Ngày ấy, Cha tôi không về…
Nguyễn Quang
Nghe tiếng kẻng là sợ, đó là đặc điểm của các trại lao cải. Những chuyến xe bịt bùng chở đầy các tù nhân gồm những người thụ án hay không đủ yếu tố buộc tội bị chuyển sang chế độ tập trung được đưa đến có khi hàng ngày, hàng tuần... Quang cảnh trại giam nào mới thoạt nhìn vào cũng bắt mắt: sạch sẽ, nhiều hoa, nhiều hàng rào với bót canh nghiêm ngặt.
Xa xa nhìn lại trông nó giống như cơ ngơi của một lãnh chúa và thật vậy, những ai đã từng trải qua các trại tập trung trong chế độ cộng sản đều nhận thấy điều nầy: các trưởng trại giam giống như các lãnh chúa, có nô lệ là các tù nhân lao động khổ sai, có đất đai để canh tác và bộ đội để đốc thúc nô lệ, nhất là với cả một nhà nước đứng sau bảo hộ.
Các trưởng trại giam khét tiếng rất giàu kinh nghiệm triệt hạ con người, chúng được gọi với danh xưng ban này nọ trước tên riêng. Đây là một tầng lớp cai trị có tính khí khác người như luôn luôn la hét, quát tháo, hô vang các khẩu hiệu và tự vỗ tay tán thưởng, những con người không thích đi chung với vợ, nhưng được mệnh danh rất gần gũi với phụ nữ, như Bảy đầu rìu, nếu có vợ từ quê lên thăm, các tù nhân quan sát: y luôn đi xa cách vợ ba mét... Đó là sự thực. Các trưởng trại giam dường như đều có cùng bản chất giống nhau, theo các nữ tù nhân, không một người nào có chút nhan sắc mà chúng tha mạng, ngay cả với các nữ nhân viên đã từng qua tay chúng, những phụ nữ nầy đều được thu xếp để lấy chồng cũng là cán bộ ở đó. Đối với các tù nhân không thể giết được, chúng tìm mọi cách triệt hạ về danh dự, uy tín, đan cử như nhiều sĩ quan chế độ cũ đã không chịu làm đơn xin ngủ đêm với vợ, thế là chính các giám thị trưởng nầy đã trực tiếp bảo gia đình làm đơn rồi y phê duyệt... Ai lại không thích đoàn tụ gia đình dù trong chốc lác, nhưng sau đó là những màn rêu rao nói xấu về các sĩ quan ấy đã quì lụy, van xin.
Và còn có cả “ngôi làng tình thương” nằm cách xa trại giam vài dặm, các tù nhân gần hết án nếu chịu đồng ý định cư tại đây sẽ được tha trước thời hạn. Có nhiều sĩ quan không biết đường lao lý của mình sẽ kéo dài ra sao, vì lệnh tập trung là thứ án chung thân không tuyên bố, nên họ đã thử làm cách nầy, họ được cấp đất, giúp làm chòi để gia đình sinh sống. Và theo thời gian nhiều người cùng gia đình đã biến mất khỏi làng tình thương.
Một phụ nữ trạc tuổi bốn mươi dẫn theo tám người con đến tại nhà thăm gặp các tù nhân, không phải để thăm chồng, cha của các cháu, vì những gì mọi người quan sát thấy cũng như qua lời bà: -Đâu có gì mà thăm, với tám miệng ăn tôi cũng không biết tìm đâu để nuôi chúng, nên nay mang lên đây giao cho bố chúng nó đang bị giam giữ, vừa cải tạo vừa nuôi chúng. Tôi tuy chưa già nhưng lê lếch bươi chải đào xới trên các vùng kinh tế mới hơn năm năm qua, nay đã kiệt sức, tôi tưởng rằng chỉ ra đi có mười ngày như lời hứa ban đầu của chính quyền cách mạng, nhưng rồi năm mươi ngày, một trăm ngày, rồi ba năm... nếu chết thật đã xả tang từ lâu lắm song tiến gần đến năm thứ mười rồi mà vẫn chưa thấy tin tức về sự trở về của bố chúng cháu gì cả. Nhà cửa bị tịch thu, đồ đạc thì bán tống bán tháo ra chợ trời để sống qua ngày và một khoảng thời gian lâu dài các cháu lang thang trên những vùng đất mới khai hoang không trường không lớp.
