SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
TUỔI TRẺ CỜ VÀNG
 
 


 


BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 20

HỮU THỂ
THỂ HIỆN TÍNH THỂ

 

Tư sản mại bản: Họ là những nhà kinh doanh thuộc miền Nam trước đây, khi cộng sản miền Bắc cai trị miền Nam, họ bị kết án là tư sản mại bản, kẻ hai mươi năm, người mười năm.v.v. Những thành phần án cao vào hàng tỷ phú đều có mặt tại Thung lũng tử thần, trông người nào nước da vẫn còn tốt, mặc dù đã qua nhiều năm trong tù, chỉ duy nhà tư bản họ Lý bị các tù nhân khác tạc nước sôi, may tránh kịp, suýt nữa không còn da mặt, nhà tư bản nầy rất keo kiệt với bạn tù, nhưng lại thường xuyên đút lót cán bộ để được an nhàn, khỏi phải lao động khổ sai. Đặc điểm của các nhà tư sản ở đây là không có người nào mà không hối lộ để được yên thân. Tất nhiên tùy theo sự liêm sỉ mà cách thể hiện có khác nhau, như nhà tỷ phú họ Lưu người được lòng anh em nhất, ông chỉ cho khi chúng xin và thường xuyên giúp đỡ các tù nhân khác về thuốc men. Mặc dù đã ngoài sáu mươi, nhưng vẫn đi lao động như anh em, còn hầu hết đều tìm cách chạy chọt để núp bóng dưới hình thức nầy hoặc hình thức khác, nghĩa là trong tù họ vẫn giàu có hơn, cũng như ít vất vả hơn những người khác. Ông tỷ phú họ Lý cất giữ lương thực như chính ông thường nói phải dự phòng sáu tháng, nên lão luôn xin giữ kho vì các giỏ thăm nuôi của ông bao giờ cũng chiếm nhiều chỗ nhất trong đó. Hằng ngày ông dùng bữa, thức ăn sắp xếp theo từng lớp, nếu có ai đến xin giúp đỡ, ông vui vẻ, nhưng chỉ cho lớp trên bao giờ cũng là món dưa cải hoặc củ cải muối, còn bên dưới, ông nói: dùng cho người bị tiểu đường, thật sự chỉ có ông và Trời biết... Đặc biệt có nhà tư bản điện ảnh đã trở thành thầy thuốc nam Trương Dĩ với những món thuốc đặc trị cho các tù nhân trong nhà tù cộng sản mà ông đã góp phần bào chế như Xuyên Tâm Liên, Khung Chỉ... nhiều buổi sáng chỉ cần đi khám bệnh xong, khỏi phải điểm tâm vì người nào và bất cứ bệnh gì cũng được phát một nắm thuốc nam loại nầy đến no luôn. Có nhà tư sản tên là Hương xin được làm tạp dịch nấu nước phục vụ cán bộ, và hôm nào có miếng cơm cháy, khoai mì nám đen lại khen ngon ráo riết. Tất cả đều thay đổi từ khi con người bắt đầu bước vào trại lao cải, nhưng không ai rõ chính mình đã bị biến đổi tự bao giờ. Ở đây, Tôi đang sống và bằng mọi cách Tôi phải sống, cũng không ai còn nghĩ cách làm giàu như ưu thắng liệt bại; một số anh em tù thích ngồi bên họ sau những giờ lao động, ít ra cũng được mời hút thuốc, riêng họ Lý thì trong hộp thuốc mời của ông ta có hai ngăn, một ngăn thuốc ngon chính hiệu, còn ngăn kia để mời là thuốc có trộn với bột cưa tán nhỏ. Giờ đây họ nói nhiều về gia đình và thật sự thâm sâu trong lòng mỗi người đều muốn được sum họp bên mái ấm gia đình hạnh phúc mà vốn họ đều có gia đình, nhưng dưới cái nhìn của Thiện Nam theo cách mô tả về gia đình của họ: gia đình chỉ là nơi để phục vụ họ, chứ không phải là nơi mình được phục vụ hầu mang lại hạnh phúc... vì người nào nếu không vợ hai, vợ ba, cũng ăn chơi trác táng không sao kể xiết với các đêm màu hồng, nhất dạ đế vương... Và các tù nhân ngoài cái đói khát, bệnh tật, chết chóc lại rất thích nghe những chuyện nầy.  
Những tù nhân qua nhiều triều đại: có người đã thụ án đến ba mươi hai năm với nhiều bản án chồng chất từ chế độ nầy sang chế độ khác, phần lớn họ lập công trong tù bằng cách triệt hạ người khác để lấy điểm với kẻ đương quyền, nên lúc chế độ nầy sụp đổ những kẻ bị trấn áp ngày trước, nay lên cầm quyền và thế là họ bị kêu án tiếp... Con đường cũ cứ lập lại vì trên đất nước nầy các thế lực bao giờ cũng là các đối cực, nên kẻ lên ngựa người xuống xe là điều không tránh khỏi, nhất là đối với những kẻ gây hận thù mà vốn hận thù chỉ thêm thù hận. Tù nhân ba mươi hai năm nầy cướp ngân hàng từ năm mười tám tuổi, dưới thời Pháp thuộc, gây án mạng trong tù  bị kêu án tiếp, từng là trưởng ban trật tự khét tiếng ở nhà tù Côn đảo, đàn áp tàn nhẫn dã man với các tù nhân cộng sản, nên khi những người cộng sản chiến thắng, y nhận được một cái lệnh tập trung vô thời hạn và đã mười lăm năm trôi qua trong tù dưới chế độ cộng sản... y tâm sự: bây giờ thì tôi sợ rồi, ngày trước nhiều lắm chỉ đánh đá vài cái là xong, có khi đánh trúng chỗ huyệt chết ngay, chứ không có sự trả thù dai dẳng như bây giờ. Người tù xấu số nầy chỉ tay về phía Nhà đỏ, nơi những con người đang bị sấy khô trong các cái hộp và chết dần dần vì quá khát, quá đói cùng những cú đấm đá vô chừng vào mỗi chiều trong giờ điểm danh. Ông ta làm thợ hớt tóc trong trại giam, ánh mắt y luôn dáo dát, sợ hãi, đây cũng là nét chung của các tù nhân thuộc nhóm tù từ Côn Đảo được đưa về đây: làm gì cũng cảnh giác, luôn luôn sợ các bạn tù cũng như công an theo dõi.
