SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG
TUỔI TRẺ CỜ VÀNG
 
 


 


BIỂN ĐỎ VIỆT NAM
PHẦN MỘT

Chương 17

TRẠI LAO CẢI.

 

Nghe tiếng kẻng là sợ, đó là đặc điểm của các trại lao cải. Những chuyến xe bịt bùng chở đầy các tù nhân gồm những người thụ án hay không đủ yếu tố buộc tội bị chuyển sang chế độ tập trung được đưa đến có khi hàng ngày, hàng tuần... Quang cảnh trại giam nào mới thoạt nhìn vào cũng bắt mắt: sạch sẽ, nhiều hoa, nhiều hàng rào với bót canh nghiêm ngặt.
Xa xa nhìn lại trông nó giống như cơ ngơi của một lãnh chúa và thật vậy, những ai đã từng trải qua các trại tập trung trong chế độ cộng sản đều nhận thấy điều nầy: các trưởng trại giam giống như các lãnh chúa, có nô lệ là các tù nhân lao động khổ sai, có đất đai để canh tác và bộ đội để đốc thúc nô lệ, nhất là với cả một nhà nước đứng sau bảo hộ.
Các trưởng trại giam khét tiếng rất giàu kinh nghiệm triệt hạ con người, chúng được gọi với danh xưng ban này nọ trước tên riêng. Đây là một tầng lớp cai trị có tính khí khác người như luôn luôn la hét, quát tháo, hô vang các khẩu hiệu và tự vỗ tay tán thưởng, những con người không thích đi chung với vợ, nhưng được mệnh danh rất gần gũi với phụ nữ, như Bảy đầu rìu, nếu có vợ từ quê lên thăm, các tù nhân quan sát: y luôn đi xa cách vợ ba mét... Đó là sự thực. Các trưởng trại giam dường như đều có cùng bản chất giống nhau, theo các nữ tù nhân, không một người nào có chút nhan sắc mà chúng tha mạng, ngay cả với các nữ nhân viên đã từng qua tay chúng, những phụ nữ nầy đều được thu xếp để lấy chồng cũng là cán bộ ở đó. Đối với các tù nhân không thể giết được, chúng tìm mọi cách triệt hạ về danh dự, uy tín, đan cử như nhiều sĩ quan chế độ cũ đã không chịu làm đơn xin ngủ đêm với vợ, thế là chính các giám thị trưởng nầy đã trực tiếp bảo gia đình làm đơn rồi y phê duyệt... Ai lại không thích đoàn tụ gia đình dù trong chốc lác, nhưng sau đó là những màn rêu rao nói xấu về các sĩ quan ấy đã quì lụy, van xin.
Những ngày đầu tiên trên hiện trường lao động khổ sai, Thiện Nam được giới thiệu: kia là Nhà sư rất giỏi sản xuất hai mặt. Chàng ngẫn ngơ không biết họ muốn nói gì song vẫn giữ im lặng, mặc dù có tự hỏi: thế nào là sản xuất hai mặt, ai cũng rõ trong chế độ cộng sản tốt nhất là im lặng, nhất là trong tù, các tù nhân tiếp tục giải thích: ông là một đội trưởng tiên tiến nên thường xuyên được đi phép về gia đình sinh con cái.
     Và còn có cả “ngôi làng tình thương” nằm cách xa trại giam vài dặm, các tù nhân gần hết án nếu chịu đồng ý định cư tại đây sẽ được tha trước thời hạn. Có nhiều sĩ quan không biết đường lao lý của mình sẽ kéo dài ra sao, vì lệnh tập trung là thứ án chung thân không tuyên bố, nên họ đã thử làm cách nầy, họ được cấp đất, giúp làm chòi để gia đình sinh sống. Và theo thời gian nhiều người cùng gia đình đã biến mất khỏi làng tình thương.
Một phụ nữ trạc tuổi bốn mươi dẫn theo tám người con đến tại nhà thăm gặp các tù nhân, không phải để thăm chồng, cha của các cháu, vì những gì mọi người quan sát thấy cũng như qua lời bà: -Đâu có gì mà thăm, với tám miệng ăn tôi cũng không biết tìm đâu để nuôi chúng, nên nay mang lên đây giao cho bố chúng nó đang bị giam giữ, vừa cải tạo vừa nuôi chúng. Tôi tuy chưa già nhưng lê lếch bươi chải đào xới trên các vùng kinh tế mới hơn năm năm qua, nay đã kiệt sức, tôi tưởng rằng chỉ ra đi có mười ngày như lời hứa ban đầu của chính quyền cách mạng, nhưng rồi năm mươi ngày, một trăm ngày, rồi ba năm... nếu chết thật đã xả tang từ lâu lắm song tiến gần đến năm thứ mười rồi mà vẫn chưa thấy tin tức về sự trở về của bố chúng cháu gì cả. Nhà cửa bị tịch thu, đồ đạc thì bán tống bán tháo ra chợ trời để sống qua ngày và một khoảng thời gian lâu dài các cháu lang thang trên những vùng đất mới khai hoang không trường không lớp.
Ban giám thị lần lượt hết người nầy đến người khác động viên, thuyết phục hứa chồng bà nguyên là sĩ quan cấp tá trong chế độ miền Nam trước đây sẽ được tha vào một ngày không xa. Nhưng lần nầy người phụ nữ cùng các con quyết ăn vạ, không chịu về và tuyên bố rõ ý định của mình: -Trở lại kinh tế mới cũng không có gì ăn, thà ở đây phụ cải tạo tạp dịch quanh trại giam kiếm cơm cháy cốt sống qua ngày chờ chồng được tha. Viên giám thị trưởng đã gặp, quả thật theo lời y: trong suốt mấy chục năm giữ tù, chưa từng gặp trường hợp nào như thế. Và người ta được biết những ngày tiếp theo đội nhà bếp được lệnh mang cơm cho các cháu dùng bữa, các tù nhân làm anh nuôi cũng gốc là sĩ quan lại bỏ thêm cho chúng nhiều lớp cơm cháy .
Ngôi làng tình thương đã ra đời để giải quyết một trong các trường hợp như thế. Một toán trẻ thơ khác, không có mẹ hiện diện, nhưng chúng biết rõ tên, cấp bậc sĩ quan của cha đang bị giam giữ ở đây. Sau đó ban giám thị cũng giải quyết với những lời cam kết của người bố và cả gia đình kéo nhau lên làng tình thương. Trường hợp nầy khi nghe kể lại ai cũng thương tâm: các cháu kéo lên với bố vì chúng không còn biết nương tựa vào đâu khi người mẹ cố thăm nuôi chồng cho kịp kỳ hẹn trong lúc đang bệnh, nên khi trở về phát bịnh nặng và qua đời bỏ lại bầy con thơ... Trong áo tang màu trắng thật sự chúng chỉ lên thăm để báo cho cha chúng về mẹ đã chết, thế nhưng chúng cứ nấn ná ở lại vì nơi đây còn có cha, trở về nhà không biết sẽ sống làm sao với số tiền phúng điếu mẹ đã gần hết trên đường tìm cha.
Ngôi làng tình thương cũng gồm nhiều gia đình các sĩ quan thật sự đã có lệnh tha, nhưng ban giám thị muốn giữ chân họ ở lại, nên rào trước đón sau như hứa hẹn tha trước thời hạn nếu ai đó chịu ký giấy ở lại ngôi làng tình thương. Bên cạnh đó nhiều sĩ quan muốn thử xem mình sắp được tha hay chưa vì lệnh tập trung sẽ kéo dài vô chừng, vậy cứ làm đơn rồi hạ hồi phân giải.
Các khu kinh tế mới được tổ chức như thế nào, làng tình thương cũng thế, nhưng sự quản chế chặt chẽ hơn. Các tù nhân dù đã có lệnh tha nhưng muốn đi đâu đều phải làm đơn xin phép ban giám thị trại giam. Nó toạ lạc cách trại lao cải không xa lắm, bên dưới một triền đồi gần các suối chảy về con sông nhỏ bao quanh trại giam. Các căn chòi đều làm bằng vách nứa, lợp lá tranh, bên trong có giường cũng bằng phên tre đóng chặt theo các trụ cột và thường các cơn lốc rừng kéo bay các mái chòi nhưng giường vẫn còn lại . Giữa nhà đều có bàn bằng gỗ hoặc các gốc cây cổ thụ đã được cưa ra mang từ rừng về, không ai thấy các vật dụng cho tiện nghi một chút trong các căn chòi nầy như xoong nồi một cái, chén đũa vài cái... Trông toàn cảnh và từng căn thật trống vắng dù cho có sự giám sát chặt chẽ, trại giam có phát gạo trợ cấp trong giai đoạn đầu. Trên các mái nhà thời thả đầy dây mướp, trước sân cũng như chung quanh bờ rào toàn là khoai mì, một thứ lương thực chính cứu đói của cả nước vào thời kỳ nầy .
Cái nóng ở đây như muốn lột da đầu, khiến các tù nhân liên tưởng đến cái nóng do hơi người phát ra trong các phòng giam tập thể như có hơi ngạt , cả hai nơi mồ hôi đều chảy ra ướt sũng trên thân người; các cư dân ít ỏi của vùng nầy thì người khô đét lại, còn các sĩ quan vốn có trình độ thì hiểu ra rằng nơi đây mới thấy rõ sự tăng dần nhiệt độ của địa cầu. Hai tâm trạng khác nhau, những gia đình người dân tộc sống rải rác trên các triền đồi- họ yên phận; còn các công dân hạng hai bị cưỡng bức định cư thì nghĩ rằng tất cả chỉ là tạm thời. Thế giới nầy không phải của ta. Thế giới thật của ta quả là không phải ở miền Sơn cước. Thế giới thật ở một nơi ta đang bị tước đoạt. Người nào cũng mơ về cố quận. Và quê xưa chốn cũ nếu tìm lại được sẽ chỉ là cố quận bên kia cố quận .
Các tù nhân cũng nhận ra nền của một Ngôi Thánh đường được xây bằng gạch rất chắc chắn, chiến tranh đã làm hoang phế và nay hòa bình nhưng thực tế cấm đạo nên không ai được phép trùng tu. Ngôi nền tọa lạc tại ngã ba đường vào trại giam và lối rẽ lên triền núi. Theo các tù nhân người địa phương: chính các Cha Thừa sai đã đặt chân đến đây và họ còn nhớ ông bà đã thuật lại rằng có Linh mục người Pháp thường xuyên đến vùng nầy để phát thuốc sốt.
