lại bằng quả trứng vịt, với thức ăn là nước muối khiến các yếu tố bẩm sinh cũng như di truyền tàn lụi. “Hãy cho chúng ăn thật ít và bắt chúng làm thật nhiều”. Có một viên Trung tá khi vào tù đến bữa cơm đã yêu cầu phải dùng cân tiểu ly để chia cơm mới công bình, thật vậy các buổi chia cơm thường xảy ra những vụ đánh cãi chửi nhau... dù đây đó có người từng là các viên chức ngày trước. Một Thiếu úy cán binh cộng sản, án mười năm, trên bốn mươi tuổi, hầu như mất liên lạc hoàn toàn với gia đình, có lúc chính anh lại nhặt chính lá thư của mình gửi về gia đình bị vứt ngay nơi anh làm vệ sinh quanh phòng giám thị, sự chịu đựng trong những điều kiện quá khắc nghiệt khiến anh trở nên bất bình thường thấy rõ như miệng lúc nào cũng lầm bầm chửi bới chế độ: toàn là một lũ cướp, tham ô nhũng lạm, vốn là phần lớn phạm tội giết người rồi kéo vào chiến khu để dung thân và nay nắm chính quyền chứng nào tật nấy, tao rành tụi bay quá mà.v.v. Tù nhân nầy vốn là một sĩ quan cộng sản trong chiến khu về sau chống lại chế độ độc tài... Tù nhân trẻ khác, án hai mươi năm, tuổi hai mươi, mặc dù còn trẻ nhưng chỉ còn da bọc xương, sống nhờ vào các bạn tù, hầu như suốt ngày không nói tiếng nào, ai cho thứ gì thì mừng, ai nhờ việc gì thì giúp, kể cả các cai tù sai đâu chạy đó, mọi sự như phó mặc cho số phận.
Đàng khác, do phần lớn các quan hệ gia đình bị cắt đứt, như thư tín bị hạn chế nếu không nói bị cấm. Các tù nhân thường bắt gặp thư của chính họ hoặc từ gia đình gửi đến bị xé vứt lung tung có khi ngay cả trên đường đi đến hiện trường lao động. Ngoài ra do địa điểm của các nơi giam giữ quá hiểm trở, nên việc thăm gặp của người thân rất khó khăn. Có gia đình khi trở về mang theo bệnh tật do tai nạn, hoặc suýt mất mạng vì sốt rét rừng... Việc quan hệ gần gũi giữa các tù nhân cũng bị cấm đoán, nhiều tù nhân bị gọi đích danh và cấm hẳn việc quan hệ với mọi người. Có giai đoạn tại trại Thung Lũng Tử Thần chỉ cho phép thăm gặp ba tháng một lần và chỉ được nhận 3 kg quà tiếp tế từ gia đình. Một tù nhân, tuổi trên ba mươi, án mười lăm năm, hầu như không có sự liên lạc với gia đình, cơ thể anh gần như khô đét lại vì phải lao động khổ sai với vắt cơm cùng nước muối và rau trời. Anh trở nên trầm mặc ít nói, phó mặc theo tiếng kẻng dục lên thì đi, gọi về thì nằm phờ ra đó. Nhiều tù nhân, mỗi năm gia đình mới đến thăm, thêm các chứng lao phổi và suyễn, khiến họ trở nên ngày càng mệt mỏi, yếu dần, làm biếng nói năng, hầu như bàng quan với mọi thứ chung quanh.
Chính những yếu tố vật chất và tinh thần như thế khiến các tù nhân biến đổi dần đến thân xác còn đó nhưng vô hồn, mà nét chung về thể trạng của họ chỉ còn da bọc “thây ma”, hai má hóp vào, mắt lõm sâu, nước da xanh xao người nào cũng tái mét. Họ trở thành những hữu thể đặc thù trong sự triệt hạ của con người chứ không phải nhằm chữa trị con người. Và “vật cùng tất biến” như quan niệm triết lý Á đông. Các hữu thể đó được cải tạo dần đến mức không còn nhận ra chính mình rồi đi thật xa mãi mãi đến cái chết như vị Linh mục hùng biện một thời khả kính, Dòng Chúa Cứu thế, sau ba năm kiên giam cơ thân teo lại chỉ còn bé tí, rọm người lại, trông thấy rõ về sự khốn cùng của thân phận con người sắp chết đói. Hữu thể đó đã được cải tạo thành quái vật người trong nền văn hoá vật người. Nhiều tù nhân trên sáu mươi tuổi, án cao, gia đình hầu như rất khó khăn, nên bữa ăn chỉ có nước muối là chính cùng vắt cơm nhỏ, phần lớn áp huyết cao ngày càng cao hơn khiến họ thường bị đột quỵ và có cụ chết ngay sau giờ lao động khi ráng lê bước trở về.