Và một người đồng bọn, cũng tù Côn đảo, anh ta cao to lớn, do vậy các nhu cầu cơ thể có lẽ cũng nhiều, mỗi chiều sau giờ lao động tù nhân nầy đi đánh bắt thằn lằn về kho như cá cơm. Nhưng đó cũng lại là cái cớ để gặp gỡ với người nầy, người khác nhất là những người mới thăm gặp để vòi thức ăn, nếu ai không cho y sẽ gây gổ...Trong tù dạng xin ăn này không thiếu.  Y bị đi Nhà Đỏ nhiều lần nhưng vì tính chất hình sự nên sớm được thả ra, và rồi vẫn ngựa quen đường cũ. Trước con mắt hớt hãi của y như đi tìm mồi, ai thoáng thấy cũng ái ngại lo tránh xa. Thiện Nam nghĩ đến học thuyết ba thế giới của Mao Trạch Đông: hình ảnh các nước thứ ba đến một lúc nào đó vì không kiềm chế được nữa đối với các nước giàu.
Tuổi trung bình của nhóm nầy từ bốn mươi đến năm mươi, người nào cũng trông như khô đét lại, còn nếu trông như mập thì đó là bị sưng phù, mỗi khi đội hình của họ ra khỏi trại, công việc đầu tiên của mỗi người là nhắm vào những đám khoai mì, cho dù quản giáo, quản chế có la réo, họ cải thiện cho bằng được dù mỗi người chỉ cố vơ không hơn một nắm lá khoai mì để về làm dưa. Người nào may mắn lắm mỗi năm gia đình đến thăm một lần, nhưng hầu như rất ít, thời gian cách ly xã hội quá lâu khiến nhiều người không còn biết thân nhân mình bây giờ ở đâu. Và về mặt xã hội, sự gánh chịu lâu năm đối với người trong tù trở nên gánh nặng mà lâu dài các gia đình không thể chịu nổi, nhất là tù hình sự thường gia đình bỏ cuộc rất sớm.
Khi đội hình kia trở về trại giam, họ chạy khắp các phòng lục lạo trong các chỗ rác rưởi, thật đáng thương để tìm xem thức ăn có còn sót chút nào hay không, một số khác tìm cách phục vụ các tù nhân có thăm gặp hầu mong xin được một chút mắm muối gì còn sót lại... “Cuộc đời là một sự chuyển tiếp và suy tàn” như triết gia Nietzche đã nói, nhưng nếu sự chuyển tiếp đã là một sự suy tàn thì còn gì là phủ định của phủ định để gieo niềm tin nơi mai hậu. Các tù nhân thuộc nhóm nầy khi được hỏi về đức tin tôn giáo họ rất thờ ơ: có Chúa, có Phật cũng như không Phật - không Chúa. Nhưng họ không phải là kẻ vô thần. Người nào cũng trong mệt mỏi, những bước chân còn lại trên trần gian nầy dù có rán lê bước nhưng đã quá uể oải. Từ oải oải được nhắc đến nhiều bằng các từ chia cơm, chia nước, cải thiện... trong cuộc sống hằng ngày. Hầu hết họ bị sốt nhẹ vào buổi chiều và có khi sốt cao cả nguyên ngày, có một cái gì đó đang chờ đợi họ. Nó không to lớn lắm và họ cũng không cầu nguyện. Nó là dấu chấm hết. Có lúc Thiện Nam bị chuyển vào một phân trại xa tít, hẻo lánh sát chân núi, dù không ở chung cùng đội, song rất gần gũi với họ. Những con người nầy cũng tâm sự và tự hỏi không biết mình sinh ra để làm gì, để triệt hạ con người, để giết người, sinh mâu thuẩn hận thù, lúc nào cũng phải nói láo với vợ con, bạn hữu và cả chính mình vì chắc chắn không thể nói thật được, với họ thế gian nầy có cái nói thật sẽ chết ngay. Giờ đây trước giờ có thể lâm tử bất cứ lúc nào của mỗi người: cái thật hay không thật cũng chỉ là cái giới hạn, chết có dù cho là hết, nhưng trong họ, Thiện Nam thường tiếp xúc và hiểu được tâm trạng người nào cũng có nỗi băn khoăn: giá như ta đã làm gì mang lại một chút hữu ích cho đồng loại vẫn dễ nhắm mắt hơn lúc ra đi. Trong nhóm nầy có cả các tướng cướp khét tiếng ở miền Trung và miền Nam như họ Mã, họ Điền, họ Lâm... Họ lầm lì, lúc rảnh rỗi thì đi qua đi lại bên trong các hàng rào kẽm gai và như hầm hừ không nói năng gì cả, theo cuộc sống có lúc họ cũng chạy, nhưng phần lớn họ đều có đàn em và người phục vụ hay hoà đồng cùng chia cơm nước muối, lá khoai mì muối dưa với anh em khác. Người nào cũng chung thân hoặc tử hình được tha tội chết, và đố ai biết cọp khi thả về rừng.