Vào mùa đông, thời ai cũng sợ, không phải sợ lạnh vì trên thế giới còn nhiều nơi lạnh hơn song con người vẫn chịu đựng được, nhưng sự sợ hãi trùm lên mỗi người khi khí hậu thay đổi đột ngột, khoảng từ chín giờ tối đến giữa khuya, khiến hầu như tất cả những ai bị hen suyễn, lao phổi, bao tử đều lên cơn dữ dội. Thiện Nam mắc chứng suyễn kinh niên và chàng suýt chết lên chết xuống nhiều lần, cho dù có chuẩn bị thuốc bơm, thuốc uống vẫn không mang lại hiệu quả là bao.
Con người thời đồ đá đó đã biến các công dân miền Bắc đau khổ biết dường nào qua cuộc cải cách ruộng đất, các phong trào đấu tố lẫn nhau, xô đẩy thanh niên vào cuộc  chiến tranh huynh đệ tương tàn, và nay những nhà lãnh đạo cũng trong bản chất đó muốn biến các người miền Nam phải chịu đoạ đày hầu trở nên ngang tầm thời đại về tính mê mờ, lạc hậu. Lịch sử trong một giai đoạn nơi bộ lạc người nào đó không còn là sự sáng tạo mà chỉ là sự ghi chú những ngớ ngẫn của con người.
Người mẹ và tám đứa con với các thủ tục bảo lãnh, cam đoan cho chồng an tâm định cư ở lại lập nghiệp nơi làng tình thương. Sau một tuần lễ các cháu biến mất về thành phố vì lý do sốt cao, chúng sốt thật và có vào bệnh xá trại giam để xin thuốc điều trị. Nhưng thuốc ở nhà tù chỉ toàn rễ cây nên chúng không chịu uống. Và với lý do chính đáng xin trở về để chữa bệnh, hình như các cháu đã không trở lại cho dù viên trưởng trại cũng như chính quyền địa phương có hứa sẽ thiết lập mái trường tình thương .
Quý ông chồng vẫn trụ lại để làm tin, hầu như khi nhận được lệnh tha đến khu làng nầy, không ai còn sức khoẻ để mà canh tác nữa. Hết thảy những nạn nhân trong chế độ lao tù cộng sản lúc cầm giấy phóng thích ra khỏi cổng trại đều có cảm giác như là phép lạ. Và những gì đã xảy ra từ tiếng kẻng, những tờ kiểm điểm, đày đọa, nhục hình... có lẽ sẽ còn ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại của mỗi người.
Những bà vợ thì chạy đi chạy về nơi chốn cũ cùng lên xuống chỗ chồng mình đang bị quản chế. Riêng các con trẻ được sống trong hai thế giới: một nơi có trò chơi điện tử với công viên cây cảnh nước phun đầy ánh sáng... và một thế giới chỉ duy chiếc đèn dầu hiu hắt song có nhiều đom đóm, không có máy điều hoà nhưng sương lạnh đến ướt cả chăn vào ban đêm. Một đứa trẻ thốt lên với mẹ: -Ở đây có muốn ăn mày cũng không biết xin ai... Thế là bố nó bảo: -Nhưng sẽ có nghề ăn trộm đấy con à... không ai có gì để cho vì thóc lúa, mía đường, toàn bộ hoa màu là của nhà nước. Nên sau nhiều năm lao cải ở đây, ba được biết dân chúng có nghề ăn trộm của nhà nước hay hợp tác xã rất chuyên nghiệp. Tất cả cùng cười trong ánh đèn chớp loé, phụt lên phụt xuống như có pha lẫn thêm hợp chất nào khác và tiếng vỗ tay lốp bốp thật đều nhưng không phải để tán thưởng câu chuyện song là tiếng xua chụp muỗi.
Ban ngày những con trẻ lớn nhỏ đều phụ bố mẹ trồng khoai mì, chúng nhớ lại khi đất nước thống nhất học sinh theo thầy cô đi trồng khoai và nhặt giấy vệ sinh để làm kế hoạch nhỏ... ở đây môi trường sạch hơn và dường như không có giấy loại ấy. Trong thời gian ngắn sống tại khu làng tình thương, chúng cũng nhận ra các bạn trẻ quanh vùng không được học hành, vì trường quá xa và bố mẹ hầu như sinh chúng ra để cùng tồn tại mà thôi. Những con người chân chất nầy không bao giờ sống no đủ, tất cả nếu có đều của hợp tác xã, chẳng may vào những mùa thất thu, với công điểm của họ cộng lại chia đều thật buồn cười, tất cả sự lao lực của mỗi người chỉ là công dã tràng, song các xã viên đều nhận ra các Bí thư, Chủ tịch hợp tác xã, Chủ tịch xã lại béo lên. Nên dù còn tấm bé nhưng qua lời bố mẹ chúng đều nhận biết: ở đây muốn có cái no hằng ngày chỉ việc ăn cắp lương thực, nhất là hoa màu của trại giam vào ban đêm ít ai thật sự trông nom.
Thiện Nam trải qua trại lao cải A30 Cổn Sơn gần ba năm và chàng có nhận xét rằng con trẻ ở đây rất tình cảm với tù, không như các thiếu niên nhi đồng và người lớn ở miền Bắc, họ ném đá vào tù nhân ngay cả trên đường di lý. Con trẻ nơi này biết phân biệt thiện ác, cái thiện của “nhân chi sơ tính bổn thiện”, nhưng xem chuyện ăn cắp không thuộc về tội lỗi, vì theo lời chúng: các ông nội ở trên mới là trộm chúa, nếu mình không biết chôm chỉa tí ít thì chỉ có thác thiêng, nên chúng thật tự nhiên trong những việc làm bắt đầu có sự gian dối.
Ngôi làng tình thương vắng dần, vắng dần và khi các sĩ quan miền Nam được thả đồng loạt, thế rồi các viên chức đi tiên phong xin định cư ở ngôi làng nầy cũng rút dần. Theo tiêu chuẩn định cư nhân đạo của chính phủ Hoa kỳ: các thành phần từng cộng tác với họ trước đây, các vị nầy nếu còn sống có lẽ đã lập nghiệp trên vùng đất mới và cũng không ai chắc gì dễ quên làng tình thương đã có lần đi qua trong chốn bất hạnh tận cùng của đời họ. Một khi thế gian nầy nói quá nhiều về tình thương và nhân danh chúng: Tất cả chúng ta đều muốn bỏ chạy .
Những đoàn người gồm nam phụ lão ấu, họ đông hơn cả tù hiện diện đang cắt lúa chín, từng tốp một họ tiến lên nhào nhào sát bên chân các tù nhân, các cụ già đi tiên phong vì nếu có bắn thì các cụ sẵn sàng hứng đạn thay con cháu, họ đang mót lúa mà đúng hơn là cướp cạn vì có người dân còn ôm luôn cả lúa đã bó sẵn rồi bỏ chạy. Cả tù nhân, kẻ ăn hôi và phần lớn quản chế đều cười hoặc tránh đi, chỉ khi nào có Bảy đầu rìu hay các tên phó của y xuất hiện lúc đó mới có tiếng súng chỉ thiên cùng tiếng la mắng: -Tao sẽ bắn tụi bay... Tao bắn bay. Thật vậy nghề chính của họ từ khi có hợp tác xã ra đời và trại cải tạo nầy xuất hiện là nghề thu nhặt hoa màu rụng rớt trên những cánh đồng sau khi các xã viên hoặc tù nhân thu hoạch, và quả thật nếu may mắn theo chân của tù thì còn có của ăn... Trong những túp lều tranh người già ngồi tuốt lúa đã nhặt được trên cánh đồng vào mùa gặt, rồi bóc vỏ trên cối giả bằng tay như cối chà tiêu mỗi ngày, với họ sảy ra thành nắm gạo nhỏ thật quý vô cùng. Họ gặp tù là chào vẫy tay, họ thương tù là vì vấp ngã nên mới vào tù, nhưng trong cái thiếu sót từ lòng nhân ái của con người với con người lại nuôi sống được chính họ.
Các trại giam thường toạ lạc dưới thung lũng, chung quanh núi non hiểm trở, bên cạnh có những dòng sông nhỏ để tiện việc sinh hoạt như tắm giặt, cơm nước và các chuyện vệ sinh khác. Nhưng vào mùa mưa lũ, thì hậu quả khắc nghiệt của những cơn mưa dầm ở thượng nguồn, nó như muốn cuốn trôi đi mọi thứ, mực nước cứ dâng lên từ từ và các tù nhân di chuyển dần theo lên chân núi với các lương thực chính là khoai mì.
Các đợt lũ thường đột ngột đến và rút đi rất nhanh trong kinh hoàng, khiến sau mỗi mùa mưa lũ các tù nhân nhìn lại nhau trong reo mừng biết mình hãy còn sống sót. Những gì bị cuốn trôi lại được tiếp tục xây dựng, nước sông công tù: kẻ sấy lúa ẩm ướt, người dọn kho, hầu hết các tù nhân buộc phải lo cũng cố phòng giam, sau đó mới trở lại các cánh đồng cho kịp thời vụ.
Một hôm, có viên trưởng trại đi xem xét tình hình và ngang qua nơi lao động khổ sai gồm các tăng ni, Bảy đầu rìu -tên của trưởng trại ở đây do tù nhân đặt, đã hỏi chuyện với một trong số các tu sĩ ấy, và mẫu đối thoại như sau:
Mày có học Tam tự kinh hay không... Đại đức chưa kịp trả lời y đã tiếp: Ngày xưa lúc còn nhỏ, tao cũng học Tam tự kinh... Nhà sư chỉ mỉm cười... Thế mầy đã tu được mấy năm rồi vào tù... mày có biết chính sách của đảng rất tôn trọng tự do tôn giáo hay không? -Mày có biết Phật dạy không... trong cảnh khổ hãy cùng nhau cứu khổ, khổ vì áp bức, khổ vì bất công do Mỹ Pháp đô hộ... thế mà mày lại đi chống đối cách mạng. Này, thằng tu hành kia, mày có biết lãnh tụ vĩ đại là ai không... đó là Phật sống, là Thánh Chúa.
Thuyết giáo một hồi, không có đối thoại, viên giám thị bỏ đi... Các tù nhân cũng không lấy gì làm lạ về sự ăn nói đầy miệt thị của y đối với các vị lãnh đạo tinh thần khả kính của họ, vì phàm ai cũng biết rằng: thế gian nầy, nó là thế đấy.