Ban giám thị lần lượt hết người nầy đến người khác động viên, thuyết phục hứa chồng bà nguyên là sĩ quan cấp tá trong chế độ miền Nam trước đây sẽ được tha vào một ngày không xa. Nhưng lần nầy người phụ nữ cùng các con quyết ăn vạ, không chịu về và tuyên bố rõ ý định của mình: -Trở lại kinh tế mới cũng không có gì ăn, thà ở đây phụ cải tạo tạp dịch quanh trại giam kiếm cơm cháy cốt sống qua ngày chờ chồng được tha. Viên giám thị trưởng đã gặp, quả thật theo lời y: trong suốt mấy chục năm giữ tù, chưa từng gặp trường hợp nào như thế. Và người ta được biết những ngày tiếp theo đội nhà bếp được lệnh mang cơm cho các cháu dùng bữa, các tù nhân làm anh nuôi cũng gốc là sĩ quan lại bỏ thêm cho chúng nhiều lớp cơm cháy.
Ngôi làng tình thương đã ra đời để giải quyết một trong các trường hợp như thế. Một toán trẻ thơ khác, không có mẹ hiện diện, nhưng chúng biết rõ tên, cấp bậc sĩ quan của cha đang bị giam giữ ở đây. Sau đó ban giám thị cũng giải quyết với những lời cam kết của người bố và cả gia đình kéo nhau lên làng tình thương. Trường hợp nầy khi nghe kể lại ai cũng thương tâm: các cháu kéo lên với bố vì chúng không còn biết nương tựa vào đâu khi người mẹ cố thăm nuôi chồng cho kịp kỳ hẹn trong lúc đang bệnh, nên khi trở về phát bịnh nặng và qua đời bỏ lại bầy con thơ... Trong áo tang màu trắng thật sự chúng chỉ lên thăm để báo cho cha chúng về mẹ đã chết, thế nhưng chúng cứ nấn ná ở lại vì nơi đây còn có cha, trở về nhà không biết sẽ sống làm sao với số tiền phúng điếu mẹ đã gần hết trên đường tìm cha.
Ngôi làng tình thương cũng gồm nhiều gia đình các sĩ quan thật sự đã có lệnh tha, nhưng ban giám thị muốn giữ chân họ ở lại, nên rào trước đón sau như hứa hẹn tha trước thời hạn nếu ai đó chịu ký giấy ở lại ngôi làng tình thương. Bên cạnh đó nhiều sĩ quan muốn thử xem mình sắp được tha hay chưa vì lệnh tập trung sẽ kéo dài vô chừng, vậy cứ làm đơn rồi hạ hồi phân giải.
Các khu kinh tế mới được tổ chức như thế nào, làng tình thương cũng thế, nhưng sự quản chế chặt chẽ hơn. Các tù nhân dù đã có lệnh tha nhưng muốn đi đâu đều phải làm đơn xin phép ban giám thị trại giam. Nó toạ lạc cách trại lao cải không xa lắm, bên dưới một triền đồi gần các suối chảy về con sông nhỏ bao quanh trại giam. Các căn chòi đều làm bằng vách nứa, lợp lá tranh, bên trong có giường cũng bằng phên tre đóng chặt theo các trụ cột và thường các cơn lốc rừng kéo bay các mái chòi nhưng giường vẫn còn lại . Giữa nhà đều có bàn bằng gỗ hoặc các gốc cây cổ thụ đã được cưa ra mang từ rừng về, không ai thấy các vật dụng cho tiện nghi một chút trong các căn chòi nầy như xoong nồi một cái, chén đũa vài cái... Trông toàn cảnh và từng căn thật trống vắng dù cho có sự giám sát chặt chẽ, trại giam có phát gạo trợ cấp trong giai đoạn đầu. Trên các mái nhà thời thả đầy dây mướp, trước sân cũng như chung quanh bờ rào toàn là khoai mì, một thứ lương thực chính cứu đói của cả nước vào thời kỳ nầy .