     Những người yêu nước từ Mỹ trở về: rải rác quanh khắp trại giam đều có những nấm mồ chôn theo tập thể gọi là Thương Tín, đúng ra là những người trở lại quê hương trên con tàu mang tên Việt Nam Thương Tín. Họ là những người rời bỏ Việt Nam khi cộng sản nắm quyền, nhưng khi qua Mỹ với nhiều lý do ban đầu như nhớ vợ con, cha mẹ, môi trường vừa đang sống nay thoáng chốc đã mất... Trong cơn khủng hoảng và chao đảo: họ muốn trở về. Nước Mỹ vốn tôn trọng tự do và hơn ai hết các nhà lãnh đạo nước Mỹ hiểu rất rõ thế nào là chế độ mất tự do, nên đã tạo cho mỗi người một cơ hội cuối, theo lời kể của những người trở về, trước khi lên tàu họ bước xuống con đường hầm có hai ngõ rẽ để ở lại Hoa Kỳ hay lên thẳng con tàu Thương Tín trở lại Việt Nam. Người Mỹ muốn giữ danh dự cho những người muốn ở lại, vì trước đó những người nầy đã biểu tình đòi về nước rất hung hăng. Có người sớm nhận ra vấn đề và nhờ đường nhân đạo nầy được ở lại Hiệp Chủng Quốc và thoát chết. Song số phận của những con người trở về, khi con tàu vừa cập bến họ đều bị giam giữ ngay, trong tuần lễ đầu tiên đã có người tự tử, Thiện Nam lúc ra toà trở về bị kỷ luật và nằm sát bên căn phòng gọi là cacho có viên trung uý trở về oan ức quá mà tự tử này: tất cả đều bị kết tội gián điệp cho CIA. Nhiều người khác cũng tự tử khi chuyển đến các trại lao động khổ sai. Lúc đầu họ thường xuyên bị nhốt kín vì là gián điệp trở về Việt Nam để quấy phá, về sau số còn lại được ra ngoài lao động, nhưng lúc vào trại cũng bị khoanh vùng không cho liên hệ với ai. Các tù nhân chỉ được gặp họ một cách thoả mái trên hiện trường lao động, nơi thỉnh thoảng gần đó có nhiều anh em Việt Nam Thương Tín đã bỏ cuộc. Các tù nhân thường đắp mộ và rắc hoa cỏ dại lên mộ của họ. Mọi người cũng không rõ trên nghĩa trang chính thức của trại giam có bao nhiêu người Thương Tín trong số hàng hàng lớp lớp nằm xuống nơi đây, và riêng họ bị chôn phân tán khắp nơi. Những ai đến lao cải tại trại Xuân Phước, mệnh danh là Thung Lũng Tử Thần, thường không quên hỏi về những người tù đặc biệt nầy, rồi câu trả lời trở thành lời ghi nhớ mãi trong các tù nhân: Họ đã suy sụp tinh thần và chết dữ lắm.