* *

Một ngày kia, Bảy đầu rìu vào thăm các tù nhân trọng án, những người nầy luôn bị cùm, ít ra cũng là cùm chân vào ban đêm, y nói: -Các anh có ai bị đánh đập hay không... đứa nào đánh các anh là đánh trên đầu của tôi đây... các anh có ăn uống đầy đủ không? Nhân các ngày trọng đại, tôi sẽ cho các anh ăn lớn, các anh nhớ không cho ai được đụng đến thân thể... các anh có ai biết chữ Hán không... gọi là bảo trọng.
Nhưng Bảy đầu rìu vừa bước ra khỏi phòng giam, ngay lập tức diễn ra một màn bề hội đồng tàn nhẫn. Các quản giáo, quản chế tay cầm vũ khí, chân mang giày ống tha hồ nhảy lên người các tù nhân đang bị cùm mà đấm đá... Các tù nhân kinh qua một trận đòn kinh hoàng với thân xác đầy thương tích, đau đớn.. Quả là chữ Hán nó rộng đến dường nào, ở đây chỉ mới cảm nhận một lần nữa: đừng nghe những gì chúng nói, hãy xem những gì chúng làm.

* *
    
Đêm đã về khuya, gió nhẹ thoang thoảng mùi xú uế bay đến các phòng giam, đó là mùi hôi thúi từ khu trọng án: nơi giam giữ các tù nhân chống đối lại chế độ hiên hành, công việc hằng ngày của họ là nhảy xuống hố phân người, đạp sao  cho nhuyễn cùng lá cây để bón rau cải..Họ luôn luôn có hai bộ đồ, thứ mùi phân khô đó chính là từ quần áo lao động được treo ngay ở cổng trại vì không ai dám mang vào phòng ngủ.
Công việc khổ sai nầy không ai được miễn giảm, dù đang bịnh ngoài da. -“Hãy nhảy xuống, nhảy xuống...”
Đó là mệnh lệnh với bản súng, gậy gộc của bọn cai tù và các đội trưởng thường là tù hình sự. Ai nấy đều nhảy xuống trong ý nghĩ: đã dấn thân trên trường chính trị ở đất nước nầy thì có gì mà nhơ với bẩn... và “cái hữu thể chính trị đó”, các tù nhân đùa bỡn: kiếp sau, nếu có làm chính trị, xin tiếp tục làm ở Việt Nam, Bắc Triều tiên, Cuba lần nữa, mới thấy rõ được phần nào tính thể của con người: vì nơi đây có đầy sự kiêu ngạo và càng kiêu ngạo, càng biểu lộ tính ác độc của mình.

* *

Các tù nhân mới đến, người nào cũng bị sưng chân, có khi cả khuôn mặt sưng húp như ông địa, do thiếu dinh dưỡng... bây giờ phải lao động nhọc nhằn như đục bổ đá, gánh gồng đất cát từ bờ sông lên các triền đồi để xây dựng, đốn hạ cây từ rừng sâu mang về làm gỗ hoặc củi đốt. Và tất nhiên không ngoài tiêu chuẩn: hãy cho chúng ăn rất ít, nhưng bắt chúng làm thật nhiều. Nên việc đào thoát là phương cách thường được chọn lựa trong lúc bị giam giữ, còn vấn đề được tự do hay trở thành siêu thoát thời xin chấp nhận vậy.
     Các tù nhân phần lớn dùng phương án thứ hai, liều thuốc kiên trì nhẫn nại của nguyên soái Koutouzoz trong tác phẩm Chiến tranh và Hoà bình. Các vụ đào thoát cá nhân, hay bạo động trốn trại tập thể cũng thường xảy ra. Các tù nhân dùng cuốc xẻng làm thứ vũ khí ban đầu, rồi cướp súng của các quản chế để đào thoát. Những hình ảnh của con người trong giây phút một mất một còn đáng được ghi lại rất nhiều, nó là những thể hiện của con người về nỗi kinh hoàng và lòng trắc ẩn, ý chí cùng bản năng sinh tồn mà qui hướng mỗi người đều muốn có một mái ấm gia đình, hạnh phúc dù bé nhỏ…Thế nhưng làm sao có được những cái tối thiểu đó. Có người chỉ vì một câu nói trong lúc hoàn cảnh quá khó khăn, đã than oán chế độ và thế là chính quyền địa phương đề nghị tập trung cải tạo, sau đó hết lệnh tập trung nầy đến lệnh tập trung khác, mỗi lần ba năm, không biết có ngày về?