Cái nóng ở đây như muốn lột da đầu, khiến các tù nhân liên tưởng đến cái nóng do hơi người phát ra trong các phòng giam tập thể như có hơi ngạt , cả hai nơi mồ hôi đều chảy ra ướt sũng trên thân người; các cư dân ít ỏi của vùng nầy thì người khô đét lại, còn các sĩ quan vốn có trình độ thì hiểu ra rằng nơi đây mới thấy rõ sự tăng dần nhiệt độ của địa cầu. Hai tâm trạng khác nhau, những gia đình người dân tộc sống rải rác trên các triền đồi- họ yên phận; còn các công dân hạng hai bị cưỡng bức định cư thì nghĩ rằng tất cả chỉ là tạm thời. Thế giới nầy không phải của ta. Thế giới thật của ta quả là không phải ở miền Sơn cước. Thế giới thật ở một nơi ta đang bị tước đoạt. Người nào cũng mơ về cố quận. Và quê xưa chốn cũ nếu tìm lại được sẽ chỉ là cố quận bên kia cố quận .
Các tù nhân cũng nhận ra nền của một Ngôi Thánh đường được xây bằng gạch rất chắc chắn, chiến tranh đã làm hoang phế và nay hòa bình nhưng thực tế cấm đạo nên không ai được phép trùng tu. Ngôi nền tọa lạc tại ngã ba đường vào trại giam và lối rẽ lên triền núi. Theo các tù nhân người địa phương: chính các Cha Thừa sai đã đặt chân đến đây và họ còn nhớ ông bà đã thuật lại rằng có Linh mục người Pháp thường xuyên đến vùng nầy để phát thuốc sốt.
Vào mùa đông, thời ai cũng sợ, không phải sợ lạnh vì trên thế giới còn nhiều nơi lạnh hơn song con người vẫn chịu đựng được, nhưng sự sợ hãi trùm lên mỗi người khi khí hậu thay đổi đột ngột, khoảng từ chín giờ tối đến giữa khuya, khiến hầu như tất cả những ai bị hen suyễn, lao phổi, bao tử đều lên cơn dữ dội. Nhiều tù nhân mắc chứng suyễn kinh niên với những cơn thở dốc lấy hơi lên suýt mất mạng!
Con người thời đồ đá đó đã biến các công dân miền Bắc đau khổ biết dường nào qua cuộc cải cách ruộng đất, các phong trào đấu tố lẫn nhau, xô đẩy thanh niên vào cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, và nay những nhà lãnh đạo cũng trong bản chất đó muốn biến các người miền Nam phải chịu đoạ đày hầu trở nên ngang tầm thời đại về tính mê mờ, lạc hậu. Lịch sử trong một giai đoạn nơi bộ lạc người nào đó không còn là sự sáng tạo mà chỉ là sự ghi chú những ngớ ngẫn của con người.
Người mẹ và tám đứa con với các thủ tục bảo lãnh, cam đoan cho chồng an tâm định cư ở lại lập nghiệp nơi làng tình thương. Sau một tuần lễ các cháu biến mất về thành phố vì lý do sốt cao, chúng sốt thật và có vào bệnh xá trại giam để xin thuốc điều trị. Nhưng thuốc ở nhà tù chỉ toàn rễ cây nên chúng không chịu uống. Và với lý do chính đáng xin trở về để chữa bệnh, hình như các cháu đã không trở lại cho dù viên trưởng trại cũng như chính quyền địa phương có hứa sẽ thiết lập mái trường tình thương .
Quý ông chồng vẫn trụ lại để làm tin, hầu như khi nhận được lệnh tha đến khu làng nầy, không ai còn sức khoẻ để mà canh tác nữa. Hết thảy những nạn nhân trong chế độ lao tù cộng sản lúc cầm giấy phóng thích ra khỏi cổng trại đều có cảm giác như là phép lạ. Và những gì đã xảy ra từ tiếng kẻng, những tờ kiểm điểm, đày đọa, nhục hình... có lẽ sẽ còn ám ảnh trong suốt cuộc đời còn lại của mỗi người.