Thiện Nam có gặp một người trở về trên chuyến tàu nầy tại Kinh đô cũ Sài Gòn, lúc còn ngoài xã hội không rõ lý do gì mà ông được thả sớm như thế, tuổi ngoài năm mươi, còn ai hỏi gì ông cũng chỉ nói: thoát chết, thoát chết. Và một bà cụ láng giềng với chàng có một người con cũng trở về trên chuyến tàu ấy, là sĩ quan cấp bậc Thiếu uý, theo bà chỉ vì nhớ cô vợ quá trẻ không đi được mà xin trở về. Bà diễn tả cuộc hành trình đi thăm người con, lúc đầu khi mới hay tin còn cố gắng mỗi năm hai lần, nhưng năm sau chỉ còn duy nhất là một. Nó không xa Sài Gòn lắm đối với một người tần tảo như bà, chưa tới năm trăm kí lô mét nhưng phải mất ba ngày mới đến nơi, nếu vào mùa mưa lũ phải mất đến cả chục ngày mới về lại đến nhà. Ấn tượng nhất là chiếc xuồng con đưa bà sang sông, có lúc như muốn chìm hẳn theo dòng nước cuốn... Những điều bà kể lại như linh ứng trước với chàng, nay Thiện Nam không may ở đây, mỗi chiều sau giờ cơm nước trước lúc điểm danh, chàng hay đi rà qua rà lại để có dịp tiếp xúc và may thay nếu người sĩ quan trẻ con bà cụ... Song vô vọng, họ vẫn bị rào kín thật chặt, một vài tù nhân có lúc tình cờ được trò chuyện, nhưng Thiện Nam cũng như phần lớn các bạn tù khác chỉ nghe kể lại: họ rất ân hận, sự lầm lỡ trong phút chốc bồng bột đầy cảm tính có liên can đến vấn đề chính trị đã đưa họ xuống tận đáy địa ngục. Địa ngục không phải ở kiếp sau mà nơi đây dưới lửa thiêu đốt của bàn tay con người mới đáng sợ và kinh hãi hơn những gì được phát họa về sự trừng phạt của Thượng Đế.
Tử vì đạo: đó là một Linh mục giữ bánh lễ và bị kỷ luật, bị đánh đến trào máu, chết vì tội truyền bá tôn giáo, trong tù mà còn giữ Mình Thánh Chúa... Các tù nhân tiếc thương đến viếng vị Linh mục khả kính nầy lần cuối cùng tại bệnh xá trại giam, người nằm trên chiếc giường gỗ để khám cho các bệnh nhân, mũi và miệng đầy máu do bị đánh đêm qua. Tên Người là Quang Minh, vụ Nhà thờ Vinh Sơn, thuộc miền Nam Việt Nam trước đây, xảy ra khi đất nước vừa mới thống nhất. Không ai biết rõ Người liên can đến chính trị ở mức độ nào vì con người là một hữu thể chính trị. Song Người sống hiền lành, giúp đỡ mọi người, những ai gần gũi Ngài đều rõ: không bao giờ Ngài đề cập đến chính trị, ngoài sống Phúc âm. Ngài chết đi, không ai biết có là Chân Phước hay không, nhưng chắc chắn Người đã chết vì Đức Tin .
Tử đạo vì nhân quyền: Cái chết của một Linh mục bất khuất, Người đấu tranh cho quyền của con người được sống tự do, bình đẳng, tự do tôn giáo, chống lại những bất công của chế độ mà xuyên suốt các trại giam ai cũng biết: Linh mục Nguyễn Luân, án chung thân, những chuỗi ngày tù của vị Linh mục trẻ nầy là kỷ luật và kiên giam. Người đã chết tại bệnh xá Thung Lũng Tử Thần vì một ung nhọt nhỏ sau lưng bị nhiễm trùng loét dần đến chết, tuổi ngoài bốn mươi. Những bài viết, những lời hô hào về nhân quyền của Người được truyền khắp trại giam, quen thuộc như những bài cầu kinh sáng tối.

**