Các yếu tố di truyền như thông minh, bén nhạy, sáng tạo... trong sinh hoạt hằng ngày chỉ còn ở mức thấp nhất. Phần lớn các tù nhân không còn năng lực để tư duy vì thức ăn chính yếu hằng ngày là khoai mì và lá mì làm dưa, nếu không muốn nói là tiêm chất độc dần vào cơ thể. Có tù nhân lùn, có lẽ anh ta lùn nhất ở trại Thung Lũng Tử Thần, tuổi hai mươi, án trên mười năm, chỉ còn biết lo cải thiện, anh hay nói: bây giờ chỉ có ăn, ăn để tồn tại còn mọi chuyện sẽ tính sau. Nhiều tù nhân khác, tuổi bốn mươi, án trên mười năm, có cùng quan điểm phát biểu: bây giờ không còn phải suy nghĩ gì nữa, chỉ mong sao cho qua ngày vì đã kiệt sức lắm rồi.
Việc giáo dục chỉ là phương tiện tuyên truyền lập đi, lập lại theo một khuôn mẫu không có gì mới, nhất là giữa lý thuyết và thực tế là sự khác biệt vô cùng. Trưởng trại Bảy đầu rìu, khi thăm các tù trọng án và bảo: các anh hãy bảo trọng... Nhưng y vừa rời khỏi phòng giam, các cán bộ của y đã mang cả giày ủng nhảy lên người các tù nhân đang bị cùm và đánh đá túi bụi khiến ai cũng một phen kinh hoàng và xảy ra lập đi lập lại như vậy thường xuyên. Đó là sự giáo dục, an ủi của những người cộng sản. Các buổi học tập chính trị thường xuyên được tổ chức như nào hiến pháp đều có ghi đầy đủ việc tôn trọng các quyền cơ bản của con người: tự do tôn giáo, hội họp, thông tin... Nhưng cụ thể khi gặp quý tăng ni, tu sĩ đang bị tù, các trưởng trại đều thường gọi là “thằng”, như trưởng trại Bảy khi gặp các Nhà sư còn gọi “ mày, tao”. Trong khi chính y vẫn thường xuyên tuyên bố trước toàn trại: Đảng ta rất tôn trọng tự do tôn giáo... Các tù nhân chỉ biết cúi đầu thầm lặng: những người cộng sản nói vậy, nhưng không phải dzậy!
Con đường thật sự mở ra trong việc chuyển biến con người của chế độ toàn trị không phải là mở đường để tạo ra một khởi đầu mới mà nó là cái chết. Đó là sự hoàn tất tốt nhất trong việc trả thù. Sự khốn cùng của triết lý: đó là điều quan trọng không phải làm cho con người được sống và sự sống lại mà chết đi, chết lại nhiều lần và rồi chết thật. Một tù nhân rất trẻ, chưa ngoài ba mươi, đã chết vì bệnh chó dại ngay tại trại giam, nguyên do chính là giám thị trại giam không cho ra ngoài điều trị, họ buộc phải điều trị bằng thuốc Nam do một Nhà sư phụ trách về Đông y ở đây. Vị Đại đức nầy đứng ra lãnh trách nhiệm và sau nhiều thang thuốc Nam do ông chế... Song đúng ba tháng mười ngày thì tù nhân nầy trào nước bọt, tru tréo như chó rồi chết. Tù nhân đáng thương mang án phạt 11 năm, can tội chống chế độ. Còn Cha Luân bất khuất chỉ bị một mụt nhọt nhỏ ở lưng, thế nhưng không được chữa trị khiến vết ung lan dần cho đến lúc nhiễm trùng và chết. Khi sắp chết, Người được ra khỏi kiên giam, vào bệnh xá trại giam, vị Linh mục vẫn bình thản lạc quan nhắn nhủ những người Việt Nam hãy vì con người, và luôn đấu tranh cho quyền con người.