Khi vượt ngục, không ai nghĩ mình sẽ chết dù đi đến một sự liều lĩnh tột cùng, con người thật sự đều tha thiết với cuộc sống, một sự liều lĩnh đến quyết định phải chọn cái chết, bởi chính cá nhân ấy muốn sống hơn ai hết và thậm chí phải chết để cho cái sống lớn hơn vĩnh hằng: đó là sự tồn tại của cộng đoàn, của giống nòi. Và sau đây là vụ bạo động ở một đội trọng án tù chính trị. Hầu hết các thanh niên đều tham gia, trừ những người cao tuổi, mỗi đội khoảng ba chục người.
Diễn biến trong những giây phút đầu, không ai hiểu được tại sao đến gần giờ ấy cả đội lại im lặng đến thế, cũng không ai muốn đặt câu hỏi tại sao vì các tù nhân đều đã có câu trả lời: không mấy phút nữa sẽ có sự đối mặt giữa cái sống và cái chết. Với các ám hiệu truyền cho nhau mà thị giác, thính giác phải làm việc nhiều nhất trong giây phút nầy... Đã có sự ẩu đả với cán bộ trại giam, súng nổ, một số tù nhân chạy thoát, số khác bị thương không thể theo kịp và chạy rất chậm vào rừng.
Các tù nhân cao tuổi chứng kiến, kể lại - các cụ nầy về sau bị cùm trong nhà kỷ luật rất lâu - Khi có súng nổ, bọn cán bộ nầy đã quì lạy và chạy trối chết, chúng lủi trốn vào các chuồng heo của trại giam... nhưng chính bọn tù tự giác thấy sự việc, đã lập công bằng cách đánh kẻng báo động. Thế là Bảy đầu rìu lập tức huy động một lực lượng hùng hậu đánh đuổi theo, các tù nhân ăn hôi muốn lập công rất đông. Họ rượt bắt... các tù nhân bị thương chạy chậm bị tóm lại gần hết... Họ bị xếp thành hàng dài giữa đồng, họ quì gối và đưa tay đầu hàng hoặc chấp tay cầu nguyện, chỉ có một hai người van xin... Tất cả im lặng... Nhưng Bảy đầu rìu, trưởng trại ở đây với tiếng hô khát máu: bắn, bắn... Và thế là không còn ai sống sót.
Buổi chiều hôm ấy, những chiếc xe bò chở xác người có quấn chiếu đi về phía nghĩa trang trại giam. Bọn cai tù cố tình chôn cất rất sơ sài, chúng ra lệnh đào thật cạn, cốt sao mùi hôi thúi của xác người khi phân rữa sẽ bay khắp trong ngoài trại giam. Nghĩa trang nằm ngay trên hướng đi về các cánh đồng, các tù nhân lúc băng ngang qua đều phải vội bịt mũi và chạy nhanh khi phải học bài học đau thương nầy cho thật mau thuộc.
Nơi nghĩa trang nầy cũng có nhiều người tự tử, có cả một viên Trung tá thuộc chế độ miền Nam trước đây đã treo cổ tự tử ngay những tháng đầu mới vào trại cải tạo, những nấm mồ còn lại phần lớn họ bị giết chết vì tội đào thoát, một số không ít bị bịnh mà chết. Có trường hợp bịnh dại do chó cắn, biết là chó dại, nhưng giám thị trại giam không cho đi bệnh viện và giao cho một lang băm chữa trị; thầy lang nầy hay mặc áo nâu, tự xưng là cao tăng nhưng không thuộc giáo hội chính thống, cũng là người được các giám thị ở đây tin tưởng, vì y hay bổ cho họ những than thuốc đặc trị thuộc về đàn ông mà chỉ có họ và y mới biết. Sau thời gian chữa trị đúng ba tháng mười ngày bệnh dại khởi phát, người tù thanh niên chống lại chế độ phát điên và chết. Người chữa trị vẫn tiếp tục chữa trị. Các tù nhân mới kháo nhau: con người có chín mươi chín chuyện hỏng nhưng có một chuyện chính không hỏng là thành công rồi. Mỗi cá nhân có nhiều yếu tố hợp thành, nhưng được hết mà mất cái đệ nhất nguyên nhân như Freud luận chứng cũng hỏng hết. Đó là cái dục: libido. Và Nhà sư cao tăng kia đã chữa đúng cái đệ nhất ấy.
Thiện Nam cũng chứng kiến, ở trại giam nầy có quá nhiều giáo chủ, các chủ tịch và thầy thuốc nam. Sau đây là vài sự cố xảy ra với các giáo chủ:
-   Giữa đêm khuya, có một giáo chủ bị lôi ra khỏi mùng và bị đánh một trận nên thân, không phải vì tội tự xưng là giáo chủ, nhưng mấy hôm nay ông tuyên bố tuyệt thực, rồi nửa đêm chui vào mùng ngậm mì tôm nhóp nhép khiến nhiều người khó ngủ. Bị đánh hơi nhiều, y càng thanh minh và càng bị đánh thêm vì đang tịnh khẩu mà nói nhiều. Đặc điểm giáo chủ thường phát quà cho các tù nhân mồ côi, gia đình giáo chủ thăm nuôi rất đều.
- Một giáo chủ khác đang bị quản giáo bắt quì gối xuống buộc ăn cho hết cả quầy chuối, tự xưng là lãnh đạo tinh thần nhưng cũng biết chặt chuối trộm và chôn giấu như các tù nhân khác để chờ chín rồi ăn dần. Hôm ấy bị bắt gặp, giám thị bắt ông phải ăn cho hết... Giáo chủ quì gối xuống vái lạy xin: thà vào ngồi nhà đá, chứ không thể ăn hết một lần. Đặc biệt ông có đức tính rộng rãi, luôn chia quà cho anh em nếu có.
- Một giáo chủ khác có đến mười một bà vợ, theo chính lời y kể. Y có tài thoa bóp, hầu như mỗi chiều Bảy đẩu rìu đều có hẹn với y. Theo lời các tù nhân truyền miệng: giáo chủ tự xưng nầy có nhiều tà thuật cũng như lắm trò bá đạo, nhưng có điều ai cũng thấy rõ: khi có thức ăn, y đều chia cho anh em, y cũng thường chui vào các bụi cây để thủ dâm nhân lúc giải lao, khi bị bắt gặp y giải thích: đó là cái nghiệp mà “ thầy” phải trả, những con quỷ nó cứ theo thầy, hãy cầu nguyện cho thầy. Đặc biệt ngay trong trại giam, vẫn có người không sợ kỷ luật, họ quì sạp xuống và vái lạy ông, cũng như có người đánh đá ông mỗi khi ông làm những hành vi gọi là quỷ đeo đuổi.
- Một vài nhân vật khác đêm nào cũng cầu cơ, họ giăng mùng vây kín không cho bọn tuần canh biết. Cho đến ngày kia có một bạn tù thích làm đến chức tỉnh trưởng mà cơ xuống chỉ phong làm lính gác ở quận, anh ta đã la toán lên đến tai bọn ănten... Tất cả đều bị đi cùm sau đó, những kẻ sống sót người nào cũng mang một di chứng thần kinh: lẩn thẩn, mất trí nhớ, chậm chạp, khờ khạo... Họ đã bị đánh đập dã man. Đặc điểm ai cũng thích từ thiện, chia xẻ lương thực cho người nghèo khổ.
  - Và sau đây là câu chuyện “bất hủ”, trong tù vì điều kiện thiếu thốn phát sinh đủ thứ bệnh, kể cả các bệnh tâm lý, song thuốc men cũng như thầy thuốc rất hiếm cho nên mới phát sinh ra vườn thuốc nam lấy cây cỏ làm thuốc, cùng các lang băm châm cứu xuất hiện rất nhiều. Họ từ cầm súng đến cầm kim chích thật nhanh. Bọn cai tù giàu kinh nghiệm như Bảy đầu rìu rất sành sỏi chuyện nầy: nó không mang lại hiệu quả trị bệnh nhưng ít ra chữa trị được các chứng tâm lý, nhất là không mất một đồng nào của trại giam.     
- Tất nhiên các giám thị nào cũng nhiệt tình cổ võ, và mỗi chiều sau giờ lao động về, các tù nhân nam nữ sắp hàng để được khám chữa bệnh qua châm cứu... nó nhiều đến nỗi như Bảy đầu rìu không thể ngăn được vì chính y cũng là người cổ xúy. Lý do có một thầy thuốc rất giỏi ai cũng muốn khám với ông, nhất là phụ nữ. Thế rồi câu chuyện chữa bệnh với các tình tiết được thêu dệt đến tai y: cách chữa trị, thầy châm cứu xoa bóp trên người họ, châm tê những chỗ huyệt kích thích... Mỗi buổi chiều sau một ngày lao động mệt nhọc được như thế, quả là hơn uống bao liều thuốc bổ.
    Chiều hôm ấy, Bảy Đầu rìu lẻn đi vào cửa sau phòng khám, có nội ứng vạch một lỗ nhỏ, y chứng kiến: một phụ nữ bán thoát y đang được châm tê... Chính ông Bảy nhìn thật kỹ, theo các người đi theo, ông vẫn chưa tin, rất cố dí mắt vào đến lúc không chịu nổi phải la lớn: bất hủ... bất hủ... Bảy đầu rìu đá bức rèm rồi xông vào... ra lệnh dẫn đi cùm ngay thầy châm cứu. Mọi người trong bàng hoàng không biết chuyện gì đã xảy ra mà bất hủ như thế.