Những bà vợ thì chạy đi chạy về nơi chốn cũ cùng lên xuống chỗ chồng mình đang bị quản chế. Riêng các con trẻ được sống trong hai thế giới: một nơi có trò chơi điện tử với công viên cây cảnh nước phun đầy ánh sáng... và một thế giới chỉ duy chiếc đèn dầu hiu hắt song có nhiều đom đóm, không có máy điều hoà nhưng sương lạnh đến ướt cả chăn vào ban đêm. Một đứa trẻ thốt lên với mẹ: -Ở đây có muốn ăn mày cũng không biết xin ai... Thế là bố nó bảo: -Nhưng sẽ có nghề ăn trộm đấy con à... không ai có gì để cho vì thóc lúa, mía đường, toàn bộ hoa màu là của nhà nước. Nên sau nhiều năm lao cải ở đây, ba được biết dân chúng có nghề ăn trộm của nhà nước hay hợp tác xã rất chuyên nghiệp. Tất cả cùng cười trong ánh đèn chớp loé, phụt lên phụt xuống như có pha lẫn thêm hợp chất nào khác và tiếng vỗ tay lốp bốp thật đều nhưng không phải để tán thưởng câu chuyện song là tiếng xua chụp muỗi.
Ban ngày những con trẻ lớn nhỏ đều phụ bố mẹ trồng khoai mì, chúng nhớ lại khi đất nước thống nhất học sinh theo thầy cô đi trồng khoai và nhặt giấy vệ sinh để làm kế hoạch nhỏ... ở đây môi trường sạch hơn và dường như không có giấy loại ấy. Trong thời gian ngắn sống tại khu làng tình thương, chúng cũng nhận ra các bạn trẻ quanh vùng không được học hành, vì trường quá xa và bố mẹ hầu như sinh chúng ra để cùng tồn tại mà thôi. Những con người chân chất nầy không bao giờ sống no đủ, tất cả nếu có đều của hợp tác xã, chẳng may vào những mùa thất thu, với công điểm của họ cộng lại chia đều thật buồn cười, tất cả sự lao lực của mỗi người chỉ là công dã tràng, song các xã viên đều nhận ra các Bí thư, Chủ tịch hợp tác xã, Chủ tịch xã lại béo lên. Nên dù còn tấm bé nhưng qua lời bố mẹ chúng đều nhận biết: ở đây muốn có cái no hằng ngày chỉ việc ăn cắp lương thực, nhất là hoa màu của trại giam vào ban đêm ít ai thật sự trông nom.
Con trẻ ở đây rất tình cảm với tù, không như các thiếu niên nhi đồng và người lớn ở miền Bắc, họ ném đá vào tù nhân ngay cả trên đường di lý. Con trẻ nơi này biết phân biệt thiện ác, cái thiện của “nhân chi sơ tính bổn thiện”, nhưng xem chuyện ăn cắp không thuộc về tội lỗi, vì theo lời chúng: các ông nội ở trên mới là trộm chúa, nếu mình không biết chôm chỉa tí ít thì chỉ có thác thiêng, nên chúng thật tự nhiên trong những việc làm bắt đầu có sự gian dối.
Ngôi làng tình thương vắng dần, vắng dần và khi các sĩ quan miền Nam được thả đồng loạt, thế rồi các viên chức đi tiên phong xin định cư ở ngôi làng nầy cũng rút dần. Theo tiêu chuẩn định cư nhân đạo của chính phủ Hoa kỳ: các thành phần từng cộng tác với họ trước đây, các vị nầy nếu còn sống có lẽ đã lập nghiệp trên vùng đất mới và cũng không ai chắc gì dễ quên làng tình thương đã có lần đi qua trong chốn bất hạnh tận cùng của đời họ. Một khi thế gian nầy nói quá nhiều về tình thương và nhân danh chúng: Tất cả chúng ta đều muốn bỏ chạy .
Nguyễn Quang
*Trích đoạn từ tác phẩm Biển Đỏ VN, cập nhật ngày 18-9-2010
*Bảy Đầu Rìu tên của Trưởng trại A20 - Xuân Phước, rồi A30 - Cổn Sơn, Tuy Hòa, Phú Yên, do tù nhân gọi để nói lên sự gian ác của y. Tên thật là Nguyễn Văn Bảy.
Trại tù Xuân Phước -Thung lũng tử thần.