Những hình thức lao động khổ sai để trả thù như đập đá, ngâm mình trong sình lầy suốt tám tiếng mỗi ngày, chưa kể việc tranh thủ làm đêm. Các tù nhân thường phải đi sớm về muộn, những hôm nào có sương mù thì được đi trễ vì bọn cai tù sợ xảy ra trốn trại, rồi nhiều buổi chiều tối cho đến buổi chiều cuối cùng trúng phải nơi người tù bất hạnh nào đó thật là bi đát trong tiếng kêu tuyệt vọng: thôi chết cho khoẻ tấm thân hơn là sống với cái ác đến bi đát quá. Tù nhân Trần Xuân án tử hình, nguyên là một trong số các Viện trưởng kiểm sát của chế độ cộng sản, luôn nhắn nhủ các tù nhân khác về bản chất chế độ giam giữ trong chế độ chuyên chính vô sản: Đến đây thời ở lại đây... bao giờ bén rễ xanh cây mới về... Một Linh mục tuyên uý quân đội trong chế độ miền Nam trước đây, án tập trung, ngoài năm mươi tuổi, lao động đến kiệt sức do ngâm mình suốt ngày trên ruộng sình, lâu ngày bị sưng phổi, ho nhiều từng cơn rồi ói ra nước vàng và chết tại trại giam. Đặc biệt vị Linh mục nầy vẫn ung dung không van xin để nghỉ bịnh, Người vẫn đi làm khổ sai cho đến khi gục ngã. Đặc biệt hơn nữa, lúc chết đi Người được các cán bộ cộng sản chôn một nơi riêng cao ráo hơn và chôn sâu để chứng tỏ Nhà nước tôn trọng tôn giáo... Vì họ biết chắc thế nào cũng có ngày Toà Giám mục lên thăm.

Mất cảm giác tâm thần là mất mọi phản ứng cảm xúc, nhưng nếu môi trường được thay đổi thì vẫn tiếp xúc được. Có loại mất hết phản ứng cảm xúc như trên nhưng lại còn cảm xúc đau khổ về hiện tượng mất cảm xúc của mình, triệu chứng nầy gọi là mất cảm xúc tâm thần đau khổ. Nhiều khi vì quá đau khổ mà người bệnh có hành vi tự sát. Triệu chứng nầy gặp trong loạn tâm thần hưng trầm cảm, trầm cảm thoái triển, tâm thần phân liệt. Các tù nhân do bị cùm lâu ngày trong nhà kỷ luật nên nửa thân người hầu như bị mất cảm giác, lúc ra khỏi kiên giam họ phải tập đứng ngồi ngay tại chỗ thật khó khăn, nhiều khi sự cử động làm toàn thân đau đớn khiến hầu như đều có lời than vãn muốn chết cho khoẻ. Một tù nhân trẻ, án chung thân, tuổi ba mươi, một chân mất cảm giác dần do bị bắn lúc bị bắt và mảnh đạn vẫn còn. Nỗi đau cùng sự tiếc rẻ về cái chân đang bị chết dần do không được chữa trị của mình... khiến anh có lúc nghĩ đến việc kết liễu cuộc đời .
Cảm xúc không ổn định, người tù dễ chuyển từ cảm xúc nầy đến cảm xúc khác một cách nhanh chóng, từ vui chuyển sang buồn, từ khóc sang cười, từ lạc quan sang bi quan. Thường gặp trong các bệnh có tổn thương thực thể não bộ, các trạng thái suy nhược. Có người bị mất vợ lúc ở tù, và một trường hợp tù nhân thuộc nhóm nầy, án hai mươi năm, tuổi bốn mươi, hầu như không có gia đình thăm viếng, có lúc thật vui vẻ, song có lúc lên cơn thật hung dữ sẽ gây gổ với bất cứ ai nếu có sự xích mích với anh ta. Người ta được biết sau khi được tha khỏi trại giam, anh đã dùng súng gây với công an địa phương và bị bắn chết ngay tại chỗ trên thành phố biển Nha Trang. Các bạn tù đã đoán trước được việc nầy và luôn khuyên anh ta nên kiềm chế khi trở về nhưng đã không tránh khỏi: viên công an nầy đã lấy vợ của anh trong lúc anh thụ án.