* *

Các câu chuyện ở trại lao cải nó là như thế, mỗi ngày như một dòng chảy luôn qua ghềnh thác đầy khúc khủy, từ ngoài nhìn vào như một dòng chảy êm đềm: ở tù là hết, nếu còn sống đến hết án rồi trở về, nhưng cũng không có gì biến động hơn cả một dòng sông, những gì không bình thường dần dà trở nên bình thường, nó mang theo nhiều kỷ niệm trong dấu ấn đời tù của những ai đã từng bất hạnh mà qua đây. Dòng sông bao quanh trại giam, thường đầu nguồn dành cho nam giới, cuối nguồn dành cho nữ giới, mỗi chiều họ trầm mình “thanh tẩy” trên dòng sông nầy trước khi về trại giam... Vẫn chưa yên tĩnh, một vài tên cán bộ lại rơi tõm ngay giữa nơi các tù nhân nữ đang tắm, bọn giám thị nầy núp ngay trên các cành cây cổ thụ có tàn lớn đưa ra giữa bờ sông để ngắm nhìn các tù nhân nữ đang thoát y và chẳng may sẩy tay... Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra dưới bàn tay trả thù của phụ nữ.
Mỗi dịp xuân sang lại nhiều thay đổi, sau những ngày Tết, các trại giam thường xảy ra những vụ thả tù dù đã có lệnh tha trước dịp lễ, sự thanh lý các trại giam cùng việc di chuyển tù... Thiện Nam được đưa đến trại giam thuộc sự quản lý của trung ương và tất nhiên khắc nghiệt hơn. Dù vậy, trại lao cải chàng mới trải qua cũng mang lại nhiều ấn tượng trong khổ nhục, đau đớn, và một lần nữa ra đi là đã “chết trong lòng một ít”... Một nữ cán bộ khóc sướt mướt khi tiễn các tù nhân vì đã yêu một  người tù trọng án và cả hai đều tìm thấy tình yêu thật sự. Về sau người ta nhận thấy người phụ nữ nầy lặn lội đường xa đến thăm gặp người bạn tù thường xuyên, dù cho núi non hiểm trở, đường sá khó khăn để đến những nơi gọi là Thung lũng tử thần. Những cặp vợ chồng kết hôn trong tù, họ là các tù nhân tự giác nên có điều kiện giao lưu lén lút với nhau, lễ kết hôn cho các cuộc tình vụng trộm nầy là sự ra đời của các cháu bé cùng với sự trả giá của người bố phải đi nằm nhà kỷ luật ít ra là một tuần lễ. Những lá thư tình, các cuộc hẹn hò nếu bị bắt gặp cũng sẽ bị kỷ luật tùy mức độ nghiêm trọng. Và bây giờ đến lúc chuyển trại phải chia tay. Bảy Đầu rìu rất quan tâm trong việc đưa đón tù nhân, y cho bày tiệc trước lúc lên xe với bài phát biểu ngắn gọn: -Các món ăn nầy gồm xôi, thịt gà và trứng... là thành quả lao động của các anh, đến gần trung ương các anh sẽ được quan tâm hơn, sẽ sớm được cứu xét để đoàn tụ với gia đình, nên trong khi đi đường không được đào thoát, bạo loạn, nếu ai không chấp hành sẽ thiệt thân đến thiệt mạng... đó là chuyên chính vô sản. Thế rồi y hô vang các câu khẩu hiệu và tự vỗ tay như báo hiệu chấm dứt bài diễn văn tiễn biệt. Các tù nhân đã ăn rất ít nhưng gói theo hầu như gần hết.
Những chuyến xe có còi hụ bắt đầu di chuyển, cổng trại bỏ lại phía sau: hình ảnh xác các tù nhân trốn trại đang hấp hối bị hành hạ như bỏ nằm phơi nắng giữa trời, mỗi cán bộ đi ngang qua đấm đá một cái để tỏ rõ sự hận thù giai cấp; những phiên toà lưu động được mở ra thường xuyên: những cổ máy chém với các án tử hình không thương tiếc sinh mệnh con người tận chốn khốn cùng. Chiếc cổng theo thời gian cũng được làm lại nhiều lần, trở thành như nhân chứng ở đây: những kẻ giết người dù có thể sống lâu nhưng rồi lại tự giết mình, các giám thị nào ngoài chuyện hủ hoá cũng có vợ bé khiến xảy ra những vụ đánh ghen ngay tại cổng trại, như trại A30 thuộc miền Trung Việt Nam nầy, sự cố xảy ra đến nỗi các tù nhân đã phải dấu người vợ bé của viên trưởng trại ở đây tại bệnh xá trại giam trước sự truy lùng của bà lớn. Và trước sân cổng trại này, mỗi sáng chiều, hàng ngàn con người đã phải lìa bỏ gia đình, để chờ gọi lao động khổ sai mà khômg biết có ngày về.
Bên cạnh cổng trại là khu nhà kỷ luật, nơi giam giữ các tù nhân vi phạm nội qui như đánh nhau, đồng tính luyến ái, quan hệ nam nữ nếu bị bắt gặp dù chỉ là thư tín đều bị kỷ luật, hoặc nếu sinh con cái, chuyện này thường xảy ra ở đội văn nghệ, thời hậu quả người bố phải vào nhà cùm ít ra một tuần lễ. Và vào ra nhiều nhất là tội đánh cắp hoa màu, song bị cùm lâu dài là các tội danh tuyên truyền xuyên tạc, âm mưu trốn trại, hay đào thoat bị bắt trở lại.
Cách thức tổ chức của trại giam nào cũng thế, luôn có nhà kỷ luật để trấn áp các thành phần bạo loạn, cũng như đi ra ngoài các qui định. Các nhà giam riêng nầy thường ít khi vắng “khách tù”. Các phòng nhỏ xây thành dãy khin khít bên nhau với bàn cùm luôn có hai ba người ở chung. Thế nhưng các nữ tù nhân có sự quan tâm đặc biệt, họ được giam riêng mỗi người một phòng - chỉ một mình.
Chính sự một mình mới sinh nhiều chuyện, thật thế những câu chuyện rỉ tai nhau từ các tù nhân sau khi thoát ra khỏi loại phòng giam được quan tâm nầy. Kẻ nói có, người nói không về các câu chuyện đầy kinh hoàng xấu xa nơi chốn khốn cùng của con người. Đó là họ bị lạm dụng tình dục hay không, có bị cưỡng bức, hãm hiếp như thế nào... Khiến ai nghe cũng đều tỏ thái độ, nhưng các câu chuyện vụng trộm nơi giam giữ với bao tường thành vây kín chung quanh cùng âm mưu quỷ quyệt của con người rất khó mà tìm cho ra bằng chứng.
Cho đến khi có sự cố vấn của các sĩ quan đầy miêu duệ thuộc chế độ miền Nam trước đây: một nữ tù nhân tên Hoa, tuổi hai mươi đã tình nguyện giả vờ đánh cắp hoa màu của trại giam. Cô đã mang cả một thúng đậu từ nhà kho và chạy xuống bờ sông gần đó để cất giấu, và thế là các tù nhân tự giác tri hô lên. Đúng như bài toán đã tính sẵn, Hoa bị dẫn độ vào nhà cùm ngay, và không lâu, chính đêm hôm đó một nữ tù nhân không có mảnh vải che thân đã vụt chạy ra cổng trại cùng tiếng kêu lớn: cứu tôi với... chúng hiếp tôi...
Tiếng kêu thất thanh cũng không bằng hình ảnh trên thân người con gái không có áo quần... Tất cả những ai chứng kiến đều bàng hoàng cho dù có một vài cán bộ trẻ lấy làm khoái chí cười mà các tù nhân từ các phòng gần cổng trại quan sát ghi nhận. Sau đó một cuộc điều tra đã được mở ra: việc hãm hiếp những tù nhân nữ đều có âm mưu tổ chức canh gác của các cán bộ với tên tù hình sự nguyên là cán bộ được bố trí phụ trách trông nom nhà kỷ luật, theo lời khai có cả tên trưởng ban thi đua cũng dự phần, y cũng nguyên là một cán bộ tha hoá vào tù, tất cả bọn chúng trên dưới ba mươi tuổi.
Khi cô Hoa đồng ý, chúng đã mở cùm chân cho cô thoả mái, theo lời kể của các tù nhân nữ khác nếu không đồng ý, chúng vẫn cùm và thay phiên nhau hãm hiếp, nếu có tri hô lên thì chúng cho là vu oan bêu xấu cán bộ. Khi cô Hoa chiều xong tên thứ nhất, nạn nhân xin đi vệ sinh và thế là chúng đồng ý ngay, lợi dụng sự sơ hở chủ quan của chúng do nghĩ rằng cô đã không kháng cự, trong khi chúng tán dốc với nhau, Hoa đã chạy thẳng ra cổng chính trại giam... Có một sự cố với bọn cán bộ nầy là chúng toan định tháo lui cho thật nhanh nên đã để cổng ra vào nhà kỷ luật trống he hé không khóa, nhờ vậy mà Hoa đã chạy thoát thân ra đến cổng chính cách đó khoảng hai mươi mét, cô có cầm áo che nửa thân người phía trước để tránh gió lúc ra khỏi phòng cacho, nhưng nó đã bị vướng dây kẽm gai ngay cổng ra vào nên cô vứt lại luôn để thoát cho kịp kẻo chúng chụp lại sẽ khốn nạn vô cùng.
Người ta được biết các tên có liên can đều bị di lý đến các trại khác, riêng những tên cán bộ không còn nhân tính nầy được xử lý nội bộ như thế nào thì không ai rõ.
Thiện Nam đã từng bị giam giữ tại nhà kỷ luật nầy trong vòng một tháng vì lý do bị tình nghi xúi dục bạo loạn, sự việc xảy ra từ một đội trọng án tù chính trị, chàng thuộc đội trọng án khác, mặc dù không tham gia đào thoát nhưng tất cả những ai còn ở lại kẻ bị giam riêng người giam chung có cùm chân tại chỗ. Trong suốt ba mươi ngày giam cứu đó trùng dịp Giáng Sinh, giữa đêm réveillon  mừng Chúa Hài Đồng với khúc khoai mì tiêu chuẩn của buổi chiều để dành lại. Phần ăn nơi nhà kỷ luật nầy gồm một chén cơm và một khúc khoai mì cùng nước muối pha màu từ cơm cháy, song chén cơm ấy thường xuyên bị cắt xén còn hơn phân nửa để chúng chăn nuôi gà vịt quanh nhà kỷ luật gọi là cải thiện, chàng cũng nhận ra có tình trạng nuôi gửi ở đây vì ngày nào khi cho thú ăn, tên tù phụ trách ở đây cũng đọc lên chú gà, chú vịt nầy là của ông A, bà B cán bộ.
Đêm hôm ấy, đúng thật là một đêm Giáng Sinh nơi hang lừa máng cỏ, sương lạnh như hằng đêm vào mùa đông đổ xuống hắt vào khung cửa gió, các tù nhân không thể nằm với sự lạnh buốt, từng đợt sương gió đánh tạc vào như từng cơn gió tuyết thổi vào người... với củ khoai mì nhai hoài đến sợi gân tim của nó cũng nhai nốt và cảm thấy ngọt ngào làm sao. Một tù nhân hình sự nằm bên phòng chàng thì la toáng lên vì quá lạnh, quá rét, quá đói khiến y không thể chịu nổi. Có tiếng từ phòng bên cạnh động viên y hãy cố lên, vì ngoài trời dù lạnh vẫn còn nhiều sao lấp lánh thật tuyệt vời, chúng ta có quyền hy vọng... Nhưng tù nhân đang than vãn lại đáp một cách gọn lỏn: -Những đêm vui nhộn mà trời sáng như thế nầy không có lợi cho ăn trộm... Thiện Nam thấy họ im lặng. Chàng lại nhớ đến câu nói của một lãnh tụ du kích nào đó khi người yêu tỏ tình đêm nay trăng đẹp quá anh ơi... thì ông ta lại bảo sẽ không có lợi cho du kích.
Ngoài trời qua khung cửa gió nhiều sao lấp lánh thật tuyệt vời như đang tưng bừng mừng vui Chúa giáng trần mở ra Sự khởi đầu mới, song nơi đây các tù nhân đa số là tù đào thoát bị bắt lại, phần lớn họ đã mang bản án cao từ hai chục năm đến chung thân, nên tù nhân nào cũng hát vang mừng Chúa giáng sinh, xem đây như lần cuối cùng vì chắc chắn họ phải lãnh bản án cao nhất là tử hình khi ra toà.
Tiếng “Cao cung lên... khúc nhạc Thiên Thần...”, cùng lời hô vang các câu khẩu hiệu đòi dân chủ, nhân quyền... Thiện Nam từng sống chung với các bạn tù nầy, họ rất trẻ hầu hết chưa đến tuổi ba mươi, học vấn chỉ ở bậc trung học, những khái niệm về tự do, dân quyền đối với họ thật cao xa nhưng họ đấu tranh cho con người vì sự hạnh phúc, những người nghèo như bố mẹ, anh em, bà con nơi quê xứ bất hạnh của họ. Họ đáng được hưởng những gì khi sinh ra làm người như ít ra có cuộc sống không bị quấy rầy tại địa phương, những nông dân chân chất nhưng luôn bị sách nhiễu.
Các tử tù bị bắn ngay sau phiên toà lưu động xét xử, họ là những người gốc miền Trung và nổi dậy cũng tại nơi đây. Thiện Nam chứng kiến, trước cái chết các tù nhân trẻ nói giọng rặc địa phương nầy đều rất hiên ngang, thanh thản... Không ai kêu xin. Họ khí khái, dũng cảm. Không thấy ai hô hào học thuyết, tuyên xưng lãnh tụ nào cả. Và đội hành quyết, ngay cả tên trưởng trại, chánh án cũng xuất thân taị địa phương nầy. Họ từ miền Bắc tập kết trước đây, hay từ rừng chiến khu trở về.
Thiện Nam tìm hiểu, chàng biết rằng họ được giáo dục theo truyền thống yêu nước, thương nòi từ một đảng uy tín xuất phát từ miền Trung Việt Nam, có tên gọi Đại Việt

Qua các song thông gió bên trên cửa chính ra vào mỗi phòng, các tù nhân thường đứng lên dù chân đang bị cùm để vừa tập thể dục vừa quan sát ra bên ngoài. Nhà kỷ luật của trại giam nầy không giống các trại tập trung khác, chung quanh thay vì bằng tường kín, nó gồm toàn các hàng rào kẽm gai bủa kín trong ngoài, giữa các lớp hàng rào đều có một đường mòn nhỏ chừng nửa mét thả gai xương rồng mọc phủ bên trong và hằng ngày các tù được bố trí công tác nhẹ, họ chui vào đó để dọn vệ sinh, làm cỏ, quét dọn... Nhà giam kiểu nầy giống như chuồng nhốt thú dữ, ngay cả bên trên cũng bao lưới kẽm gai chèn chịt và căn chòi nhỏ với bàn cùm chỉ là chỗ cho thú dữ ẩn thân. Chuyện đánh đập xảy ra thường xuyên, các tù nhân hoặc nằm ngồi co ro bất động, hai khuỷ tay ôm sát vào người hầu tránh những cú đá ngang hông, nhiều khi cả bản súng đập nát trên lưng là chuyện bình thường. Riêng Thiện Nam, mỗi lần bị trận đòn như thế phải gần đến ba ngày sau chàng mới nhai khoai mì thấy ngọt trở lại, trước đó liền mấy ngày đều là vị đắng của lưỡi, còn các cơ trong cơ thể chàng cùng bạn hữu như đều co rút lại hết đàn hồi, không còn cử động được nữa, xương hàm như hết khả năng vận động.

* *
    
Về một hướng khác bên hông trại giam, đó là khu nhà văn hoá thông tin gồm nhà truyền thống, lưu niệm, vườn cây cảnh... Từ ngoài nhìn vào là một chuồng khỉ to tướng bao trùm như làm biểu tượng cho cả không gian rộng lớn nầy, có hết thảy khỉ mẹ, khỉ con thành bầy. Trong sân đặc biệt có nhiều loại lan rừng, đủ các loài cây cảnh với hình dáng tự nhiên mang từ rừng sâu về. Và không ai ngờ nơi thư viện của trại giam lưu trữ đủ các loại sách về chủ nghĩa cộng sản. Thiện Nam cũng nhờ qua thư viện nầy mà đọc được gần hết toàn bộ Tư bản luận mà vốn từ ngoài xã hội chỉ xem qua những bài phê bình tóm tắt, có cả Lê Nin toàn tập và các tác

 