Cảm xúc say đắm là một trạng thái tăng cảm xúc mạnh có tính chất nhất thời. Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng vừa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, vừa có khả năng đem lại cho cá nhân một sự hấp dẫn về mặt tình cảm. Khi hứng thú con người có ý thức đầy đủ, có cảm xúc, cảm hứng đặc biệt với đối tượng. Nhà giam, nơi con người bị cưỡng chế, trấn áp, nên các tù nhân không còn hứng thú trong công việc bị áp đặt, hoặc có thái độ ngược lại và lấy đó làm thích thú. Các hành động phá hoại ngầm trở thành yếu tính của các tù nhân. Chính họ lấy làm hứng thú trong cuộc đấu tranh bất bạo động nầy để đối kháng lại với các cai tù. Sự hứng thú giúp con người vượt qua những khó khăn trở ngại, nó tăng sức đề kháng về nhiều mặt và kích thích con người hoạt động, hy vọng. Các tù nhân trẻ trong sự bí mật đầy hứng thú, hồi họp cùng các thanh niên ở các phòng khác đồng loạt tung bướm khắp toàn trại để phản kháng và đòi cải thiện chế độ lao tù... Họ vui vẻ tình nguyện giả vờ đánh nhau, hái dừa trộm cốt được kỷ luật để mang thuốc men, quần áo... cho các tù nhân bị kiên giam lâu dài. Họ đều ở lứa tuổi hai mươi.
Câu nói “nước sông công tù” là đặc trưng tinh thần làm việc của hầu hết các tù nhân: động tác lập đi, lập lại lờ đờ chậm chạp như đập xơ dừa đến tơi tả thành xơ... những nhác cuốc, đúng hơn là những “nhát gừng” mỗi khi vắng bóng cán bộ... thậm chí quét cái sân cũng sợ tốn sức lực. Thế nhưng, đào tường khoét vách để trốn trại thời rất nhanh nhẹn, thông minh, ý thức trỗi lên một cách toàn diện vì có hứng thú nhất là đứng trước sự sống còn. Cũng như những vụ đánh cắp hoa màu để mưu sinh thật là bén nhạy, các tù nhân dù chân chất đến đâu, sau một thời gian ở tù vì lý do sinh tồn đều biết đánh cắp hoa màu để tồn tại. Họ không còn mặc cảm tội lỗi vì như thế sẽ có thể đánh mất bản thân mình trong một tình huống nếu không ăn cắp cũng phải biết che dấu cho các tù nhân cùng cảnh ngộ, để cùng sống với nhau trong lúc đói khổ tột cùng. Một trường hợp đặc thù, người nầy tuổi ba mươi, từ án thấp và mỗi lần trốn trại bị tăng án đến chung thân. Bình thường trông rất lù đù, chậm chạp, nhưng không ai ngờ lúc bạo động trốn trại diễn ra, anh là người la lớn nhất và xông xáo vô cùng, mặc dù nhỏ con ốm yếu thật, song những tiếng hô hào vang dội, cổ động nhất đều phát ra từ anh. Lần trốn trại đưa anh lên chung thân, khi bị phát hiện và không thể chạy kịp, chính anh từng hô hào kích động trước đó thế nào thì lúc nầy lại kêu lớn ngược lại: cứu tôi với cán bộ ơi, bọn chúng đang đào thoát kia kìa... Cứu tôi với cán bộ ơi...
Hình ảnh cán bộ quản giáo và quản chế trong vụ bạo loạn trốn trại có tù nhân dạng đặc thù ở trên, tại Cổn Sơn, trước đó quản giáo nầy rất hung dữ, khắc nghiệt vô cùng với tù, nhưng vào lúc bạo loạn nổi lên y đã quá sợ hãi chạy tháo thân chui vào chuồng heo gần đó mà trốn, các tù nhân tự giác cũng nhớn nhác chạy theo, cho đến khi tình hình bị đảo ngược lại, người ta thấy cán bộ quản giáo nầy quần áo đầy phân heo và tiếp tục quát tháo. Các tù nhân nghe rất rõ tiếng y trả lời viên trưởng trại về việc: “ tại sao mày nhơ bẩn đến thế...” - “Dạ thưa... em đang phục kích”.

**