BIỂN ĐỎ VIỆT  7vNAM
phẩm về Engels cũng không thiếu. Nhà lưu niệm thì đầy các mô hình như Suối Lê Nin, hang Pắc Bó, bến Nhà Rồng... bên cạnh những chú khỉ bị ướp khô phơi đầy nhà truyền thống. Khách thăm quan trại giam bao giờ cũng được ban giám thị, nhất là Bảy đầu rìu đưa vào thăm khu đặc biệt nầy. Thường xuyên trực ở khu lưu niệm nầy có hai nam, hai nữ được tuyển chọn vốn có trình độ từ ngoài xã hội, họ canh gác, chăm sóc cùng một cán bộ quản giáo. Mỗi tuần có cả nguyên một đội việc nhẹ phụ giúp lau chùi quét dọn chung quanh, khách thăm càng nhiều thời rác cũng nhiều theo và thường các phái đoàn chỉ thoáng qua rồi đến nhà khách trại giam ăn uống là chính, song đáng chú ý là lần nào dọn vệ sinh cũng thấy đầy bao cao su - capot - rơi vãi quanh các phòng của khu nầy. Các tù nhân rất hài khi thấy nó và bàn về chuyện nầy, một vấn đề quan trọng song tế nhị của con người mà họ đã bị án treo từ nhiều năm qua kể từ khi vào tù. Họ kiềm chế và cười với nhau qua ánh mắt: quả là ở đây có một nét sinh hoạt riêng của văn hoá bao cao su - văn hoá capot.
Khách thăm quan cũng thường được mời đến xem chuồng lợn cách khu văn hoá không xa lắm, họ sẽ được giới thiệu về thành quả lao động của ban giám thị và trại viên, ôi những chú heo to tướng trên cả tạ hơn chục con khiến ai cũng khen đáo để về tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong việc cải tạo con người... Nhưng chỉ có tù nhân cải tạo lâu năm ở đây mới hiểu rõ, đó là những con heo đã nuôi từ khi thành lập trại đến nay, có con hơn năm bảy tuổi, những con nầy có nanh rất dài trông khuôn mặt chúng giống với mặt quỷ như chúng ta thường tưởng tượng, cũng từ đó mà có nhiều câu chuyện thêu dệt từ những chú heo nanh dài mà quỷ đã nhập vào như mỗi đêm chúng nghiến răng thì phao tin là quỷ xuất hiện và nói chuyện với nhau ở chuồng lợn... Con người vốn hiếu kỳ, nên mỗi khi có dịp ngang qua chuồng lợn, họ thích chạy nhanh vào xem những chú lợn ban ngày là heo mà ban đêm là quỷ. Ở trại giam thì bất cứ chuyện gì cũng có thể kể cho nhau nghe hầu qua ngày tháng nhất là những chuyện tiếu như thế, rồi rỉ tai nhau đến cả buổi trưa thỉnh thoảng quỷ cũng nhập nữa, nghĩa là quỷ chỉ đến vào những thời điểm có ít người, giờ mà các tù nhân phần lớn đã bị nhốt vào chuồng, chỉ còn tù tự giác ở bên ngoài. Những phụ nữ phụ trách khu chăn nuôi hầu hết là tù hình sự như giết chồng, cụ thể như cùng tình nhân dụ chồng ra mương rẫy rồi cùng ném đá cho chồng chết, giết chồng để trả thù đàn ông và nhiều trường hợp hãm hại đàn ông khác cũng như cố sát trẻ em để chiếm đoạt tài sản... Câu chuyện quỷ xuất phát từ chuồng heo nầy nhiều nhất, và khi được hỏi có bà nào thấy quỷ chưa, một phụ nữ to lớn sắc nét, còn duyên đẫy đà trả lời nhanh như bắt ngay hồn người khác: -Chình em là quỷ đây... Anh nào muốn biết... Sẽ biết.
Bên dưới các khu nầy là dòng sông uốn lượn bao quanh với nhiều bóng cây cổ thụ lâu năm thật mát mẻ, viên phó giám thị ở đây đã cho xây dựng một căn chòi có hình chiếc ghe với đầy đủ tiện nghi để mỗi trưa y xuống nghỉ ngơi, mặc dù được thiết kế ở vị trí kín đáo nhưng từ xa trên các đồi bên kia dòng sông có thể trông thấy nó như một chiếc thuyền trên cạn. Y thường xuyên an nghỉ ở đó, có tù tự giác lo phục vụ chu đáo, và dù là buổi trưa nhưng vẫn có người bị gọi đến làm việc hay xin làm việc riêng để nêu vấn đề gì đó. Trong số những người hẹn gặp rồi lui tới luôn mỗi trưa khiến nhiều người để ý, đó là một phụ nữ đã giết chồng và tự giới thiệu: em là quỷ đây. Mọi sự đến tai Bảy đầu rìu, vốn quen bắt nóng ông ta đã tóm gọn dâm phụ với tên giám thị đang trong cảnh trụy lạc trên “du thuyền chòi”. Viên giám thị phó nầy cũng có tên là Hợi, trong tiếng Việt có nghĩa là heo, theo các tù tự giác thuật lại: khi chộ cảnh đấy, ông Bảy la toán lên, dù con mắt ti hí rất nhỏ nhưng nở lớn lên màu máu đỏ: -Đúng mày là lợn chỉ vỗ béo rồi làm thịt... Các tù nhân chỉ được biết y bị đưa về nguyên quán ở miền Bắc. Cũng không ai biết sẽ có bao nhiêu người Sẽ Biết như lời người dâm phụ.
Khu lưu niệm cùng khu nhà lợn đều xây dựng toàn lá tranh vách nứa, rất gọn gàng song thường xuyên phát sinh nhiều bọ cạp khiến heo con không thể chịu nổi nên được nâng cấp thành mái ngói, nền xi măng, còn nhà văn hoá vẫn vậy, từng dãy phòng với các mái tranh được cắt xén công phu, cùng với các cây kiểng đầy sự uốn lượn do chính bàn tay của các nghệ nhân nay vào tù chăm sóc không ngoài sự tượng hình theo chữ Hán như Tâm, Tài, Nhật, Nguyệt, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín... khiến thoạt trông thật bắt mắt đến nỗi mỗi chiều sau giờ lao động trở về, ai nấy đều trong mệt mỏi song cũng muốn nhìn qua dù chỉ là sự mô phỏng cảnh quang, ít ra sự làm hề của những chú khỉ cũng mua vui vào những giây phút cuối ngày với biết bao trần ai khổ nhục trong một ngày.

* *
    
Đối diện với cổng trại là sân vận động, có sân khấu lộ thiên, nơi tổ chức những buổi trình diễn văn nghệ mỗi tháng một lần. Tù nhân bị bắt buộc phải tham dự, dù là đau ốm vì theo tuyên bố của Bảy đầu rìu: đó là sinh hoạt tinh thần không thể thiếu được trong việc nhận thức của con người. Thế nhưng thâm sâu chỉ là những cuộc tẩy não nên những tù nhân nào trốn ở nhà đều bị qui kết vào tội chống đối. Điều đáng ghi nhận là không lần biểu diễn văn nghệ nào mà không có tù nhân trốn trại dù cho sự canh gác rất chặt chẽ và thường là bình an.
Trại giam nào cũng tổ chức riêng một đội văn nghệ, gồm phần lớn là các thuyền nhân bị bắt lại. Họ chỉ lo tập dợt trình diễn những bài hát gồm toàn của thời chiến tranh, kể cả các đoàn kịch nghệ từ bên ngoài xã hội được mời đến với nội dung: trong hận thù và trả thù.
Người ta cũng nhận thấy Mộng Lành, một nữ thuyền nhân và là nạn nhân trong vụ Trần Xuân cũng có mặt trong đội văn nghệ thuộc trại A30 nầy . Như thế là cô phải vào tù sau lần được Trần Xuân thả ra và buộc tiếp khách, bây giờ theo nhiều người được biết sau lần ra toà với Trần Xuân bị tử hình, còn cô với bản án tập trung vô thời hạn. Tù nhân trong đội văn nghệ mỗi người trong ý hướng khác nhau, kẻ muốn đốt ngắn thời gian để về đoàn tụ với gia đình, người khác cốt tránh lao động khổ sai, kẻ lợi dụng sự rảnh rỗi sau các giờ tập luyện mà học ngoại ngữ... song cũng lắm kẻ si tình cố đấm ăn xôi vào đây vì đội văn nghệ bao giờ cũng tuyển các tù nhân nữ rất đẹp, có người không biết tí gì ca hát chỉ xin được dù là kéo màn. Cụ thể có một cán bộ cộng sản khi thụ án chỉ xin được vào đội văn nghệ dù đồng chí không có năng khiếu gì về văn nghệ cả, nên nguyện vọng là giữ đạo cụ hoặc đảm trách việc khói lửa, kéo màn cũng tốt... Và nhờ có lý lịch nguyên là đảng viên, do đó được giao phụ trách an ninh, một chức vụ rất quan trọng để canh chừng phát hiện các tù nhân có âm mưu trốn trại. Thế là mộng ước của anh ta đã thành sự thật, tù nhân nầy đã có con với một nữ đầu bếp trong đoàn và một chú bé trai thật kháu khỉnh chào đời trong trại giam mà ai đó từng qua trại A30 nầy đều rõ. Sau một tuần kỷ luật để trả cái giá cho việc lên chức cha, anh được chuyển sang đội khác không còn tự giác nữa. Các tù nhân kháo nhau về anh, và có dịp yêu cầu đồng chí phát biểu cảm tưởng, tù nhân nầy tỏ ra rất lạc quan nguyên văn: -Cảm ơn Đảng đã cho tôi một mùa xuân, suốt cuộc đời theo Đảng nay nhờ lý lịch mà được vào đội văn nghệ tôi mới thấy được mọi thứ, khi kéo màn tôi giả vờ leo lên sửa dây kéo và xem được tất cả... thật tuyệt vời, ôi xin cảm ơn. Và không hổ thẹn y kể lại mọi chuyện cho ai nấy cùng nghe.
  Riêng các trại chỉ có tù nhân nam, đội văn nghệ gồm toàn thanh niên trẻ đẹp trai, bọn chúng giả gái nhiều khi duyên dáng còn hơn cả phụ nữ chính hiệu. Và thế gian lại như thị, những vụ đánh ghen còn dữ dội, và yêu nhau nhặng xị giữa các đấng mày râu, các tù nhân gọi đó là pê đê thời cuộc, nghĩa là nó không phài do gene, nhưng xảy ra trong tình huống thiếu phụ nữ.
Bảy đầu rìu rất quan tâm đến truyền bá tư tưởng và bảo vệ phụ nữ, theo lời các thuộc cấp tán dương, y không bỏ sót một buổi diễn tập nào. Các nữ tù nhân biết thế nên rủ nhau ăn mặc hớ hênh khiến ông càng khom người xuống mở mắt thật lớn mà kiểm tra các vũ nữ mỗi lúc những điệu múa dồn dập tung cả quần áo lên. Cả trại đồn ầm lên về chứng thị dâm nầy của y, và các tù nhân lại thích cách thế mà ông duyệt các vũ nữ gấp nhiều lần hơn là xem văn nghệ, vì thật sự nghệ thuật chỉ có ở những nơi con người diễn xuất phát tiết ra hết từ sinh năng của chính mình.

* *
    
Đoàn xe di lý tù bắt đầu chuyển bánh chầm chậm trước khi vượt ra khỏi khu vực rộng lớn của trại giam, bỏ lại phía sau với những hồi còi hụ inh ỏi, dãy nhà kho và chế biến lương thực với từng ngăn chứa các loại hoa màu khác nhau: ngô, khoai, thóc, lúa, đường, mật, đậu, chuối... do chính các tù nhân làm ra. Nhà chế biến có không gian rộng hơn cả với hàng chục cối xay lúa bằng tay theo lối cổ truyền để bóc vỏ lúa của người Việt Nam, mỗi lần đổ vào từng mẻ khoảng nửa thúng lúa rồi xay dần. Tù nhân trọng án hoặc các sĩ quan cao cấp còn trong giai đoạn quản chế chặt chẽ được sắp xếp vào những công việc nầy. Có một đội thường trực chuyên xay lúa, dã gạo hằng ngày để cung cấp cho toàn trại, những công việc mà nếu có máy xay chỉ giải quyết trong vòng vài tiếng đồng hồ, thời ở đây phải cần đến ba bốn chục tù nhân làm việc thật vất vả suốt cả ngày không ngơi nghỉ. Thậm chí có ngày không đạt chỉ tiêu vì các cối xay hay trục trặc, tù nhân phải bị phạt và hình thức cao nhất của loại nầy là không cho tắm rửa vào cuối ngày. Thế là các tù nhân chỉ còn biết phủi bụi cám theo tiếng quát của quản giáo vào đội ngũ trở về phòng giam, một đoàn người lếch thếch mệt mỏi, bột cám bám trắng trên tóc cùng mặt mày như trắc lên một lớp mặt nạ bụi trần.
Họ đi qua chuồng khỉ và có người ví von những chú khỉ còn sạch sẽ hơn tù, chúng còn yêu nhau, vuốt ve cho nhau nữa khiến ai cũng nghĩ về gia đình và quên đi tất cả.
Đêm hôm đó quả là một đêm không yên lành, dù mọi người đều cố vơ vét dùng nốt số nước dự trữ trong phòng riêng để làm vệ sinh, nhưng các thứ vỏ lúa, bột cám, bột mì tạo nên sự khó chịu mà càng gãi càng ngứa. Song rồi ai cũng thiếp trong mệt nhoà và một ngày mai lại tiếp tục không xay lúa cũng bồng em: đập đá, chẻ đá, khiêng đất, khuân cây từ rừng sâu về xây nhà... Mọi công việc tưởng chừng có kinh qua sự đoạ đày mới hiểu hết phần nào thân phận nô lệ xưa. Song thời cổ Ai Cập còn có các kiến trúc sư để lưu lại những công trình như ngày nay, còn các thiết kế sư của giai cấp vô sản nếu có mất là mất cái quần lót, nên nếu có còn có lẽ cũng chỉ còn cái quần đã rách tả tơi.

* *
    
Đoàn xe phóng nhanh với những hồi còi hụ liên tục, những nơi mà mỗi con người như đang nhớ về bao ký ức vừa trải qua, giọng nói đầy ưu ái của các viên giám thị ở đây: các anh có đầy đủ chén bát để lãnh thức ăn vào những ngày lễ lớn như thế nầy hay không... Mà thực tế chỉ vài miếng thịt heo mỡ khiến ai nấy cũng buồn cười, với người Á đông đôi khi những điều không nói lại tế nhị hơn. Trại giam họ vừa rời khỏi vốn giam giữ các sĩ quan tập trung thuộc chế độ miền Nam trước đây cao nhất là cấp đại tá, cũng có các viên chức cao nhất thuộc hàng tỉnh. Thiện Nam nhớ mình đã gặp lại hai viên chức nguyên là Chủ Tịch Hội đồng Tỉnh thuộc miền Trung. Vị thứ nhất ngày trước áo mão bảnh bao thế nào thì ngày nay tàn tạ làm sao, cũng áo mũ nhưng là áo chắp vá từ bao cát, nón lá phai màu, có cả râu nhưng là râu lởm chởm, nước da hồng hào ngày nào và chỉ tiếp những ai có hẹn trước, còn nay xanh xao như tàu lá cộng thêm cái sợ hãi đến mức không còn nhận ra con người. Ông nhìn ra Thiện Nam ngay, vì vị nghị viên hay đến gia đình chàng để vận động trong những dịp bầu cử. Nhưng cũng vừa nhận ra ông liền thốt lên: -Tôi đã quên hết chuyện xưa rồi, anh còn nhớ gì không, thôi đừng nhắc lại quá khứ, hãy để cho tôi yên.  Không biết vị Chủ tịch sẽ thọ bao lâu vì trông ông sa sút tinh thần đến thảm hại, đầy ám ảnh sợ hãi cùng bệnh tật. Đó là vị Chủ tịch Hội đồng Tỉnh Khánh Hoà.
Vị thứ hai, Chủ tịch Hội đồng Tỉnh Phú Yên, trông ông nhanh nhẹn như ngày nào và mọi sự nhờ vào khoa nói của mình, cụ đã chuyển nghề thành Thầy thuốc Nam, làm trưởng phòng thuốc Đông Y của trại giam và sự sợ hãi trong ông khiến ta không hiểu được con người tại sao mau thay đổi đến thế. Có cả viên Thiếu tá Trưởng ty cảnh sát của vùng nầy tên Lãm mà ánh mắt của y nhìn các bạn tù như ánh đèn pha truy quét kẻ thù, ai cũng sợ ông và cố tránh xa để khỏi mang hoạ vào thân, những bản báo cáo đầy thêm bớt của y khiến nhiều người bị cùm, bị đánh đập gần chết.
Có cả “con hùm xám” của miền Trung, Nguyễn Liệu ngày xưa ngoài đời hùm hụp đấu tranh làm sao thì nay trong tù cũng vậy, ông chịu khó làm việc để không ai còn để ý, nhiều bạn tù gốc miền Trung đều kính trọng ông, tuy nhiên cũng có một số các sĩ quan luôn chống lại ông, con người một thời huyền thoại về sự khẳng khái chống tham những và nay huyền thoại này có còn mong ước đựợc bao lâu…
Quan điểm của Thiện Nam, Họ là những con người rất đáng kính ngày nào, nhất là đối với gia đình chàng, nhưng nay quả như câu hỏi của một lãnh tụ Á Đông nào đó khi tuyển dụng nhân sự: Nó đã kinh qua nhà tù hay chưa. Với bao sĩ quan khí khái và các tù nhân lương tâm can đảm ít ra là trong liều thuốc nhẫn nại để luôn tìm sự khởi đầu. Song với những con người kia, có lẽ đã có sự kết thúc mà sẽ không bao giờ có sự khởi đầu.
Những bài học nầy với Thiện Nam, nó trả giá quá đắt mà không đáng để phải học về tính thể của con người, một khi nó được phơi bày về những cái không thiện.

 

* *